Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 34. Phần V – Chương 3 – Tạp Pháp

Ngũ Phần Luật – 34. Phần V – Chương 3 – Tạp Pháp

CHƯƠNG III : TẠP PHÁP

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

1. Ăn chung
[169b07] Đức Phật ở tại thành Vương Xá. Bấy giờ, các Tỳ-kheo cùng bạch y ăn thức ăn đặt chung trong cùng một đồ đựng, tay va chạm nhau, nên phải rửa mãi. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên cùng bạch y ăn chung trong cùng một đồ đựng.”
Có Tỳ-kheo đến nơi nhà bà con, bà con nói: “Chúng ta chẳng phải ai xa lạ, cũng chẳng phải là bất tịnh, sao không cùng ăn chung với nhau?!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép hệ niệm tại tiền, để cùng ăn với nhau, chỉ đừng nên khiến cho tay va chạm nhau.”
Có Tỳ-kheo cùng bạch y ăn chung thức ăn trong một đồ đựng nhỏ nên tay va chạm nhau, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép tay bên tả cầm đồ đựng mà ăn.”

2. Kính lễ và không kính lễ
Các Tỳ-kheo khi ăn kính lễ nhau. Khi Tăng ăn, khi ăn cháo, khi ăn trái cây, khi đi kinh hành, khi không mặc ba y, khi trời tối, khi không cùng nói chuyện kính lễ, giận nhau, nơi chỗ vắng kính lễ, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Những lúc ấy đều không nên kính lễ, vị nào phạm, phạm Đột-kiết-la.
Có 5 hạng người không nên kính lễ: Người bị Yết-ma quở trách, Yết-ma khu xuất, Yết-ma y chỉ, Yết-ma cử tội và Yết-ma hạ ý. Lại có 5 hạng người không nên kính lễ: Người bị cử, bất cọng ngữ, cử Bổn ngôn trị, Tỳ-kheo-ni, Sa-di.
Lại có 5 hạng người không nên kính lễ: Người cuồng tâm, tán loạn tâm, bệnh hoại tâm, bạch y và ngoại đạo.
Lại có 5 hạng người không nên kính lễ: Người Biệt trú, nên hành Ma-na-đỏa, hành Ma-na-đỏa, Bổn nhật, A-phù-ha-na.2
Có 5 hạng người nên kính lễ: Phật, Phật Bích-chi, như pháp Thượng tọa, Hòa thượng, A-xà-lê.”3

3. Dao
Khi ấy, các Tỳ-kheo để tóc dài, tâm không vui sống với đạo, có người hoàn tục, làm ngoại đạo. Các bạch y chê trách nói: “Chúng ta là kẻ bạch y để tóc dài, Sa-môn Thích tử cũng lại như vậy, có khác gì đâu?! Chỉ mặc áo hoại sắc cắt rọc mà thôi sao?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên để tóc dài, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo cạo tóc nơi chỗ làm thức ăn, cho đến giảng đường, trong ôn thất, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm như vậy. Nếu vị nào già bệnh không thể chịu lạnh thì cho phép cạo tóc trong ôn thất.”
Khi ấy các Tỳ-kheo cạo tóc theo thứ tự, bạch Phật, [169c01] Phật dạy: “Khỏi phải theo thứ tự, nếu có việc gì gấp thì cho phép cạo trước, không việc gấp thì người nào gội trước cạo trước.”
Có các Tỳ-kheo cạo tóc khắp nơi trong sân rồi không quét dọn, bạch Phật, Phật dạy:
“Nên cạo một chỗ, cạo rồi phải quét dọn, bỏ trong nước, bỏ trong lửa hay là chôn. Nếu không có thợ cạo thì Tỳ-kheo có thể cạo, cũng cho phép, cho phép sắm dao cạo.”

4. Tóc-tai-răng
Có các Tỳ-kheo lông mũi dài, bạch Phật, Phật cho phép sắm nhíp để nhổ. Các Tỳ-kheo dùng vàng bạc làm nhíp, Phật dạy:
“Không nên làm như vậy. Cho phép dùng đồng, thiếc, răng, sừng, trúc, tre để làm, trừ cây sơn.”4
Có các Tỳ-kheo trong lỗ tai có cứt ráy, Phật dạy:
“Cho phép sắm cái ngoáy tai, ngoài ra cũng như trên.”
Có các Tỳ-kheo, thức ăn vào trong kẻ răng làm cho miệng bị hôi, Phật dạy:
“Cho phép sắm cây xỉa răng, ngoài ra cũng như trên.”
Khi ấy vua Bình-sa suy nghĩ: “Ta nên dùng vật gì để cúng cho Tăng?” Thấy thứ gì cũng đã có người cúng, chỉ có tăm xỉa răng là chưa có người cúng, bèn làm đầy một xe để cúng cho các Tỳ-kheo nhân một bữa cúng thức ăn, các Tỳ-kheo không dám nhận, bạch Phật, Phật cho phép nhận.

5. Bát được phép dùng
Đức Phật ở tại nước Tô-ma,5 tự làm chén bát để làm mẫu, khiến người thợ đồ gốm nung. Người thợ đồ gốm làm số nhiều hợp lại nung một lần luôn, khi mở cửa lò thấy đều thành bát bằng vàng, hoảng sợ nói: “Đây là thần lực của Đại Sa-môn.” Nếu nhà vua nghe chắc sẽ nói mình nhiều vàng quí, nên đem chôn hết. Đức Phật làm cái khác, khiến nung, đều thành bát bằng bạc, cũng hoảng sợ đem chôn. Đức Phật lại làm cái khác, bảo nung, mới thành cái bát màu xanh, đẹp như cây Diêm-phù,6 trao cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám nhận, Phật dạy: “Cho phép chứa dùng.”
Có Tỳ-kheo bát bị vỡ, không có bát đi du hành, Phật dạy: “Nên tìm xin cái bát khác, hay có thể tự làm được thì cho phép làm.”
Có các Tỳ-kheo nung bát thành màu đỏ, đức Phật bảo nên xông khói.
Có các Tỳ-kheo chứa bát bằng vàng, bạc, bảy báu, răng, đồng, đá, cây, các cư sĩ chê trách nói: “Các Tỳ-kheo này như vua, như đại thần, thường nói ít ham muốn, biết vừa đủ mà nay lại chứa các loại bát tốt.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép chứa các loại bát như trên. Nếu chứa bát bằng vàng, bạc… cho đến bát đá đều phạm Đột-kiết-la, nếu chứa bát bằng gỗ phạm Thâu-lan-giá.”
Khi ấy, có người Bà-la-môn tên là Ưu-kha-la, có một người con gái, thường dùng cái bát bằng đồng trắng để ăn. Người con gái kia sau khi xuất gia cũng dùng cái bát trước kia để khất thực. Các cư sĩ chê trách nói: “Sa-môn Thích tử cũng dùng bát bằng đồng, cùng với ngoại đạo đâu có khác gì.” [170a01] Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép dùng bát bằng đồng của ngoại đạo, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.” Phật cho phép dùng ba loại bát:7 bát thiếc,8 bát sành,9 bát Tô-ma.10

6. Các loại bát cấm
1. Khi ấy, tại Tỳ-xá-ly, các Ly-xa11 đặng chiếc bát bằng Chiên-đàn,12 cùng nhau nghị bàn: “Bát này nên cúng cho ai?” Có người nói nên cúng cho đức Thế Tôn, có người nói nên cúng cho Tát-giá Ni-kiền Tử.13 Số đông muốn cúng cho Thế Tôn, do ít phải theo nhiều bèn đựng đầy bát bằng thạch mật trắng, thành viên rất xinh xắn dâng cúng lên đức Thế Tôn, bạch: “Chúng con cùng nhau nhận được chiếc bát này, xin được dâng cúng lên đức Thế Tôn, cúi xin Ngài ai mẫn nạp thọ.” Đức Phật nhận đường viên hoan hỷ, còn chiếc bát trả lại và nói: “Bát này của ngoại đạo, là Phật không nên chứa dùng.” Họ cùng nhau nghị bàn: “Chúng ta dâng chiếc bát lên đức Thế Tôn, Ngài không nhận, nay chúng ta có thể dùng để cúng cho chúng Tăng.” Bàn xong, họ liền đem chiếc bát đến Tăng phường cúng cho các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo không dám nhận, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận rồi chẻ làm hương xông.”

7. Thị hiện giáo hóa
2. Sau đó, các Ly-xa lại nhận được chiếc bát bằng Ngưu đầu chiên-đàn,14 treo lên đầu cây nêu cao, xướng rằng: “Ai có thần lực lấy được thì cho.”15 Khi ấy Tân-đầu-lô16 nói với Mục-kiền-liên rằng: “Đức Thế Tôn nói thầy thần thông đệ nhất, sao không lấy chiếc bát này?” Mục-kiền-liên nói: “Thầy cũng có thần túc có thể đến lấy.”17 Tân-đầu-lô liền lấy đem cúng cho Tăng. Các Tỳ-kheo không biết nên như thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận rồi chẻ ra làm hương xông.”18
Khi ấy, bốn vị đại Thanh văn Ca-diếp, Mục-kiền-liên, A-na-luật, Tân-đầu-lô cùng nghị bàn:
“Hiện nay nơi thành Vương Xá có một số người không tin ưa Phật, Pháp, Tăng, chúng ta nên cùng nhau khiến cho họ tin ưa.”
Nghị bàn xong quan sát khắp gần xa chỉ thấy có trưởng giả Bạt-đề và người chị của ông ta không tin ưa Phật, Pháp, Tăng; ba vị Thanh văn nói: “Không lẽ giáo hóa Bạt-đề thôi ư?” Tân-đầu-lô nói: “Có thể giáo hóa người chị của Bạt-đề nữa.”
Nhà ông trưởng giả ấy làm bảy lớp cửa, có ba bộ kỹ, khi muốn ăn bảy cửa đều đóng, một thức ăn đặt trên một bộ kỹ. Khi ông trưởng giả ăn, A-na-luật đứng ngay trước mặt xin. Ông trưởng giả hỏi: “Ông từ đâu vào?” A-na-luật đáp: “Tôi vào từ cửa.” Ông trưởng giả hỏi người giữ cửa: “Tại sao ngươi cho người ăn xin vào?” Người giữ cửa nói: “Cửa đóng như thường lệ, không thấy người nào vào.” Ông trưởng giả bèn lấy một miếng bánh mè để vào trong bát và nói: “Đi đi! Ông có vật này để làm thức ăn đấy.” A-na-luật nhận được rồi liền đi. Vào lúc bữa ăn sau, Ca-diếp lại đứng trước xin. Cách hỏi và trả lời cũng như trước. Trưởng giả lại hỏi người giữ cửa: “Tại sao ngươi lại cố ý cho người ăn xin đột nhập vào cửa nhà ta?” Người giữ cửa nói: “Cửa đóng như thường lệ, [170b01]không thấy ai vào.” Trưởng giả lại lấy một miếng cá nhỏ bỏ vào trong bát và nói: “Đi đi! Ông có vật này để làm thức ăn đây”.
Sau khi Ca-diếp đi, vợ trưởng giả hỏi: “Ý ông thế nào? Nghĩa là Tỳ-kheo này không thể có được thức ăn nên đến đây xin phải không?” Trưởng giả nói: “Chính như vậy.” Người vợ nói: “Ông có biết vị Tỳ-kheo đến trước là ai không?” Trưởng giả nói: “Không biết.” Người vợ nói: “Ông ấy tên là A-na-luật, con dòng họ Thích, bỏ cung điện ba mùa, bỏ cái vui ngũ dục, xuất gia học đạo.”
Người vợ lại hỏi: “Ông có biết Tỳ-kheo đến sau hay không?” Người chồng nói: “Không biết.” Bà vợ nói: “Vị ấy là con của dòng họ lớn Tất-ba-la-diên Ma-nạp,19 bỏ chín trăm chín mươi thửa ruộng, nhà, trâu, bò, xuất gia học đạo, dũ lòng thương đối với ông cho nên đến xin thức ăn đấy.” Ông trưởng giả nghe vợ nói trong tâm lúc nào cũng kính phục.
Ngay khi ấy Mục-kiền-liên bay lên hư không vì ông trưởng giả nói pháp, chỉ dạy sự lợi ích, khiến ông ta vui mừng… cho đến câu: Liền từ nơi chỗ ngồi xa trần lìa cấu, đặng con mắt pháp trong sạch, thấy pháp đắc quả rồi, thọ Tam quy, Ngũ giới. Từ đó về sau, ông trưởng giả thường cúng dường cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và các ngoại đạo.
Bấy giờ, ba vị Thanh văn nói với Tân-đầu-lô rằng: “Chúng tôi đã giáo hóa Bạt-đề tin ưa Phật Pháp rồi, nay đến phiên thầy giáo hóa bà chị gái của ông ta.” Thế là Tân-đầu-lô vào buổi sáng mặc y, bưng bát vào thành khất thực, theo thứ tự đến nhà bà ta.
Lúc ấy, chị trưởng giả đang làm bánh, bỗng nhiên thấy Tân-đầu-lô bèn cúi đầu nhắm mắt. Tân-đầu-lô cũng nhất tâm nhìn vào bình bát. Bà ta bèn nói: “Quyết định không cho ông, nhất tâm nhìn vào bình bát làm gì cho uổng công?” Tân-đầu-lô bèn trong thân tuôn ra khói. Bà ta lại nói: “Cả thân có tuôn ra khói, quyết cũng không cho ông.” Tân-đầu-lô cả thân tuôn ra lửa. Bà ta lại nói: “Cả thân tuôn ra lửa, cũng quyết định không cho ông.” Tân-đầu-lô liền bay lên hư không, bà ta cũng lại nói: “Bay trên hư không, quyết định cũng không cho ông.” Tân-đầu-lô bèn lộn nhào lên không trung, bà ta cũng lại nói: “Có nhào lộn lên không trung, quyết định không cho ông.” Tân-đầu-lô khởi ý niệm: “Đức Thế Tôn không cho phép chúng ta cưỡng bức để xin cho được, bèn ra đi.”
Cách thành Vương Xá không xa có một tảng đá lớn, Tân-đầu-lô ngồi trên đó rồi kẹp tảng đá bay vào trong thành Vương Xá. Người trong thành thấy đều hết hồn hết vía, sợ tảng đá rớt xuống, mọi người vội vã chạy trốn. Bay đến nhà chị ông trưởng giả, Tân-đầu-lô đứng đó không đi. Bà ta thấy hoảng vía kinh hồn, lông tóc dựng ngược, vòng tay thưa: “Xin ngài tha mạng cho con, đem tảng đá để lại chỗ cũ, con sẽ cúng cho ngài.” Tân-đầu-lô bèn đem tảng đá để lại chỗ cũ, rồi trở lại đứng trước nhà.
[170c01] Chị trưởng giả nghĩ: “Ta không thể cho cái bánh lớn, nên làm cái bánh nhỏ để cho.” Bà ta vò tròn cái bánh còn chút xíu, bánh nhỏ liền biến thành cái bánh rất lớn. Ba lần như vậy, nó cũng biến thành cái bánh lớn, bà ta lúng túng nghĩ: “Ta muốn làm cái bánh nhỏ, nó lại thành cái bánh lớn, nay ta cứ lấy đại một cái để cho.”
Bà ta liền lấy một cái để cho thì liên tiếp các bánh dính theo, đến nỗi cái thẩu đựng bánh cũng liền dính vào bánh. Bà ta lấy tay cầm cái thẩu, tay của bà cũng bị dính vào thẩu. Với vẻ khó chịu bà nói với Tân-đầu-lô rằng: “Ông cần bánh, tôi cho hết bánh, kể cả cái thẩu đựng tôi cũng không tiếc, tại sao ông cần tôi làm gì, mà khiến tay tôi dính chặt vào cái thẩu?”
Tân-đầu-lô nói: “Tôi không cần bánh và cái thẩu, cũng không cần bà. Chúng tôi bốn người đã cùng bàn định giáo hóa bà và giáo hóa em của bà. Ba vị kia đã giáo hóa em của bà, nay tôi giáo hóa bà, nên mới làm như vậy.”
Chị trưởng giả hỏi: “Vậy bây giờ ông muốn tôi làm việc gì?” Tân-đầu-lô bảo: “Tôi muốn chị em bà, có thể chở số bánh này đi theo tôi, đến cúng dường Phật và Tăng.”
Bà ta liền chở bánh đi theo Tân-đầu-lô. Tân-đầu-lô liền biến hóa con đường đi ngang qua cửa ngõ người khác, khiến cho mọi người đều thấy. Khi đến chỗ đức Phật, tự tay bà cúng dường đức Phật và 1250 Tỳ-kheo. Tất cả các vị thọ dùng đầy đủ song vẫn không hết bánh. Bánh dư ra mang đến bạch Phật: “Con có một ít bánh cúng dường Phật và 1250 Tỳ-kheo đều no đủ mà vẫn không hết, nay nên đem để nơi nào?”
Đức Phật bảo: “Có thể để nơi chỗ đất không có cỏ sống, hay chỗ nước không có trùng.” Người nữ kia bèn đem đổ vào chỗ nước không có trùng, nước sôi thành tiếng như sắt nóng bỏ vào trong chỗ ít nước. Bà hoảng sợ, lông trong người bà dựng ngược lên. Quay trở lại chỗ Phật, bà ta đầu mặt kính lễ sát chân, rồi ngồi lui qua một bên. Đức Phật vì bà ta nói các pháp mầu… cho đến câu: Đặng con mắt pháp trong sạch, thọ Tam quy, Ngũ giới, cúng dường cho tứ chúng, cầu đạo như người em không khác.
Các Tỳ-kheo Trưởng lão đem vấn đề này bạch Phật, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi Tân-đầu-lô: “Thật sự ông có như vậy không?” Tân-đầu-lô thưa: “Bạch Thế Tôn, sự thật con có như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách, rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép hiện thần túc, nếu hiện thì phạm Đột-kiết-la.”

8. Tịnh quả
Khi ấy, vua Bình-sa có khu vườn quả Yêm-la,20 ba mùa đều sum sê tươi tốt, thường lấy hoa quả cúng dường các Tỳ-kheo theo nhu cầu. Các Tỳ-kheo ăn trái cây đó vào bữa ăn trước, vào bữa ăn sau, không lúc nào không ăn, hoặc đựng đầy cả bát mang đi, hoặc ăn phân nửa rồi quăng xuống đất. Thời gian sau, lân quốc sai sứ đến tâu lên vua Bình-sa: “Tôi nghe nhà vua có vườn quả Yêm-la, ba mùa đều sum sê tươi tốt, mong sao được thấy trái Yêm-la.”
Nhà vua ra lệnh hái. Khi ấy quả đã hết sạch vì các Tỳ-kheo đã hái ăn. Việc này được tâu lên nhà vua, [171a01] các quan cận thần của vua đều chê trách nói: “Sa-môn Thích tử đủ rồi vẫn không biết nhàm chán, tuy nhà vua không tiếc mà người thọ dụng cần phải tế nhị lượng tính, tại sao cả một vườn trái cây cùng nhau ăn hết?!”
Các Tỳ-kheo Trưởng lão nghe, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, hỏi các Tỳ-kheo: “Sự thật các ông có như vậy không?” “Kính bạch Thế Tôn, thật sự có như vậy.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép ăn trái chưa tác tịnh, nếu ăn phạm Đột-kiết-la.”21
Có một cư sĩ mời Tăng ăn trái cây, Tỳ-kheo sai người tác tịnh từng trái một, nên quá giữa ngày, không ăn được. Cư sĩ cơ hiềm nói: “Các Sa-môn này giống như trẻ nít, sai người tác tịnh từng trái một nên không kịp giờ ngọ, nay ta giải quyết thế nào số trái cây này đây?!” Sự việc được bạch Phật, Phật dạy: “Có năm loại mầm:22 mầm từ rễ, mầm từ cành, mầm từ nhánh, mầm từ quả và mầm từ hạt. Nếu ăn trái cây nên làm năm loại tịnh,23 Pháp của Sa-môn: tịnh bằng lửa, tịnh bằng dao, tịnh bởi chim (chim đã ăn), tịnh vết thương (trên trái cây có vết thương) và tịnh vì hạt mầm đã hư.
Nếu ăn gốc cũng nên làm năm loại tịnh, Pháp của Sa-môn: tịnh bằng bóc vỏ, tịnh bằng cắt, tịnh bằng bóp cho bể, tịnh bằng rửa, tịnh bằng hơ lửa.
Nếu ăn cành cũng làm ba loại tịnh, Pháp của Sa-môn: tịnh bằng dao, tịnh bằng rửa, tịnh bằng hơ lửa.
Nếu ăn nhánh cũng làm ba loại tịnh, pháp của Sa-môn: tịnh bằng dao, tịnh bằng lửa, tịnh bằng rửa.
Khi tác tịnh nên tác tịnh chung. Chung một đống, trong một đồ đựng, nếu tác tịnh một cái tức là tịnh hết.”
Có một Tỳ-kheo nấu nước trong nhà tắm, củi cháy, rắn từ trong bộng cây chạy ra, cắn nơi chân, chết liền. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo kia không biết tám loại rắn, không hướng lòng từ đến gọi rắn, lại không đọc chú, nên bị rắn làm hại. Tám loại rắn ấy là: rắn Đề-lâu-lại-tra, rắn Đát-xa, rắn Y-la-man,24 rắn Xá-bà-tử,25 rắn Cam-ma-la a-thấp-bà-la-ha (?), rắn Tỳ-lâu-la-a-xoa, rắn Cù-đàm, rắn Nan-đà Bạt-nan-đà.26 Chú rắn:
Ta thương các vua rắn27
Trên trời và thế gian
Do từ tâm ta đây
Diệt được các độc dữ
Ta dùng sức trí tuệ
Dùng để giết độc này
Độc có mùi, không mùi
Bị diệt vào lòng đất.”
Đức Phật dạy: “Nếu Tỳ-kheo kia dùng chú này để tự vệ, không bị rắn độc giết chết.” Lại có Tỳ-kheo bị nọc rắn cắn, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Thầy dùng chú này, chú nguyện, khiến vị kia được an ổn.” Tỳ-kheo này vâng lời dạy, đến chú nguyện, vị kia liền được lành bệnh. [171b01] Lại có các Tỳ-kheo ở chỗ nào cũng bị rắn cắn, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép làm chú thuật, tùy nghi trị liệu.”

9. Phòng tắm
Bấy giờ, các Tỳ-kheo ăn nhiều thức ăn mỹ vị, do đó tăng thêm các bệnh. Sáng sớm, Kỳ-vực28 đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, nay các Tỳ-kheo ăn nhiều thức ăn mỹ vị, do đó tăng thêm các bệnh, xin Thế Tôn cho phép vào trong nhà tắm để tắm tẩy trừ các bệnh này.”
Nhân việc này, đức Phật tập hợp Tỳ-kheo Tăng, đem lời của Kỳ-vực bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo làm nhà tắm để trừ bệnh, nên tắm trong đó.”
Lại có các Tỳ-kheo lõa hình tắm, xoa chà cho nhau, lại lõa hình đi ra ngoài nhà tắm, các bạch y chê trách nói: “Các Sa-môn này đều như Ni-kiền, không có đạo phong.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật tập hợp các Tỳ-kheo Tăng, quở trách rồi bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép mặc y tắm, không cho phép lõa hình tắm, lõa hình xoa chà cho nhau, vi phạm, đều phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo khi tắm đi ra ngoài cọ lưng nơi vách hay nơi gốc cây, rồi trở vô dội nước, thân hình bị xây xác, thương tích, đức Phật dạy: “Không nên làm như vậy cho phép làm da Bồ đào (cây nho), da Ma-lâu(?), Tháo đậu,29 v.v… làm vật tẩy bẩn.” Các Tỳ-kheo tùy theo sự quen biết mà cho Tháo đậu, đức Phật dạy: “Nên cho bình đẳng.”

10. Câu-nhiếp
Đức Phật ở thành Xá-vệ. Bấy giờ Bạt-nan-đà mặc Câu-nhiếp30 lật ngược nơi chỗ tối, làm thành bốn chân để đi, khủng bố các Tỳ-kheo.31 Các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Không nên làm như vậy. Nếu mặc lật ngược Câu-nhiếp làm bốn chân để đi, đều phạm Đột-kiết-la.” Các Tỳ-kheo ở trong phòng bị nóng, muốn mặc lật ngược Câu-nhiếp, Phật dạy: “Trong phòng thì cho phép.”

11. Gối đầu
Có các Tỳ-kheo khi ngủ không có gối, đức Phật cho phép làm cái gối. Có các Tỳ-kheo sợ rận, đức Phật cho phép bắt bỏ nó đi. Các Tỳ-kheo bắt bỏ nó trong phòng, nó bò trở lại vào trong y, Phật dạy: “Cho phép bắt bỏ nó ngoài phòng.” Khi mưa, các Tỳ-kheo bắt bỏ nó trong nước, đức Phật dạy: “Nên bắt bỏ nó trong cái vật xấu với lòng từ.” Có các Tỳ-kheo bị cái nạn bọ chét, đức Phật dạy: “Trải vật xuống đất rồi quét đi, nếu nó ở trong chiếu lát thì phơi cho nó đi.” Có các Tỳ-kheo bị cái nạn con mọt, đức Phật dạy:
“Cho phép trừ nó bằng cách bỏ nó chỗ bùn kín đáo.”

12. Nhóm lửa
Có các Tỳ-kheo già bệnh bị lạnh, muốn nhóm lửa trong phòng, Phật dạy: “Khi lạnh cho phép nhóm.” Các Tỳ-kheo nhóm lửa làm cháy hư đồ trải dưới đất và xông khói lên nhà, Phật dạy:
“Cho phép làm cái lò ở bên ngoài nhà để nhóm lửa.”
Các Tỳ-kheo không biết lấy vật gì để làm, Phật dạy:
“Cho phép dùng đồng, thiếc, bùn, đá để làm; cho phép Tăng, Tứ phương tăng dùng riêng, [171c01] lại cho phép làm lò nơi mặt đất.”

13. Bát uống nước
Các Tỳ-kheo dùng cái bình bát để uống nước sau giờ ngọ, Phật dạy: “Sau giờ ngọ không nên dùng bình bát để uống, cho phép dùng đồng, thiếc, sành làm vật dụng riêng để uống.”

14. Linh tinh
Có một Tỳ-kheo ở nước Đức-xoa-thi-la,32 an cư mùa hạ xong đến (tinh xá) Kỳ-hoàn ở nước Xá-vệ, chỗ đức Phật ở, đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật: “Quốc độ này ăn cháo lỏng, quốc độ kia uống nước cháo sữa,33 xin Thế Tôn cho phép các Tỳ-kheo vào buổi sáng được uống nước cháo sữa.” Đức Phật dạy: “Cho phép uống.”
Các Tỳ-kheo khi uống nước cần muối, bạch Phật cho phép dùng muối, cho phép Tăng, Tứ phương Tăng chứa dùng riêng, cho phép làm đồ rang muối. Các Tỳ-kheo bèn làm hình chúng sanh hoặc bàn tay người cầm đồ rang muối, Phật dạy: “Không cho phép làm các hình đó.”
Bấy giờ các bạch y dùng mâm đựng thức ăn cúng cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không dám nhận, bèn chê trách nói: “Sa-môn Thích tử không kham nhận vật cúng dường”, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép nhận.”
Có các Tỳ-kheo đựng cháo trong bát, nóng bưng không được, Phật dạy: “Cho phép làm cái đồ đựng cháo riêng.” Các Tỳ-kheo bưng thức ăn đưa lên nặng, đức Phật dạy: “Cho phép để trên cái ghế nhỏ.” Các Tỳ-kheo bèn làm ghế hình chân, Phật dạy: “Không cho phép làm.”
Các Tỳ-kheo đến nhà bạch y, họ làm ghế hình chân để thức ăn, các Tỳ-kheo không dám ăn, Phật dạy: “Nơi nhà bạch y cho phép thọ, chỉ không cho phép mình tự chứa mà thôi.” Các Tỳ-kheo cần Kiền-tứ,34 Phật: “Cho phép chứa dùng và dùng đồng, thiếc, sành, đá để làm.”
Có các bạch y đem cháo cúng cho các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo không biết để chỗ nào chia, đức Phật cho phép làm cái bồn có quai để đựng. Khi chia cháo nên hỏi: “Có cháo riêng cho người bệnh hay không? Nếu không thì nên cho người bệnh trước.”
Bấy giờ, Tỳ-xá-khư Mẫu muốn chúng Tăng nấu cháo ở trong trú xứ, đức Phật cho phép. Các Tỳ-kheo không biết để gạo ở chỗ nào, Phật dạy nên để trên chiếc chiếu rách; trong gạo có thóc, không biết làm thế nào, đức Phật cho phép sắm cái nồi, cái chày, khiến tịnh nhân giã. Không biết dùng cái gì để sàng thóc, bạch Phật. Phật dạy: “Cho phép sắm cái nia, cái sàng để sàng.”
Các Tỳ-kheo cần cái chõ, Phật cho phép chứa dùng; nên dùng đồng, thiếc, sành, đá để làm. Các Tỳ-kheo cần cái thìa, Phật cũng cho phép dùng, trừ loại cây sơn, các loại cây khác đều cho phép dùng.
Có các Tỳ-kheo bệnh cần cháo ngon, Phật dạy: “Cho phép tịnh nhân nấu; nếu không có tịnh nhân, cho phép Tỳ-kheo rửa sạch dụng cụ nấu, rồi đổ nước vào, nhờ tịnh nhân vo đậu, gạo bỏ vào trong, sau đó Tỳ-kheo nhóm lửa nấu. Cháo chín, lại nhận từ tịnh nhân đem cho người bệnh.” Các Tỳ-kheo nhận được nhiều gạo, không có chỗ để, đức Phật cho phép dùng bùn nhuyễn trét một cái phòng cho sạch đất để chứa gạo. [172a01] Gạo hết, các Tỳ-kheo đến phòng chứa nghe mùi hôi của gạo, Phật dạy:
“Cho phép dùng loại bùn có chất thơm trét trên đất.”

15. Xây tháp
Đức Phật ở nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, cùng đầy đủ đại Tỳ-kheo 1250 vị, đến tụ lạc Đô-di Bà-la-môn,35 trải tòa ngồi nghỉ dưới bóng gốc câyTa-la bên lề đường, đức Phật mỉm cười. Tôn giả A-nan nghĩ: “Chư Phật cười luôn có nhân duyên! Nay Phật mỉm cười chắc có nhân duyên.” Tôn giả liền để trống vai bên hữu, quỳ gối, thưa hỏi Phật, đức Phật dạy:
“Này A-nan! Thuở đời quá khứ có ông vua tên là Cấm-mị,36 có một người con gái khi sanh tự nhiên đeo cái tràng hoa bằng vàng, liền tập hợp chư thần nghị bàn việc đặt tên, tất cả đều nói: ‘Nên hỏi thầy tướng Bà-la-môn.’ Vua liền ra lệnh tập hợp thầy tướng, bảo họ đặt tên. Thầy tướng nói: ‘Người nữ này khi sanh đeo cái tràng hoa tự nhiên màu vàng, nên đặt tên là Ma-lê-ni.’37 Tên ấy được chọn, nhà vua rất thích và quí mến, tìm hỏi trong nước, người nữ nào cùng sanh trong một ngày với con mình để dùng làm người hầu. Khi ấy, trong nước có năm trăm người nữ cùng sanh ngày đó, được đưa vào danh bộ của nhà vua, sung vào làm người sai khiến.
Khi tuổi đã khôn lớn, năm trăm Bà-la-môn mà nhà vua thường cúng dường, ra lệnh bảo con cúng dường. Nhà vua nói: “Con nên như cha hằng ngày nấu năm trăm nồi canh, theo sở thích của họ mà cúng dường.” Người con gái như lời dạy, cúng dường các Bà-la-môn. Họ dùng xong, Ma-lê-ni liền cùng năm trăm người nữ dùng xe tứ mã dạo chơi các hoa viên. Từ vườn này sang vườn kia, từ quang cảnh này đến quang cảnh kia, ngày nào cũng như vậy.
Bấy giờ, đức Phật Ca-diếp ở trong một ngôi vườn, người đánh xe đến ngôi vườn, chỗ Phật ở, liền quay xe không vào. Ma-lê-ni hỏi: ‘Trong quốc giới của ta, không vườn nào không vào, tại sao ngươi lại thường tránh cái vườn này?’ Người đánh xe trả lời: ‘Trong vườn này có một Sa-môn đầu trọc, tên là Ca-diếp, không nên thấy ông ta cho nên không vào.’ Ma-lê-ni nói: “Sa-môn Ca-diếp đâu có dính dự gì đến việc ngươi, ngươi có thể quay xe vào trong vườn này để xem.’ Người đánh xe liền quay lại, vào đến chỗ xe hết đi được, Ma-lê-ni đi bộ vào trong vườn. Từ xa thấy Phật Ca-diếp, dung nhan thù đặc, giống như trái núi vàng. Thấy rồi, Ma-lê-ni phát tâm hoan hỷ, đến trước đức Phật, đầu mặt kính lễ sát chân rồi đứng lùi qua một bên. Đức Phật vì Ma-lê-ni nói các diệu pháp, chỉ bày sự lợi ích, để được hoan hỷ… cho đến câu: Thấy pháp đắc quả, rồi thọ Tam quy, Ngũ giới, từ chỗ ngồi đứng dậy, kính lễ sát chân Phật, đi vòng quanh bên hữu rồi cáo lui.
Đi không lâu, Ma-lê-ni khởi nghĩ: ‘Ta thường dùng năm trăm nồi canh, hằng ngày cúng dường năm trăm Bà-la-môn. Đây không phải là phước điền, không đáng nhận của thí; thà làm thức ăn rất mỹ vị để cúng dường Ca-diếp Thế Tôn còn hơn!’ [172b01] Ma-lê-ni nghĩ rồi liền ra lệnh hằng ngày làm thức ăn đem đến cúng dường.
Bấy giờ, các Bà-la-môn nghe Ma-lê-ni đã làm đệ tử Phật Ca-diếp, lại dùng thức ăn ngon bổ cúng dường Phật Ca-diếp, sanh tâm tật đố, cùng nhau nghị bàn: ‘Chúng ta phải tạo phương tiện để cùng giết người nữ này.’
Thời điểm ấy, vua Cấm-mị nằm thấy mười một điều mộng: mộng thấy cây dài bốn ngón tay mà lại có hoa; mộng thấy hoa này liền thành trái; mộng thấy con bò con thì cày, con bò lớn lại đứng xem; mộng thấy ba cái chõ đều nấu cơm, mà hai cái hai bên cơm sôi nhảy vào nhau mà không rớt vào cái chính giữa; mộng thấy con lạc đà có hai cái đầu ăn cỏ; mộng thấy con ngựa mẹ lại bú con ngựa con; mộng thấy cái bát vàng vận hành giữa hư không; mộng thấy nước tiểu của con cáo hoang ở trong cái bát bằng vàng; mộng thấy con khỉ đột ngồi trên cái giường bằng vàng; mộng thấy con bò bị giết, cái đầu bằng Chiên-đàn mà giống như cỏ mục; mộng thấy trong vũng nước, chính giữa thì đục, xung quanh lại trong.
Sáng ngày nhà vua tập hợp quần thần nói rõ các điềm chiêm bao, rồi hỏi ý kiến: ‘Những điềm mộng ấy là thế nào?’ Quần thần đều nói: ‘Nên hỏi thầy tướng Bà-la-môn.’ Nhà vua liền triệu đến hỏi, các Bà-la-môn nghĩ: ‘Chúng ta định giết người nữ này, đây là cơ hội tốt.’ Họ bèn tâu với nhà vua: ‘Những điềm chiêm bao này không tốt, hoặc sẽ bị mất nước hay là mất mạng.’ Nhà vua hỏi: ‘Có phương tiện nào để tránh khỏi tai ương hay không?’ Thầy tướng tâu: ‘Có, nhưng chỉ có điều là chỗ niệm tình thương mến của nhà vua, chắc không thể thực hiện được.’ Nhà vua bảo: ‘Cứ nói.’ Thầy tướng tâu: ‘Voi… của nhà vua, ngựa… của nhà vua, đại thần… của nhà vua, đại Bà-la-môn… của nhà vua, dẫn năm trăm con bò đực, năm trăm con trâu nước, năm trăm con trâu nghé cái, năm trăm con trâu nghé đực, năm trăm con dê đen, năm trăm con dê khỏe mạnh, vương nữ Ma-lê-ni và năm trăm quyến thuộc (người nuôi dưỡng), sau bảy ngày, nơi giữa ngã tư đường, giết để tế Thiên thần thì tai ương này có thể tiêu diệt, nếu không làm thì cái họa không cách nào tránh khỏi.’
Nhà vua nghe rồi, cả tin, liền ra lệnh chuẩn bị. Nhà vua cho kêu người con gái của mình nói rõ sự việc, và cho phép trong vòng sáu ngày tùy ý sở nguyện. Ma-lê-ni tâu với vua cha: ‘Con không sợ sự chết nhưng xin nguyện: ngày thứ nhất cùng nhơn dân nam nữ, lớn nhỏ trong thành đến chỗ Phật Ca-diếp.’ Nhà vua thuận cho, tức khắc triệu tập nhân dân trong thành kẻ trước người sau vây quanh đến chỗ Ca-diếp. Đức Phật vì họ nói các pháp nhiệm mầu, chỉ dạy sự lợi ích để được hoan hỷ… cho đến câu: Thấy pháp đắc quả, thọ Tam quy Ngũ giới. Nguyện ngày thứ hai cùng các đại thần của vua, đến chỗ Phật Ca-diếp. Nguyện ngày thứ ba cùng các vương tử đến chỗ Phật Ca-diếp. Nguyện ngày thứ tư cùng các vương nữ đến chỗ Phật Ca-diếp. Nguyện ngày thứ năm cùng các phu nhơn và thể nữ đến chỗ Phật Ca-diếp. Nguyện ngày thứ sáu cùng vua cha đến chỗ Phật Ca-diếp. Nhà vua đều thuận cho. [172c01] Tất cả đều thấy pháp đắc quả, thọ Tam quy, Ngũ giới, như trước đã nói.
Nhà vua đắc quả rồi, đem mười một điềm mộng thưa hỏi Phật Ca-diếp: Những điềm mộng này có báo ứng thế nào? Đức Phật dạy: ‘Mười một điềm chiêm bao này thuộc về đời sau chứ không phải đời này: Mộng thấy cái cây nhỏ mà sanh hoa là đời sau có đức Phật ra đời trong loài người chỉ sống một trăm tuổi, gọi là Thích-ca Mâu-ni Như Lai Ứng cúng Đẳng chánh giác. Khi ấy, người ba mươi tuổi, đầu đã bạc. Mộng thấy cái hoa liền thành trái, là bấy giờ người mới 20 tuổi mà đã sanh con. Mộng thấy con bò con cày, mà con bò lớn đứng xem, là lúc ấy người trẻ thì thống lãnh việc nhà, cha mẹ không được tự tại. Mộng thấy ba cái nồi đều nấu cơm, hai cái nồi hai bên sôi chảy vào nhau, mà không rớt vào cái nồi chính giữa, là khi ấy người giàu cùng nhau huệ thí mà người nghèo không nhận được. Mộng thấy con lạc đà hai cái đầu ăn cỏ, là khi ấy nhà vua có quân thần đã hưởng bổng lộc của vua lại lấy vật của dân. Mộng thấy con ngựa mẹ lại bú con ngựa con, là khi ấy bà mẹ, con gái đã lấy chồng rồi, lại đến nó cầu thực. Mộng thấy cái bát vàng vận hành giữa hư không, là khi ấy mưa không có thời tiết, cũng không giáp khắp. Mộng thấy nước tiểu con cáo hoang ở trong cái bát vàng, là khi ấy nhân dân chỉ chọn người giàu mà kết hôn chứ không lựa bổn tánh. Mộng thấy con khỉ đột ngồi trên cái giường bằng vàng, là lúc ấy quốc vương dùng phi pháp cai trị, bạo ngược vô đạo. Mộng thấy con bò cái đầu bằng Chiên-đàn bị giết, đồng giá trị với cỏ mục, là khi ấy Sa-môn dòng họ Thích tham lợi dưỡng nên cho bạch y nói pháp. Mộng thấy trong vũng nước mà chính giữa đục, chung quanh lại trong, là khi ấy Phật pháp ở trung tâm của nước diệt trước, nơi ven biên cương lại thạnh.’
Đức Phật dạy: ‘Mười một điềm mộng nhà vua nằm thấy là như vậy, đối với bản thân của đại vương không có việc bất tường.’ Nhà vua liền từ nơi chỗ ngồi ra lệnh quần thần: ‘Những phẩm vật định dùng để tế thần trời, nay đều đem bố thí, không có việc gì phải lo sợ.’ Từ nay, ta thà tự mất mạng chứ không cố ý sát sanh, huống là bảo giết người, không cố ý làm tổn thương đến loài trùng kiến, huống là con gái ta và mọi người.’”
Đức Phật bảo tôn giả A-nan: “Đức Phật Ca-diếp sau khi Nê-hòan, nhà vua kia vì Ngài xây tháp bằng vàng, bạc, dọc ngang nửa do-tuần, cao một do-tuần, thêm vào những viên ngói bằng vàng, bằng bạc xen vào nhau, hiện nay vẫn còn trong lòng đất.” Đức Phật liền ra khỏi tháp chỉ cho Tứ chúng. Phật Ca-diếp toàn thân xá lợi, nghiễm nhiên như cũ. Nhân việc này đức Phật lấy một nắm bùn, nói bài kệ:
“Tuy được Diêm-phù-đàn38
Trăm ngàn lợi kim bảo
[173a01] Không bằng một nắm bùn
Vì Phật xây bảo tháp.”
Mách bảo rồi, trở về chỗ cũ, đức Phật lấy bốn nắm bùn trát nơi chỗ ngôi tháp ngầm dưới mặt đất, 1250 Tỳ-kheo mỗi vị cũng dùng bốn nắm bùn trét lên chỗ đó.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo muốn vì Phật Ca-diếp xây ngôi tháp nơi đống bùn. Đức Phật cho phép xây. Chúng Tỳ-kheo cùng nhau xây. Đây là Bảo tháp đầu tiên được xây trên cõi Diêm-phù-đề.
Sau đó, các Tỳ-kheo muốn vì A-la-hán, các Thinh văn, Phật Bích-chi xây tháp, đức Phật dạy: “Có bốn hạng người nên xây tháp: Như lai, đệ tử của Như lai, Phật Bích-chi và Chuyển luân thánh vương.”
Các Tỳ-kheo muốn làm tháp lộ thiên, tháp như cái nhà, tháp không có vách, muốn bên trong làm hình tượng khám, bên ngoài làm lan can; muốn làm một tảng đá lớn đỡ cái tháp lộ thiên; muốn ở trước tháp làm cây trụ bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng cây, trên đầu cây trụ có hình đầu sư tử, các loại hình cầm thú; muốn trồng cây xung quanh tháp, đức Phật đều cho phép.
Khi ấy, các ngoại đạo cũng tự xây tháp, cúng dường mọi thứ, dân chúng thấy khởi lòng tin ưa. Các Tỳ-kheo khởi nghĩ: “Nếu đức Phật cho phép chúng ta cúng dường tháp bằng mọi thứ, dân chúng cũng sẽ khởi lòng vui tin theo, đức Phật cũng cho phép.”
Các Tỳ-kheo tự mình ca múa để cúng dường tháp, các bạch y chê trách nói: “Bạch y ca múa, Sa-môn Thích tử cũng như vậy, cùng ta đâu khác gì?!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo không nên tự mình ca múa để cúng dường tháp, cho phép nhờ người làm việc đó, cho phép Tỳ-kheo tự mình khen ngợi Phật, dùng hoa hương, cờ lọng cúng dường tháp.”
Các Tỳ-kheo khi khất thực có người cúng hoa không dám nhận, các bạch y chê trách, nói: “Sa-môn Thích tử không kham nhận sự cúng dường, lại không muốn cúng dường tháp.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép thọ.” Họ không biết để chỗ nào, đức Phật dạy: “Cho phép làm ba loại đãy: Đãy đựng hoa, đãy đựng thức ăn, đãy lọc nước.”
Có các Tỳ-kheo tự mình đi hái hoa, từ xóm làng này đến xóm làng khác, ra ngoài xóm làng bị giặc cướp đoạt, các bạch y chê trách nói: “Các Sa-môn này giống như thợ kết tràng hoa hay đệ tử của thợ kết vòng hoa,” đức Phật dạy: “Không cho phép ra ngoài xóm làng để hái hoa.” Các Tỳ-kheo dùng chỉ xâu hoa cúng dường, bạch y chê trách như trên. Đức Phật dạy: “Không nên dùng chỉ xâu, chỉ nên rải ra để cúng dường.” Nếu có hoa héo mà ngoại hình còn xanh tốt, cho phép nhặt ra, lấy tay nắn nhẹ cánh hoa ba lần, hoa tự khéo nở được.

16. Móng tay
Đức Phật ở thành Xá-vệ, khi ấy các Tỳ-kheo để móng tay dài, sanh tâm nhiễm trước, không muốn tu phạm hạnh, [173b01] có người hoàn tục làm ngoại đạo, các bạch y chê trách: “Các Sa-môn này như người thọ dục lạc, trang sức móng tay không có tâm yểm ly.”
Có một Tỳ-kheo móng tay dài vào xóm làng khất thực, một người nữ thấy, bảo cùng nhau hành dục lạc, Tỳ-kheo nói: “Tôi là người xuất gia không làm việc ấy.” Người nữ nói: “Nếu không làm theo ý tôi, tôi sẽ làm cho ông bị tiếng xấu.” Cô ta dùng móng tay tự xé áo và làm thương tích trong thân thể, rồi la lớn: “Tỳ-kheo cưỡng bức nắm kéo tôi, tôi không chịu, nên gây tổn thương người tôi, xé áo và làm thương tích thân tôi.” Mọi người đến xem có người tin, có người không tin. Người tin thì nói: “Tỳ-kheo này có mòng tay dài, chắc làm việc này”. Người không tin thì nói: “Người nữ này là hạng người bất lương nên vu báng Tỳ-kheo”. Cả hai hạng người đều chê trách: “Tại sao Tỳ-kheo lại để móng tay dài?!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép để móng tay dài, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Phật cho phép dùng dao hớt móng tay, một đầu làm cái móc ráy lỗ tai. Có các Tỳ-kheo nhuộm móng tay đỏ, các bạch y chê trách, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.” Khi ấy, các Tỳ-kheo vì làm đẹp cho nên may y, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”

17. Leo cây
Có một Tỳ-kheo giữ phòng của Tăng, đưa thức ăn cho Tỳ-kheo đến trễ, Tỳ-kheo leo lên cây để trông bị rớt xuống gãy hông, Phật dạy: “Không cho phép leo lên cây, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo có chút duyên cớ cần leo lên cây, đức Phật cho phép leo, nhưng không được leo cao quá đầu người.
Có các Tỳ-kheo muốn trèo lên đầu cây cao lấy nhánh khô làm củi, Phật cho phép leo lên cái thang để lấy, chứ không được leo lên cây. Lại có các Tỳ-kheo gặp nước, lửa, ác thú, giặc cướp muốn trèo lên cây mà không dám, nên bị nạn khốn đốn, Phật dạy: “Gặp các tai nạn như vậy, cho phép tùy ý leo.”

18. Đãy lọc nước
Có hai Tỳ-kheo cùng đi, không có đãy lọc nước, khát nước muốn uống, thấy trong nước có trùng, một Tỳ-kheo uống, một Tỳ-kheo không uống nên bị chết. Tỳ-kheo uống nước đến chỗ Phật, đem vấn đề ấy bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo kia có tâm tàm quý, mới có thể giữ giới mà chết; từ nay không cho phép không có đãy lọc nước39 mà đi, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo đi đường gần, không có đãy lọc nước không dám đi, Phật dạy: “Cho phép trong vòng nửa do-tuần không có đãy lọc nước được đi.”
Lại có hai Tỳ-kheo cùng đi trên một lộ trình, một Tỳ-kheo có đãy lọc nước, một Tỳ-kheo không, không chịu mượn nhau, nên bị khát nước quá sức, bạch Phật, Phật dạy: “Trước đây Ta đã chế, không có đãy lọc nước thì không được đi quá nửa do-tuần? [173c01] Nếu không có đãy lọc nước, có thể dùng cái chéo y để lọc.”
Khi muốn đi phải nghĩ đến vấn đề đãy lọc nước, cũng cho phép dùng cái ống tre để lọc nước. Các Tỳ-kheo lại dùng vàng, bạc, vật quí để làm, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, cho phép dùng đồng, thiếc, tre, cây, sành, đá để làm cái ống, rồi dùng một trong mười loại y mỏng, mịn do gia chủ cúng để bít cái miệng ống, không cho phép dùng y phấn tảo, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”

19. Chứa thuốc
Bấy giờ tôn giả Xá-lợi-phất bị hoạn phong, có một trái Ha-lê-lặc để bên chân giường. Cù-già-ly,40 cấp bậc Thượng tọa, đến, bảo Xá-lợi-phất tránh chỗ, Xá-lợi-phất liền đi, quên trái Ha-lê-lặc. Cù-già-ly thấy nói với các Tỳ-kheo: “Đức Thế Tôn khen Xá-lợi-phất là thiểu dục, tri túc, mà nay cất chứa, còn chúng ta lại không.” Tôn giả Xá-lợi-phất nghe, nghĩ: “Tại sao ta do cái việc nhỏ mà bị cơ hiềm, bèn lấy trái Ha-lê-lặc quăng.” Các Tỳ-kheo nói: “Đại đức bị hoạn phong, cần dùng trái Ha-lê-lặc, đó là vị thuốc, chớ nên bỏ đi, nên lượm lại để dùng.” Xá-lợi-phất nói: “Do một vật nhỏ mà khiến cho người đồng phạm hạnh cơ hiềm đến như thế, ta đã quăng rồi, dứt khoát không lượm lại.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Xá-lợi-phất không những đời này bỏ thứ thuốc đó không chịu lấy lại, mà thuở quá khứ cũng từng như vậy. Đời quá khứ có một con hắc xà cắn một con bò nghé, rồi chạy vào trong bộng cây. Có một sư chú thuật dùng thần chú Cổ dương41 làm phép cho con rắn ra khỏi bộng cây, mà nó không ra. Sư chú thuật bèn đốt lửa trước con bò nghé để làm phép, hóa thành gió lửa, bay vào trong bộng cây, đốt nóng con hắc xà. Con hắc xà không chịu nóng nổi phải bò ra khỏi bộng cây. Con Dê đen dùng cái sừng hất con rắn để trước sư chú thuật. Sư chú thuật nói: ‘Ngươi liếm lại nọc độc, bằng không ta quăng vào trong lửa.’ Hắc xà liền nói kệ:
‘Ta đã nhả độc này
Nhất định không thu lại
Nếu có phải bị chết
Chấm dứt mạng này thôi.’
Thế là hắc xà không chịu thu lại nọc độc, tự gieo mình vào lửa.” Đức Phật dạy:
“Lúc bấy giờ, hắc xà chính là Xá-lợi-phất, xưa kia chấp nhận cái chết đau khổ, chứ không thu lại nọc độc, huống là nay lại lượm thứ thuốc đã bỏ. Từ nay cho phép các Tỳ-kheo chứa thuốc để dùng.”
Nhóm sáu Tỳ-kheo lại tích tụ nhiều thuốc, các bạch y chê trách, nói: “Các Sa-môn này muốn làm thầy thuốc, muốn mua bán thuốc, tự nói thiểu dục tri túc mà không nhàm chán biết đủ.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên chứa nhiều thuốc, cho phép chứa các thứ tạp dược, mỗi loại một A-đà-la;42 nếu bị bệnh lâu dài thì cho phép tùy nghi chứa trở lại.”

20. Chứa dao, kim, quạt, bát…
[174a01] Có các Tỳ-kheo không có dao dùng miếng tre lau cắt y, y bị hư, Phật cho phép dùng dao để cắt rọc vật dụng. Các Tỳ-kheo lại sắm dao lớn, bọn cướp đến, lấy được dùng hại Tỳ-kheo, Phật dạy: “Không cho phép sắm dao lớn, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Cho phép sắm loại dao dài một ngón tay, một bên làm bén nhọn, dùng cây làm cái cán, trừ cây sơn.”
Các Tỳ-kheo nhận được kim, không dám thọ, bạch Phật, Phật cho phép thọ, cất để dùng. Các Tỳ-kheo lại chứa nhiều, Phật dạy: “Không nên chứa nhiều, cho phép chứa ba cây mà thôi, có dư nên tịnh thí.”
Khi ấy, trú xứ A-nâu-da ở Tỳ-xá-ly bị thấp ẩm ướt, sanh mòng muỗi rồi hơi nóng xông lên, các Tỳ-kheo bị nóng bức, Phật cho phép dùng cây quạt để quạt. Các Tỳ-kheo dùng cái đuôi ngựa để phất, trùng bị chết, Phật dạy: “Không nên dùng đuôi ngựa để làm cái phất, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo dùng bát chứa thức ăn để trên đất bị lật đổ, Phật cho phép dùng cái đế, nên dùng đồng, thiếc, răng, sừng, gạch, đá, tre, cây (trừ cây sơn) để làm, cho đến bện cỏ để để cũng cho phép. Có các Tỳ-kheo xông bát bị tróc, Phật dạy: “Nên xông lại.”

21. Cân lường
Có các Tỳ-kheo đem thức ăn cho người làm, không lường nhiều ít, tuy nhiều họ cũng giận, Phật dạy: “Cho phép đựng trong hộc, đấu, thăng để lường.” Tăng hay Tứ phương Tăng cho đến cá nhơn cũng cho phép chứa, cũng nên có một cái để phòng bị.
Các Tỳ-kheo thuê người làm bơ, dầu, mật, đường mía thẻ không cân lường để cho, tuy cho nhiều họ vẫn nổi giận, Phật dạy: Nên chứa cái cân cũng như trên.
Khi ấy, các Tỳ-kheo học chữ, các bạch y chê trách: “Sa-môn Thích tử sao không siêng năng đọc tụng, lại học chữ làm gì!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên học chữ.” Sau đó các Tỳ-kheo sắp xếp công việc không biết ghi chép, bị quên, Phật dạy: “Cho phép học chữ, nhưng không cho phép vì ham thích mà phế bỏ đạo nghiệp.” Các Tỳ-kheo muốn học chú thuật để trừ ong, rắn, các nọc độc, v.v… Phật dạy: “Cho phép học.”

22. Điền trạch
Các Tỳ-kheo sắm ruộng, vườn, quán xá, các bạch y chê trách: “Chúng ta có vợ con gia đình cho nên sắm ruộng vườn, quán xá, các Tỳ-kheo cũng lại như vậy, cùng chúng ta đâu khác gì?!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép làm những việc như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các bạch y đem ruộng, nhà, quán xá cúng cho Tăng, các Tỳ-kheo không dám nhận, cũng lại chê trách nói: “Các Tỳ-kheo này không chấp nhận sự cúng dường,” bạch Phật, Phật cho phép Tăng kham nhận, rồi khiến tịnh nhân “biết”.
Có các Tỳ-kheo đến thăm hỏi các ngoại đạo sư: Phú-lan-na Ca-diếp, Mạc-già-li43 v.v…, Phật dạy: “Không nên thăm hỏi, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”

23. Bói toán chú thuật
Các Tỳ-kheo học bói toán, các bạch y chê trách, nói: [174b01] “Sa-môn Thích tử không thể tự tịnh tri kiến của mình, làm sao biết được việc chưa xảy đến.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không cho phép học, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo học chú thuật mê hoặc người, bạch Phật, Phật không cho phép, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá. Các Tỳ-kheo học chú thuật làm cho người chết đứng dậy, Phật dạy: “Không cho phép, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
Các Tỳ-kheo hỏi các thầy bói toán, muốn biết mình tốt hay xấu, Phật dạy: “Không cho phép, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Các Tỳ-kheo đọc tụng ngoại thơ, các bạch y thấy chê trách: “Sa-môn Thích tử này không tin ưa phạm hạnh, bỏ Giới kinh của Phật, đọc tụng sách ngoài.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật không cho phép. Có các Tỳ-kheo cùng ngoại đạo luận đàm vì không biết nên xấu hổ, nghĩ rằng: “Đức Phật cho phép chúng ta đọc sách ngoài thì không đến nỗi bị xấu thế này,” Phật dạy: “Vì hàng phục ngoại đạo, cho phép đọc sách ngoài, nhưng không được theo sách đó mà sanh tri kiến.”
Có các Tỳ-kheo chứa nhiều loại âu bằng đồng nho nhỏ, các bạch y cơ hiềm: “Sa-môn Thích tử này chứa nhiều loại đồ dùng này, cùng với ta đâu có khác!” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên chứa nhiều loại âu bằng đồng nho nhỏ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.

24. Chuyển thể Phật ngôn
Có hai anh em người Bà-la-môn44 tụng sách Xiển-đà Phệ-đà,45 sau xuất gia trong chánh pháp, nghe các Tỳ-kheo đọc tụng kinh không nghiêm chỉnh, chê trách nói: “Các Đại đức xuất gia đã lâu mà không biết nói lời nam nữ, một lời nói, nhiều lời nói, lời nói hiện tại, quá khứ và vị lai, âm dài ngắn, âm nặng nhẹ, mới đọc tụng kinh Phật như vậy.” Tỳ-kheo nghe xấu hổ. Hai Tỳ-kheo đến chỗ đức Phật, trình bày rõ ràng, Phật dạy: “Cho phép tùy theo âm ngữ của nước mà đọc tụng, nhưng không được sai lệch ý của Phật, không cho phép dùng lời nói của Phật mà làm lời nói của ngoại đạo, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”46

25. Dây lưng, khâu móc
Có các Tỳ-kheo không buộc hạ y, vào xóm bị sút xuống, lộ hình, các người nữ cười, mắc cở, Phật dạy: “Không cho phép không buộc hạ y mà vào xóm làng, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.” Phật cho phép sắm dây lưng.”
Các Tỳ-kheo làm dây lưng quá dài, quấn đến 4, 5 vòng, Phật dạy: “Không cho phép làm dài, dài nhất có thể quấn 2, 3 vòng.” Các Tỳ-kheo may dây lưng quá rộng, Phật dạy: “Cho phép rộng nhất bằng bón ngón tay, hẹp nhất không dưới một ngón tay.”47 Các Tỳ-kheo dùng tạp sắc may dài, đức Phật không cho phép, chỉ cho phép dùng một màu mà thôi.48
Có các Tỳ-kheo mặc y mỏng vào xóm làng, gió thổi, lộ hình, các người nữ cười, mắc cở, Phật dạy: “Cho phép làm cái khâu móc cúc y, móc lại, nên dùng đồng, thiếc, răng, sừng, tre, cây để làm cái khâu, trừ loại cây sơn, cho đến làm cái dây để buộc.”
[174c01] Các Tỳ-kheo cứ mặc mãi cái y theo một chiều, phần dưới y dễ bị hư, Phật dạy: “Cho phép mặc lộn ngược y lại, bề trên, bề dưới đều tra cái khâu móc và sợi dây cột.”

26. Thần chú
Có các Tỳ-kheo tụng chú thuật không ăn muối, không ngủ trên giường, xưng tụng lời: “Nam mô Bà-già-bà.”49 Sau sanh nghi: Lẽ nào ta rơi vào dị kiến, theo pháp của ngoại đạo!?. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Thần chú pháp ấy là như vậy, chỉ đừng nên theo tri kiến đó.”

27. Úp bát
Bấy giờ Tỳ-kheo Từ Địa50 nói với Lô-di Lực Sĩ Tử:51 “Tỳ-kheo Đà-bà cùng vợ ông tư thông.” Lô-di nghe rồi hỏi Đà-bà: “Thật sự thầy có như vậy không?” Đà-bà không trả lời. Lô-di bèn nói: “Đà-bà phạm dâm xấu hổ nên không còn lời để đối đáp với ta.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép trao cho Lô-di, con của Lực Sĩ, pháp úp bát,52 bằng pháp Bạch nhị yết-ma, tất cả không được đến nhà Lô-di. Sai một Tỳ-kheo tuyên xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Lô-di Lực Sĩ Tử hư cấu, vu khống53 Đà-bà phạm dâm cùng vợ của mình. Nay Tăng trao cho pháp Yết-ma úp bát, tất cả không được đến nhà Lô-di. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Lô-di Lực Sĩ Tử hư cấu, vu khống Đà-bà phạm dâm cùng vợ của mình. Nay Tăng trao cho pháp Yết-ma úp bát, tất cả không được đến nhà Lô-di. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã trao cho Lô-di Lực Sĩ Tử pháp Yết-ma phú bát rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này, tôi ghi nhận như vậy.”
Nếu Tăng đã trao cho pháp Yết-ma úp bát, tất cả bốn chúng đều không được lai vãng nói chuyện.
Có các Tỳ-kheo cùng các Ưu-bà-tắc tranh tụng việc vụn vặt, bèn trao cho pháp Yết-ma úp bát. Đức Phật dạy: “Không nên vì những việc vụn vặt mà trao cho bạch y pháp Yết-ma úp bát. Phải thành tựu 8 pháp54 mới nên trao cho, như Ưu-bà-tắc đối trước các Tỳ-kheo hủy báng Tam bảo và giới, muốn cho các Tỳ-kheo bất lợi gây cho các Tỳ-kheo bị tiếng xấu ác, muốn đoạt trú xứ của Tỳ-kheo, phạm Tỳ-kheo-ni, đó là 8 pháp.”

28. Giải yết-ma úp bát
A-nan khi còn bạch y là bạn thân hậu với Lô-di, đức Phật bảo A-nan: “Thầy đến chỗ Lô-di nói: ‘Tăng đã trao cho bạn Yết-ma phú bát.’” A-nan vâng lời đến nhà Lô-di. Người giữ cửa vào báo: “A-nan đứng ngoài cửa.” Lô-di bảo: “Mời vào.” A-nan nói: “Nay tôi không được phép vào trong cửa nhà bạn.” Lô-di nghe, liền ra hỏi: “Tại sao bỗng nhiên thầy lại không vào nhà tôi?” A-nan đáp: “Tăng đã trao cho bạn pháp Yết-ma phú bát, tất cả bốn chúng không được cùng bạn nói chuyện.” Lô-di nói: [175a01] “Nếu như lời thầy nói tức là giết tôi rồi.” Lô-di liền té xỉu xuống đất, A-nan nói: “Ông bạn đứng dậy, đến tạ tội với Đà-bà, Tăng sẽ vì ông bạn giải pháp Yết-ma phú bát.” Lô-di liền đứng dậy đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật: “Con thật không thấy Đà-bà cùng vợ con tư thông, mà con tin theo lời của Từ Địa.” Đức Phật dạy: “Ông có thể dùng lời tạ tội với Đà-bà, Tăng sẽ giải pháp Yết-ma cho ông.” Lô-di vâng lời liền đến chỗ Đà-bà, đầu mặt đảnh lễ sát chân, tay ôm chân Đà-bà bạch: “Con ngu si nên tin theo lời của người, phỉ báng Đại đức, xin Đại đức nhận sự sám hối của con.” Tỳ-kheo Đà-bà nhận sự sám hối ấy. Lô-di tạ tội rồi đến chỗ đức Phật, bạch: “Con đã tạ tội với Tỳ-kheo Đà-bà rồi.” Đức Phật bảo Tỳ-kheo: “Cho phép Tăng Bạch nhị yết-ma để giải. Lô-di Lực Sĩ Tử nên đến giữa Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân tất cả Tăng, quì gối, chắp tay, bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con tên là Lô-di Lực Sĩ Tử, vu khống Đà-bà cùng vợ của con tư thông. Tăng đã trao cho con pháp Yết-ma phú bát, không cho tứ chúng tới lui nhà con. Con đã có lời tạ tội với Đà-bà rồi, nay chính thức thuận theo Tăng, đến Tăng xin giải Yết-ma phú bát. Ngưỡng cầu Tăng dũ lòng thương xót con mà giải Yết-ma phú bát.
Xin như vậy 3 lần. Tăng sai một Tỳ-kheo đọc tuyên ngôn:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Lô-di Lực Sĩ Tử vu khống Đà-bà tư thông với vợ của mình. Tăng trao cho pháp Yết-ma phú bát, không cho tứ chúng tới lui cùng nói chuyện với Lô-di. Lô-di đã có lời tạ tội với Đà-bà, nay đến Tăng xin giải pháp Yết-ma phú bát. Nay Tăng giải: Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Lô-di Lực Sĩ Tử vu khống Đà-bà… cho đến câu: Nay Tăng giải. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã đồng ý giải pháp Yết-ma phú bát cho Lô-di Lực Sĩ Tử rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này, tôi ghi nhận như vậy.”
Có các Ưu-bà-tắc vì việc nhỏ mà giận hờn Tỳ-kheo, bèn không kính tín. Đức Phật dạy:
“Ưu-bà-tắc không nên vì việc nhỏ mà không kính tín Tỳ-kheo. Nếu Tỳ-kheo thành tựu 8 pháp thì về sau mới không kính tín: hủy báng Tam bảo và giới, muốn các Ưu-bà-tắc bất lợi, gây tiếng xấu ác cho Ưu-bà-tắc, muốn đoạt chỗ ở của Ưu-bà-tắc, dùng phi pháp cho là chơn chánh, khi dối Ưu-bà-tắc. Đó là 8 pháp. Nếu Ưu-bà-tắc giận Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không nên đến nhà đó; nếu cả xóm làng đều giận Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không nên đến xóm làng ấy.”

29. Dù – gậy
[175b01] Bấy giờ, Bạt-nan-đà cầm dù mang dép da, xỏ cái đãy đựng bình bát vào đầu cây gậy, vác trên vai đi. Có một Ưu-bà-tắc cùng một đệ tử của ngoại đạo đi sau, từ xa thấy tưởng là ngoại đạo, nói với người của đệ tử ngoại đạo:
“Xem thầy của ông đi đằng trước kia có oai nghi hay không?”
Đệ tử của ngoại đạo nói: “Các ngươi thấy ai không có oai nghi đều gọi là ngoại đạo, rõ thật kia mà, người này là Thích tử.” Hai người cùng cãi nhau, rồi đánh cá, họ đuổi theo kịp, hỏi rõ thì ra quả thật là Thích tử. Người Ưu-bà-tắc đã bị mất tiền lại rất xấu hổ. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy:
“Không cho phép làm theo nghi pháp đó mà đi ngoài đường, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo trên đường đi, vì bảo tháp, Tỳ-kheo được cúng vải làm dù, không dám thọ, các cư sĩ chê trách nói: “Sa-môn Thích tử này không muốn cúng dường tháp,” bạch Phật, Phật dạy:
“Cho phép nhận, nhưng không được đi theo oai nghi của ngoại đạo.”
Có các Tỳ-kheo già bệnh, cần cây gậy quảy cái đãy đựng bình bát đi khất thực, Phật dạy: “Cho phép đến Tăng xin.55 Tỳ-kheo kia phải đến giữa Tăng thưa:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tôi Tỳ-kheo tên là… vì già bệnh, nay đến Tăng xin phép dùng cây gậy để quảy cái đãy bình bát đi khất thực, cúi xin Tăng cho phép.
Thưa xin như vậy 3 lần. Tăng nên cân nhắc nên cho hay không nên cho. Nếu thật không già bệnh thì không nên cho. Nếu thật già bệnh thì nên Bạch nhị yết-ma cho. Một Tỳ-kheo xướng lên:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo già bệnh này tên là… nay đến Tăng xin được phép dùng cây gậy để xỏ cái đãy đựng bình bát vào, vác đi khất thực. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo già bệnh này tên là… cho đến câu: nay Tăng cho. Các Trưởng lão nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã cho phép Tỳ-kheo già bệnh… này dùng cây gậy để xỏ cái đãy đựng bình bát vào, vác đi khất thực. Tăng đã chấp thuận nên im lặng. Việc này, tôi ghi nhận như vậy.”
Có các Tỳ-kheo muốn chứa cái đãy để đựng cây gậy, Phật dạy: “Nên làm.” Người được Tăng Yết-ma mới được phép chứa cái đãy đựng cây gậy. Nếu có Tỳ-kheo-ni thân quyến cũng cho phép làm, để vị kia có dùng.
Có các Tỳ-kheo đi khất thực gặp trời mưa, y bị phai màu, Phật dạy:
“Cho phép cầm dù, đến cửa để dù xuống đất, khất thực được rồi trở lại cầm để đi.”
Có các Tỳ-kheo cầm dù đi khất thực, khi trở về để dù nơi ôn thất, nhà giảng, chỗ ăn và các chỗ khác nên nước từ dù thấm ướt đất, nhão thành bùn, Phật dạy: “Cho phép làm cái nhà để dù, đừng làm trở ngại cho nhau.” [175c01] Có các Tỳ-kheo muốn làm cái dù riêng, Phật cho phép làm, vuông tròn tùy ý, dùng cây làm cái đầu, trừ cây sơn, lấy lá hay cỏ che lên trên, cũng cho phép dùng một trong mười loại y phủ lên trên. Tăng hay Tứ phương Tăng, hoặc cá nhân đều cho phép cất giữ, cũng cho phép chứa thêm một cái để dự bị.

30. Mắt đau
Có một Tỳ-kheo bị bệnh con mắt, đức Phật dạy: “Cho phép dùng thuốc mắt nhỏ vào lỗ mũi, dùng dầu bơ thoa trên đảnh, dùng bơ mặn thoa dưới chân.” Các Tỳ-kheo không biết dùng vật gì để làm ống nhỏ vào lỗ mũi, đức Phật dạy: “Trừ cây sơn, còn các loại ống của cây gỗ, tre, đồng, thiếc, răng, sừng đều làm được.”

31. Nhai lại
Có một Tỳ-kheo tên là Cù-di sau bữa ăn liền nhai lại, các Tỳ-kheo thấy, nghi là phạm thức ăn phi thời, bạch Phật, Phật dạy các Tỳ-kheo: “Tỳ-kheo này năm trăm kiếp về trước thường sanh trong loài bò, dư báo sanh vào loài người, phàm ăn thứ gì không nhai lại thì không tiêu. Từ nay những Tỳ-kheo như vậy, nhai phi thời không phạm.”

32. Y chỉ như pháp
Có các Tỳ-kheo, hoặc y chỉ Tăng trụ, hoặc y chỉ Tứ phương Tăng trụ, hoặc y chỉ tháp trụ, không có người giáo giới, ngu si không biết, không thể học giới, bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép y chỉ Tăng, Tứ phương Tăng và tháp để ở, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Cho phép y chỉ nơi Thượng tọa và Tỳ-kheo như pháp có khả năng giáo giới.”

33. Trùm mền ngủ chung
Khi ấy, các Tỳ-kheo cùng nhau trùm mền lại ngủ, thân xúc chạm nhau, sanh tâm nhiễm trước, không muốn tu phạm hạnh, đức Phật dạy: “Không cho phép trùm mền cùng nhau ngủ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Nếu vị nào không có y để trùm thì có cái áo lót khác, được quyền trùm. Nếu trú xứ vừa làm xong, chưa quen biết nhau, cho phép đồng ngồi một giường, nhưng không được ngủ, nếu ngủ cùng một giường phạm Đột-kiết-la.”

34. Chữa cháy
Có một chỗ trống vắng, lửa nơi đồng hoang muốn cháy đến, Tỳ-kheo không biết làm cách nào, bạch Phật, Phật dạy: “Thầy đến đó dập tắt đi.” Vâng lời dạy đến dập lửa mà lửa không tắt, trở lại bạch Phật, Phật dạy: “Có thể nhân danh Ta đến nói với thần lửa rằng, đức Thế Tôn muốn khiến ngươi tắt.” Vâng lời dạy đến nói, thần lửa liền tắt, trở lại bạch Phật, Phật dạy:
“Thần lửa này không những đời này nghe tên Ta mà lửa liền tắt, thuở đời quá khứ trong biển có một hòn đảo, bảy năm thường bị lửa đốt. Trên hòn đảo đó có một rừng cỏ, trong đó có một con chim trĩ sanh một chim con, cha mẹ thấy lửa muốn cháy lan đến liền bỏ đi, con chim con trương cánh và đưa chân ra, dùng bài kệ nói với thần lửa:
Có chân chưa đi được
Có cánh chưa bay được
Cha mẹ thấy bỏ đi
Chỉ xin mạng được sống.
Thần lửa liền dùng kệ trả lời:
[176a01] Đẻ trứng chẳng ai cầu
Mà nay đến xin ta
Nay ta sẽ cho ngươi
Bốn mặt đều một tầm.”
Đức Phật dạy: “Con trĩ con khi ấy chính là thân Ta; thần lửa lúc đó nay vẫn là thần lửa, xưa đã vì Ta mà dập tắt lửa, nay lại vì Ta mà làm lửa tắt. Nếu khi nào lửa đồng hoang cháy đến, nên đánh kiền chùy, hoặc xướng lịnh, Tăng đồng tập họp khiến tịnh nhân cắt cỏ xung quanh để chận ngọn lửa lại,56 dùng hai thứ nước và đất cát dập tắt lửa, hoặc lấy vải, y tẩm nước tiêu diệt ngọn lửa.”57

35. Vật tứ phương Tăng
Có các trú xứ, cờ lọng trong tháp thừa thải bỏ trong sân lung tung, dậm đạp trên đó, các bạch y chê trách nói: “Các Sa-môn này không tiếc vật của người ta cúng dường, để hư mục, chẳng phải pháp Sa-môn.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Trừ tháp Phật và Phật Bích-chi, ngoài ra, các tháp khác, vật dư, cho phép Tứ phương Tăng sử dụng, nếu sau, tháp này cần thì lấy lại vật của Tứ phương Tăng.”

36. Ăn tỏi sống
Khi ấy các Tỳ-kheo ăn tỏi sống,58 bữa ăn trước, bữa ăn sau, không lúc nào không ăn, cũng có lúc ăn không, cho nên trong phòng xá bị hôi thúi, các bạch y vào trong phòng nghe mùi hôi chê trách nói: “Trú xứ các Sa-môn này hôi mùi tỏi giống như nơi nhà bếp.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không cho phép, không có nhân duyên mà ăn tỏi. Nếu khi có nhân duyên ăn tỏi thì không được đi hay đứng trên đầu gió nơi có các Tỳ-kheo.”
Có một Tỳ-kheo vì nhân duyên nhỏ mà ăn tỏi, đức Phật nói pháp không dám đến nghe. Đức Phật hỏi: “Tại sao không đến nghe pháp?” “Bạch Thế Tôn, ngài không cho người được phép ăn tỏi mà đi hay đứng trên đầu gió nơi có Tỳ-kheo, cho nên con không dám đến.” Đức Phật bằng mọi cách quở trách Tỳ-kheo kia: “Thầy là người ngu si, làm việc phi pháp, ham ăn đồ hôi thúi mà phải mất cái lợi vô lượng của mùi vị pháp.” Quở rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay không cho phép nhân duyên nhỏ mà ăn tỏi, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Tỳ-kheo ăn tỏi nên chánh thuận các Tỳ-kheo. Chánh thuận là bảy ngày không được vào ôn thất, giảng đường, nhà ăn, nhà tắm, nhà xí, phòng người khác, đi ngang qua bên tháp hay xóm làng. Sau bảy ngày nên đập dũ ngọa cụ thì đập dũ, cần giặt thì giặt, nên hong phơi thì hong phơi, nên xông mùi thơm thì xông, xông phơi quét trong phòng, trét bùn khắp bên trong, tự giặt y phục, tắm gội thân thể, vậy sau mới vào.

37. Âu đồng
Bấy giờ, các Tỳ-kheo có cái âu đồng cỡ lớn, các bạch y thấy hỏi: “Cái này của ai?” Có người nói: “Của các Tỳ-kheo.” Họ bèn chê trách, nói: “Sa-môn này như đại thần của nhà vua, chứa cất cái âu đồng lớn này để làm gì?” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: [176b01] “Từ nay không cho phép chứa cất cái âu đồng lớn, nếu cất âu loại một thăng trở lên thì phạm Đột-kiết-la.”

38. Đại tiểu tiện
Khi ấy, các Tỳ-kheo tiểu tiện lung tung, hôi thúi bất tịnh, các bạch y cơ hiềm, nói: “Sa-môn Thích tử này không có oai nghi, tiểu tiện lung tung, hôi thối bất tịnh.”
Có một Tỳ-kheo tiểu tiện chỗ không nên tiểu tiện, quỉ thần nắm nam căn kéo đến chỗ vắng, nói: “Đại đức nên tiểu tiện chỗ này.” Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không được tiểu tiện lung tung, nên làm chỗ tiểu tiện nơi vắng vẻ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo không biết chỗ tiểu tiện, Phật dạy: “Cho phép hỏi cựu Tỳ-kheo.” Có các Tỳ-kheo già bệnh không đến chỗ tiểu tiện được, Phật dạy: “Cho phép sắm cái đồ để tiểu tiện.” Các Tỳ-kheo để đồ tiểu tiện ở trong phòng, hôi thúi, Phật dạy: “Không nên để trong phòng.” Các Tỳ-kheo để ngoài phòng, ác trùng sanh vào trong đó, Phật dạy: “Nếu cần để trong phòng thì nên đậy cái miệng đựng tiểu cho kín. Nếu để ngoài phòng cho đổ nước vào trong.”
Có các Tỳ-kheo đại tiện lung tung, các bạch y chê trách như trên, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, cho phép nơi chỗ vắng đào đất làm cái hố xí, trên có lợp, làm đường lên xuống và lan can, khi đầy phải đổ, nếu sanh trùng thì phải đào hầm đổ xuống, nếu chưa sanh trùng thì đem cặn men rượu đổ xuống hầm xí để khỏi sanh trùng.”

39. Xỉa răng
Có các Tỳ-kheo không xỉa răng, miệng hôi, ăn không tiêu. Có các Tỳ-kheo cùng Thượng tọa nói chuyện, miệng xông mùi hôi làm Thượng tọa ghê tởm. Các Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch Phật, đức Phật dạy: “Nên xỉa răng.” Xỉa răng có 5 công đức:59 ăn tiêu, trừ lạnh nóng, thèm ăn, khéo phân biệt mùi vị, miệng không hôi, con mắt sáng. Có các Tỳ-kheo lấy cây xỉa răng, Phật dạy: “Có 5 loại cây không nên xỉa: cây sơn, cây độc, cây Xá-di, cây Ma-đầu, cây Bồ-đề, ngoài ra các cây khác đều xỉa được.”

40. Trang nghiêm nơi tự tứ
Bấy giờ các Tỳ-kheo muốn trang nghiêm chỗ Tự tứ, Phật cho phép được trang nghiêm. Đến ngày Tự tứ xong, ban đêm nên thuyết pháp, không biết giao ai phụ trách, Phật dạy: “Nên giao cho vị có khả năng.” Các Tỳ-kheo viện lý do bệnh, không chịu thuyết pháp, Phật dạy: “Không nên vì lý do bệnh sơ sơ mà từ chối không thuyết pháp.”

41. Ác thú, trùng độc
Có trú xứ bị các ác thú xâm nhập, Phật dạy: “Cho phép đánh trống, đánh mõ, la lớn, kể cả đốt lửa.” Có trú xứ bị trùng độc xâm nhập, Phật dạy: “Nên bắt nó đem bỏ chỗ xa.” Các Tỳ-kheo lấy tay bắt nên bị nó cắn, Phật dạy: “Cho phép tìm cách cho nó vào trong cái bình rồi đem đi.”

42. Khóa cửa
Có trú xứ không đóng cửa, bị mất y, [176c01] Phật dạy: “Nên làm cái khóa cho kẻ gian không mở được.”
43. Hoạn phong
Tôn giả Xá-lợi-phất bị hoạn phong, vua Ba-tư-nặc nói: Nên dùng con ểnh ương khô xông mũi, không dám dùng, Phật cho phép dùng.

44. Nhuộm y
Có các Tỳ-kheo muốn nhuộm y, Phật dạy: “Cho phép dùng cây, nhánh, bông, lá, vỏ mà nhuộm.” Có các Tỳ-kheo muốn nhuộm Khâm-bà-la, đức Phật dạy: “Cho phép dùng cây Thi-thi-bà, cây Khư-tha-la, cây Hồ đào để nhuộm.” Các Tỳ-kheo lại nhuộm màu thuần đen, Phật dạy: “Không nên nhuộm y màu thuần đen.”

45. Khác y Phật
Nan-đà60 có 32 tướng, tuy không bằng Phật, các Tỳ-kheo từ xa thấy, tưởng là đức Thế Tôn, thường đứng dậy chào, Nan-đà hổ thẹn không biết làm thế nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Nan-đà may y khác hình tướng đối với y của Phật.”

46. Đầu-đà
Có các Tỳ-kheo thọ mười hai pháp đầu-đà61 nơi A-lan-nhã không xả, thọ thỉnh trụ tại nhân gian, cho đến phòng xá, v.v… bạch Phật, Phật dạy: “Tất cả đều phạm Đột-kiết-la, cho phép gần xóm làng cho đến một Câu-lô-xá, nếu không thể được thì nên xả.”

47. Thờ cúng quỉ thần
Có các Tỳ-kheo thờ cúng quỉ thần, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Không được vì quỉ thần, cho đến ngoại đạo sư xây tháp, cũng như vậy.” Có các Tỳ-kheo đã xây tháp cho quỉ thần, quỉ thần nương ở nơi đó, sau phá, quỉ thần giận hờn, Phật dạy: “Đã xây thì không nên phá, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo đại tiểu tiện trong tháp quỉ thần hoặc đi quanh phía tả, quỉ thần giận, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Nếu trên lộ trình đi bên tả thì cho phép đi theo lộ trình.”
48. Khắc hình, ca múa
Có các Tỳ-kheo khắc cây làm hình nam nữ, cầm thú, lại làm các đồ chơi cho trẻ nhỏ của các bạch y, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.” Có các Tỳ-kheo tự mình ca múa, dạy người ca múa; tự mình đánh nhạc, dạy người đánh nhạc; Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”62

[1] Hán: Tạp pháp 雜法; Tứ phần 51, tr. 945A20: Tạp kiền-độ 雜犍度. Pāli: Khuddakavatthukkhandhaka, chương nói về việc linh tinh.
2 Tứ phần 50, tr. 940b01: “Không nên lễ là tất cả những người nữ. Người thọ đại giới trước không lễ người thọ đại giới sau. Những người nói phạm biên tội, phạm Tỳ-kheo-ni, tặc tâm thọ giới, phá nội ngoại đạo, huỳnh môn, giết cha mẹ, giết A-la-hán, phá Tăng, ác tâm làm thân Phật ra máu, phi nhân, súc sanh, hai căn, bị cử, diệt tẫn, đáng diệt tẫn, và tất cả những người nói phi pháp, đều không nên lễ.”
3 Tứ phần 50, tr. 940b05: “Những người nào nên lễ? Sa-di-ni nhỏ nên lễ sa-di-ni lớn, lễ sa-di, thức-xoa-ma-na, Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo, và tháp của những vị, tất cả đều nên lễ. Hoặc sa-di niên thiếu nên lễ sa-di lớn, lễ sa-di-ni, thức-xoa-ma-na, cho đến Tỳ-kheo và tháp, tất cả đều nên lễ. Thức xoa-ma-na nhỏ nên lễ thức xoa-ma-na lớn, lễ Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo và tháp; thảy đều nên lễ. Tỳ-kheo-ni tuổi nhỏ nên lễ Tỳ-kheo-ni lớn, Tỳ-kheo và tháp; thảy đều nên lễ. Tỳ-kheo nhỏ nên lễ Tỳ-kheo lớn, và tháp của Tỳ-kheo, cũng nên lễ. Tất cả chư Thiên, người đời, chư ma, phạm vương, Sa-môn, bà-la-môn đều nên kính lễ Như Lai Thế Tôn, và tháp.”
4 Cây sơn, Hán: Tất thọ 漆樹, tiếng Anh “varnish tree”, tên Khoa học Rhus verniciflua Stokes. Loại cây này có hai loại, có loại thì nhựa cây có thể dùng làm sơn mài, nhựa trái chế đèn cầy… Có loại thì nhựa độc làm dị ứng da.
5 Hán: Tô-ma quốc 蘇摩國. Trường A-hàm 15 nói là một trong các dòng họ lớn. Trung A-hàm 55 liệt kê vào một trong 16 đại quốc thời Phật. Xem thêm cht. 142, Phần I, Ch. iv.
6 Hán: Diêm-phù thọ 閻浮樹: Xem cht. 123, Phần I, Ch. iv.
7 Tứ phần 51, 945a23- 52, tr. 952b: “Cho phép thọ trì bát ca-la và bát xá-la, và bát sắt”. Thập tụng 56 (tr. 416a8): Phật quy định 2 loại bát: bát sành và bát sắt. Tám loại bát không được phép chứa: bát vàng, bát bạc, bát lưu ly, bát ma-ni, bát đồng, bát bạch lạp, bát gỗ, bát đa. Tăng-kỳ 10 (tr. 314c22): các loại bát: 1. tham-bà參婆; 2. ô-ca-tư-ma 烏迦斯魔; 3. ưu-ca-tra-da 優迦吒耶; 4. đa-kỳ-da多 祇耶; 5. thiết bát鐵缽; 6. trí-diệp-ni 緻葉尼; 7. tất-lệ-thâu畢荔偷. Danh nghĩa tiêu thích 34 (Vạn 44, tr. 660c23): hai loại bát: hắc bát, bát đen ca-la 迦羅 (Skt. kālapatra); và xá-la 舍羅: xích bát, bát đỏ. Tì-ni mẫu 8 (T24 tr. 847b25): bát đen nước Tì-xá-li, bát đỏ nước Xá-vệ. Có sáu loại bát, thực chất chỉ có hai: bát sắt và bát sành. Pāli, Vin. iii. 243, hai loại bát: bát sắt và bát sành (dve pattā ayopatto mattikāpatto). Các loại bát, xem Phần I, Ch. iv. Ni-tát-kỳ 19.
8 Hán: Thiết bát鐵鉢. Pāli: Ayopatta.
9 Hán: Ngõa bát瓦鉢. Pāli: Mattikapatta.
10 Bát Tô-ma: Xem cht. cht. 142, Phần I, Ch. iv.
11 Ly-xa: Xem cht. 24, Phần III, Ch. v trước.
12 Tứ phần 51, tr. 952a16: “Thành Vương Xá có trưởng giả là đệ tử của lục sư ngoại đạo được một khúc gỗ chiên-đàn, dùng làm cái bình bát.”
13 Tát-giá Ni-kiền Tử 薩遮尼犍子. Tên một người theo phái Ni-kiền Tử. Có hai kinh quan trọng nói về vô ngã Phật giảng cho ông này. Xem, Tạp A-hàm 5, kinh 110 “Tát-giá”, Tăng nhất 30, No. 125 (tr. 715a28), 10, và một kinh thuộc Đại thừa, Đại Tát-giá Ni-kiền Tử sở thuyết kinh, No. 272. Pāli, có hai kinh, M. 35. Mahā-Saccaka-sutta, M. 34. Cūḷa-Saccaka-sutta.
14 Hán: Ngưu đầu chiên-đàn牛頭栴檀, còn gọi là xích chiên-đàn 赤旃檀, cây danh hương này sản sinh từ đỉnh Hy-mã-lạp sơn bắc Ấn Độ, nên cũng gọi là Ngưu-đầu sơn. Tứ phần51, tr. 946b16: Bát bằng gỗ chiên-đàn.
15 Tứ phần 51, tr. 946b19: “Nếu trong thành Vương xá này có Sa-môn, Bà-la-môn là A-la-hán có đại thần lực, thì cứ lấy chiếc bát này đi.” Cf. Vin. ii. 110. Skt: gośīrṣa-candana.
16 Hán: Tân-đầu-lô賓頭盧; Pāli, Vin. ii. 111, Piṇḍola-Bhāradvāja.
17 Tứ phần 51, tr. 946c03: “Tôi chưa từng hiện thần túc trước người bạch y. Thầy cũng là A-la-hán có đại thần lực, đã được đức Thế Tôn thọ ký cho là sư tử hống vào hàng tối thượng bậc nhất.” Cf. A. ii. 23. Cf. A-la-hán cụ đức kinh, T02, tr. 831.
18 Tứ phần 51, tr. 946c22: “Không nên đối trước bạch y hiện thần túc. Nếu hiện, phạm Đột-kiết-la. Tỳ-kheo không nên chứa cất bát bằng chiên-đàn. Nếu chứa thì sẽ trị như pháp.” Pāli, Vin. ii. 112: na…dārupatto dhāretabbo. Yo dhāreyya, āpatti dukkaṭassa, “Không được thọ trì bát gỗ. Ai thọ trì, phạm Đột-kiết-la.”
19 Tất-ba-la-diên Ma-nạp 畢波羅延摩納: Phiên Phạn ngữ 6, tr. 1023a11, ghi là tên một đất nước.
20 Hán: Am-la quả viên菴羅果園. Cf. Tứ phần 52, tr. 953b11: Am-bà-la viên 菴婆羅園. Tăng-kỳ 31 (tr. 478a20): Yêm-bạt-la viên菴拔羅園. Skt: Āmra, cây xoài, trái cây xoài. Pāli, Vin. ii. 109: Phật nói, các Tỳ-kheo không được ăn quả xoài (amba). Ai ăn, phạm Đột-kiết-la. Sau đó quy định thêm: chỉ được phép ăn sau khi đã tác tịnh bằng một trong năm cách.
21 Tứ phần 52, tr. 953b20: “Không nên ăn xoài.” Pāli, Vin. ii. 109: Phật nói, các Tỳ-kheo không được ăn quả xoài (amba). Ai ăn, phạm Đột-kiết-la. Sau đó quy định thêm: chỉ được phép ăn sau khi đã tác tịnh bằng một trong năm cách.
22 Hán: 五種子. Tứ phần: Ngũ chủng 五種, năm loại giống: căn chủng, chi chủng, tiết sinh chủng, phú la chủng, tử tử chủng. 根種枝種節生種覆羅種子子種. Tăng-kỳ, năm loại: từ rễ, từ cọng, ruột, lóng, quả 根種莖種心種節種子種. Thập tụng 12, năm loại: từ rễ, từ cọng, lóng, tự rụng, từ quả 根種子莖種子節種子自落種子實種子. Pāli: mūlabījaṃ, mầm từ rễ, khandhabījaṃ, mầm từ thân, phaḷubījaṃ, mầm từ đốt, aggabījaṃ, mầm từ đọt, bījabījaṃ, mầm từ hạt giống.
23 Hán: Ngũ chủng tịnh五種浄. Tứ phần 43, tr. 875a19: “Tác tịnh bởi lửa, tác tịnh bởi dao, tác tịnh bởi mụt nhọt, tác tịnh bởi chim cắn, tác tịnh bởi loại hột trỉa không mọc.” Tham chiếu Pāli, Vin. ii. 109, pañcahi samaṇakappehi phalaṃ paribhuñjitum, ăn trái cây với 5 điều hợp thức của sa-môn: aggiparicitaṃ (đã bị lửa phạm), satthaparicitaṃ (đã bị dao phạm), nakkhaparicitaṃ (đã bị móng tay phạm), abījaṃ (không có hạt mầm), nibbattabījaṃ (hạt mầm đã hỏng)”.
24 Phiên Phạn ngữ 7, tr. 1032c19: rắn Đề-lâu-lại-tra, dịch rắn trị quốc; rắn Đát-xa dịch là rắn nhìn độc; rắn Y-la-man dịch là rắn bò nhanh.
25 Rắn Xá-bà-tử舍婆子蛇; Pāli: Chabyāputta, tên một loại rắn độc.
26 Phiên Phạn ngữ 7, tr. 1032c23: rắn Tỳ-lâu-la-a-xoa, dịch là rắn trinh thám, rắn Cù-đàm là tên riêng, rắn Nan-đà Bạt-nan-đà, dịch là rắn hoan hỷ đại hoan hỷ.
27 Vua rắn, Hán: Long vương 龍王. Văn Hán dịch bất nhất.
28 Kỳ-vực(vức) 耆域 (Skt. Jīvaka), là tên khác của Kỳ-bà耆婆 (jivakajiva) là một ngự y (thầy thuốc riêng của vua) nổi tiếng vào lúc bấy giờ, cũng là đệ tử của Phật. (Xem thêm cht. 167, Phần III, Ch. i trước).
29 Tháo đậu 澡豆, người Trung Quốc thời cổ nghiền đậu thành bột, trộn với thuốc, làm bột tắm. Từ này dùng để chỉ bột tắm trong kinh Phật. Pāli: nahāniya-cuṇṇa. (Xem thêm cht. 362, Phần I, Ch. v).
30 Câu-nhiếp: Xem cht. 35, Phần III, Ch. v trước; Tứ phần 52, tr. 953c01: Câu chấp 拘執. Pāli: Vin. i. 281, kojava áo choàng hay chăn bằng lông dê.
31 Xem Phần I, Tỳ-kheo, Ba-dật-đề 73: Dọa nhát Tỳ-kheo.
32 Nước Đức-xoa-thi-la 德叉尸羅國, Skt. Takṣaśilā, Pāli: Takkasilā, dịch là Tạc thạch (đục đá), Tế thạch (đá mịn). Một nước xưa ở miền Bắc Ấn Độ, sau trở thành thuộc địa nước Kiền-đà-la (Gandhāra).
33 Hán: Xiểu tương麨漿, được địch từ: Đát-bát-na 怛鉢那 (Skt: tarpaṇa, Pāli: tappaṇa), cháo sữa, là một loại lương thực.
34 Để bản: Kiền tứ 犍恣, bản Tống, Nguyên, Minh gọi là Kiền từ 犍瓷, bản Thánh gọi là Kiền vọng犍望. Trùng trị tỳ-ni sự nghĩa tập yếu 5, X40n719, tr. 389b09 ghi: Kiền tứ dịch là bát cạn, nhỏ (thiển bát 淺鉢).
35 Tụ lạc Đô-di Bà-la-môn 都夷婆羅門聚落, còn gọi thôn Đô-tử Bà-là-môn, vị trí tại nước Câu-tát-la, nằm Tây bắc thành Xá-vệ hơn 60 dặm. Phiên Phạn ngữ 8, tr. 1040a20 ghi: Đô-di dịch là ngã rẽ (phán 判).
36 Cấm-mị 禁寐.
37 Ma-lê-ni 摩梨尼. Pāli: mālinī, dịch là người con gái mang vòng hoa. Cf. Bổn hạnh tập kinh 36, T03n190, tr. 823b14.
38 Diêm-phù-đàn: Xem cht. 103, Phần I, Ch. iv.
39 Xem Phần I, Ba-dật-đề 20. Tứ phần Ba-dật-đề 19. Các bộ khác cũng giống Tứ phần. Pāli, Pāc. 20 sappāṇaka.
40 Hán: Cù-già-li瞿伽離; Skt: Kokālika, Pāli: Kokāliya, là đệ tử Đề-bà-đạt-đa.
41 Cổ dương 羖羊: Dê đực đen. Chú cổ dương là chú thuật gì chưa rõ (?).
42 Hán: A-đà-la 阿陀羅, có lẽ chỉ cho tên đơn vị chứa thuốc (?).
43 Hán: Phú-lan-na Ca-diếp và Mạt-già-ly 富蘭那迦葉, 末伽離 (tức Mạt-ca-li Cù-xá-la 末迦利瞿舍羅). Pāli: Pūraṇa-kassapa. Makkhali (Makkhali-gosāla), là hai trong sáu lục sư ngoại đạo thời đức Thế Tôn ở Ấn độ vào lúc bấy giờ.
44 Tứ phần 52, tr. 955a17: Tỳ-kheo Dũng Mãnh 勇猛. Vin. ii. 139: Yameḷakekuṭā nāma bhikkhū dve bhātikā, hai Tỳ-kheo anh em tên là Yameḷa và Kekuṭā, giỏi ngôn ngữ, âm vận.
45 Hán: Xiển-đà Phệ-đà闡陀 吠陀. Pāli: Chando-veda, kinh điển veda nói về luật âm vận học (Skt: Chandas) của nền văn hiến và văn học tối cổ Ấn độ. Tương truyền văn học thánh truyền (Skt: Smṛti) này là thuật lại những những lời dạy của các bậc thánh hiền tối xưa, bao gồm nội dung: Ngữ âm học (Skt: Śikṣā), Vận luật học (Skt: Chandas), Văn pháp học (Skt: Vyākaraṇa), Ngữ nguyên học (Skt: Nirukta), Thiên văn lịch học (Skt: Jyotiṣa), Tế nghi cương yếu học (Skt: Kalpa-sūtra)… thì Xiển-đà (Pāli: Chando) là một trong những ngành học thuật của Thánh điển Veda.
46 Tứ phần 52, tr. 955a22: “Cho phép, tùy theo ngôn ngữ, phong tục của từng nước mà giải thích, tụng đọc kinh Phật.”
47 Cf. Vin. ii. 136, quy định về dây thắt lưng (kāyabandha): Tỳ-kheo vào tụ lạc khất thực mà không có thắt lưng, phạm Đột-kiết-la. Lục quần Tỳ-kheo làm dây nịt bện (kalābuka), có hình đầu rắn nước (deḍḍubhaka), có hình cái trống (muraja), gắn các khoen tai.
48 Tham chiếu, Pāli, Vin. ii. 136: Phật cho phép hai loại đai, paṭṭika: đai bằng giải dài; sūkaranta: đai hình đuôi heo? Nam truyền dịch là biên đái 編帶: đai bện. Bản Anh, bỏ trống, nói là không dịch được.
49 Hán: Bà-già-bà婆伽婆, Skt: Bhagavat, Pāli: Bhagavā, dịch là có công đức lớn, danh tiếng, có khả năng phá phiền não v.v… hàm ý là bậc đầy đủ mọi đức, được người đời tôn trọng cung kính; tức tôn xưng đức Phật.
50 Từ Địa: Xem Phần I, Ch. ii. Tăng-già-bà-thi-sa 8, 9.
51 Tứ phần 53, tr. 958c18: Các Đại Ly-xa 諸大離奢.
52 Hán: Phúc bát 覆缽; úp bát. Pāli: pattaṃ nikkujjatum.
53 Tứ phần 53, tr. 959a10: “Vô căn bất tịnh pháp 無根不淨法; ở đây được hiểu là pháp phi tịnh hạnh không căn cứ. Tội danh chính xác là “Vu khống bằng Ba-la-di không căn cứ.”
54 Tứ phần 53, tr. 959a27: “Có năm pháp nên trao cho pháp úp bát: Không hiếu thuận cha, không hiếu thuận mẹ, không kính sa-môn, không kính bà-la-môn, không cung sự Ty-kheo.” Cf. Pāli, Vin. ii. 125, có tám điều: khiến Tỳ-kheo mất lợi dưỡng (bhikkhūnaṃ alābhāya), khiến Tỳ-kheo mất lợi ích (anatthāya), khiến Tỳ-kheo mất chỗ ở (avāsāya), mắng chửi Tỳ-kheo (bhukkhū akkosati paribhāsati), gây chia rẽ Tỳ-kheo (bhikkhū bhikkhūhi bhedeti), huỷ báng Phật (buddhassa avaññaṃ bhāsati), huỷ báng Pháp, huỷ báng Tăng.
55 Tứ phần 52, tr. 955c28: Tỳ-kheo bệnh cần gậy để quảy bát đi đường, phải được Tăng yết-ma cho phép.
56 Tứ phần 53, tr. 960a15: “Đức Phật cho phép dọn trống một khoảng cỏ”.
57 Cách chữa lửa: Tứ phần 53, tr. 960a15: “Hoặc đào hầm làm cho gián đoạn, hay dùng đất dập cho tắt ngọn lửa; hoặc đốt lửa cháy ngược lại.”
58 Xem thêm Phần II, Ch. iv, Ba-dật-đề Tỳ-kheo-ni: 69.
59 Tứ phần 53, tr. 960c18: “Miệng không hôi, phân biệt được mùi vị, tiêu sức nóng, dẫn thực, mắt sáng.”
60 Hán: Nan-đà 難陀, Pāli: nanda, là em cùng cha khác mẹ của đức Thế Tôn, con của Kế mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề 摩訶波阇波提 (Skt: Māhaprajāpati)
61 Hán: Thập nhị đầu-đà pháp 十二頭陀法 (Skt: dvādaśa-dhūta-guṇāḥ), là mười hai pháp hành đầu-đà: (1) Thường hành khất thực, (2) Theo thứ tự khất thực, (3) Pháp ăn một lần, (4) Ăn thức ăn vừa đủ, (5) Sau giờ ăn ngọ không uống nước, (6) Mặc y phấn tảo, (7) Chỉ trì ba y (An-đà-hội, Uất-đa-la-tăng, Tăng-già-lê). (8) Ở nơi A-lan-nhã (nơi vắng vẻ không tịch), (9) Ở nơi gò mả, nghĩa địa, (10) Nghỉ dưới bóng cây, (11) Ngồi nơi đất trống, (12) Chỉ ngồi mà không nằm.
62 Bản Hán, hết quyển 26.



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *