Ngũ Phần Luật – 38. Phần V – Chương 7 – Pháp Điều Phục

CHƯƠNG VII : PHÁP ĐIỀU PHỤC

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

A. BA-LA-DI
I. BẤT TỊNH HẠNH
1. Ưu-ba-ly thỉnh vấn
Bấy giờ, Trưởng lão Ưu-ba-ly thưa hỏi đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, Tu-đề-noa Ca-lan-đà Tử[8] có phải phạm Ba-la-di hay không?” Đức Phật dạy: “Lần đầu đều không phạm.”
Lại hỏi: Tỳ-kheo ở A-lan-nhã ấy có phạm hay không? Đức Phật dạy: “Phạm.”
Có một Tỳ-kheo bị bệnh cuồng loạn hành dục, lúc bệnh cuồng loạn lành sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy:
“Người cuồng loạn đều không phạm. Tâm tán loạn, tâm bệnh hoại cũng như vậy.”
Tôn-đà-la nan-đà Bạt-kỳ Tử[9] không xả giới, hành dục pháp, sau nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm.”
Có một Tỳ-kheo cùng người nữ hai căn hành dục, có một Tỳ-kheo cùng người nữ hai đường hiệp lại hành dục, có một Tỳ-kheo cùng huỳnh môn hành dục, có một Tỳ-kheo cùng nam tử hành dục, có một Tỳ-kheo cùng tiểu nhi hành dục, sau đều sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Đều phạm.”
Có một Tỳ-kheo cùng tiểu nữ hành dục, tiểu nữ chết, nghi phạm hai tội Ba-la-di, hỏi Phật, Phật dạy: “Dâm phạm Ba-la-di; tiểu nữ chết, phạm Thâu-lan-giá.”
Có một Tỳ-kheo làm một tượng nữ bằng cây, hành dục, sau nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Xuất bất tịnh phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không xuất phạm Thâu-lan-giá; tượng người nữ bằng bùn hay vẽ cũng vậy.”
2. Cộng súc sanh
Có một Tỳ-kheo cùng với voi hành dục, sau nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm. Tất cả súc sanh cũng như vậy.”
Bấy giờ, tại thành Vương Xá có một Ưu-bà-di ngu tín khởi lên ý kiến: “Dùng dâm dục để bố thí là bố thí đệ nhất”, bèn mời các Tỳ-kheo đến để bố thí. Các Tỳ-kheo nói: “Chị em không nên làm như vậy, đó là điều mà đức Phật cấm.” Người nữ lại nói: “Nằm mà làm thì phạm, chứ đứng làm không gọi là phạm.” Tỳ-kheo liền làm theo lời nói, sau đó nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm. Ngồi làm, sau lưng dâm nữ, người nữ động, Tỳ-kheo không động cũng như vậy.”
3. Phi đạo
Bấy giờ nơi thành Xá-vệ có Ưu-bà-di ngu tín, tên là Thiện Khinh, khởi lên ý kiến: “Dùng pháp dâm dục để bố thí là cách bố thí đệ nhất”, bèn mời các Tỳ-kheo đến bố thí. Các Tỳ-kheo nói: “Chị em không nên làm như vậy, đó là điều Phật cấm.” Người nữ lại nói: “Ba chỗ thì phạm, chứ nơi kẽ bắp vế, nơi rún, tất cả các chỗ như thế không gọi là phạm.” Tỳ-kheo liền làm theo lời nói đó, sau đó nghi hỏi Phật, [182b01] Phật nói: ‘Xuất bất tịnh đều phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không xuất đều phạm Thâu-lan-giá.”
4. Cưỡng dâm
1. Khi ấy, có Tỳ-kheo ở A-lan-nhã nằm ngủ mê nơi chỗ đất trống, có người nữ thấy từ bên trên hành dâm. Tỳ-kheo thức dậy thấy đồ bất tịnh nhớp thân, lại thấy người nữ từ chỗ mình đi ra, sanh nghi, thưa hỏi Phật, Phật hỏi: “Ông có thọ lạc hay không?” Tỳ-kheo thưa: “Không thọ lạc.” Phật dạy: “Không phạm, nhưng ngủ mê nơi đất trống, phạm Đột-kiết-la; mở cửa phòng ngủ cũng như vậy.”
2. Lại có một Tỳ-kheo nằm ngủ mê nơi chỗ đất trống, có người nữ thấy từ bên trên hành dâm, Tỳ-kheo khi thức dậy thọ lạc, sanh nghi hỏi Phật, Phật nói: “Phạm.”
3. Nơi Tỳ-xá-ly có một Tỳ-kheo chứng A-la-hán bị phong bệnh cả cơ thể cường trực, người nuôi bệnh để nằm nơi chỗ đất trống, vào tụ lạc khất thực. Có người nữ đi đến từ bên trên hành dâm. Hành dâm rồi nam căn của Tỳ-kheo vẫn cường trực như cũ, các người nữ nói: “Đây là hùng sĩ”, liền dùng hương thoa, tràng hoa đeo nơi “đầu” đảnh lễ rồi đi. Người nuôi bệnh trở về thấy đồ bất tịnh nhớp cả thân thể vị ấy, khởi ý nghĩ: “Tỳ-kheo này không tu phạm hạnh, phá tịnh giới, ta sẽ thôi trưởng tịnh (Bố-tát) cho Tỳ-kheo này”. Nhưng lại nghĩ: “Đức Thế Tôn không cho phép thôi trưởng tịnh cho Tỳ-kheo bệnh, nên đợi vị kia lành đã”. Vị Tỳ-kheo bệnh kia lành rồi bèn thôi trưởng tịnh cho vị kia và nói: “Trước đây, khi thầy bệnh, thầy phá giới.” Tỳ-kheo kia trả lời: “Khi tôi bị bệnh như vậy, thân thể cường trực, không thể tự nhiếp, chẳng phải là phá giới.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, đức Phật dạy:
“Tỳ-kheo này đã chứng A-la-hán, bị phong bệnh nên cường trực, không thể tự nhiếp, không thọ lạc nên không phạm. Tỳ-kheo nuôi bệnh để bệnh nhơn nằm nơi đất trống mà đi, phạm Đột-kiết-la.”
4. Bấy giờ, có Tỳ-kheo lấy nam căn châm vào miệng của Tỳ-kheo khác, sau đều sanh nghi thưa hỏi Phật, đức Phật dạy:
“Nếu người châm mà vì vui chơi thì phạm Thâu-lan-giá, người thọ chẳng phải vì vui chơi thì phạm Ba-la-di; nếu người thọ mà vì vui chơi thì phạm Thâu-lan-giá; người châm chẳng phải vì vui chơi thì phạm Ba-la-di; nếu cả hai đều vì vui chơi thì đều phạm Thâu-lan-giá; nếu cả hai đều chẳng phải vì vui chơi thì đều phạm Ba-la-di.”
5. Tắm chung
Bấy giờ, các Tỳ-kheo cùng bạch y tắm chung trong một nhà tắm, bạch y lưu ý hình tướng của quý vị, đem nói với các người nữ; hơn nữa thân va chạm nhau sanh tâm nhiễm trước, đưa đến tình trạng hòan tục làm ngoại đạo. Các Tỳ-kheo đem vấn đề ấy bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên tắm như vậy. Nếu cùng bạch y tắm trong một nhà tắm, phạm Thâu-lan-giá.”
6. Hành dâm trong mộng
Có một Tỳ-kheo Ma-ha-la trong mộng cùng với bổn nhị (vợ cũ) hành dâm, thức dậy chạy ra ngoài phòng cao giọng la lớn: “Tôi chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Thích chủng tử.” Các Tỳ-kheo hỏi: “Vì sao?” Ma-ha-la trả lời: “Tôi cùng với bổn nhị hành dâm.” Các Tỳ-kheo hỏi: [182c01] “Bổn nhị của thầy nay ở đâu?” Tỳ-kheo nói: “Ở tại tụ lạc, sanh quán của tôi.” Các Tỳ-kheo hỏi: “Người ấy đến đây hay thầy đến đó?” Người ấy không đến đây mà tôi cũng không đến đó.” Các Tỳ-kheo lại hỏi: “Như vậy làm như thế nào cùng nhau hành dâm?” Đáp: “Hành dâm trong mộng.” Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng không hệ niệm tại tiền mà ngủ, phạm Đột-kiết-la.”
7. Sanh nghi
Có một Tỳ-kheo đứng tiểu tiện, con chó đến ngậm nam căn, sanh nghi, thưa hỏi Phật, Phật dạy:
“Không phạm, nhưng đứng mà tiểu tiện, phạm tội Đột-kiết-la. Trú xứ Tỳ-kheo không nên nuôi súc sanh như vậy, nếu nuôi, phạm tội Đột-kiết-la.”
Có các Tỳ-kheo nam căn dài, do dục tâm tự mình châm vào đường đại tiện, sanh nghi, thưa hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm.” Có một Tỳ-kheo thân thể mềm, lấy nam căn tự để vào trong miệng, cũng như vậy.
8. Giữ học giới
Có một Tỳ-kheo tọa thiền,4 ma nữ đến đứng trước mặt, Tỳ-kheo thấy sanh tâm nhiễm trước, bỗng đứng dậy nắm người nữ kia, người nữ bèn chạy, Tỳ-kheo cũng chạy theo. Người nữ đến nơi một cái xác con ngựa chết, rồi biến mất, Tỳ-kheo bèn hành dâm nơi con ngựa, liền sanh tâm hối hận nói với các Tỳ-kheo. Các Tỳ-kheo đem vấn đề bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Tăng trao cho Tỳ-kheo kia pháp Ba-la-di, bằng Bạch tứ yết-ma. Tỳ-kheo kia nên đến giữa Tăng, cởi bỏ giày dép, để trống vai bên hữu, kính lễ sát chân Tăng, quỳ gối, chắp tay, bạch:
Tôi Tỳ-kheo tên là… phạm dâm, liền sanh tâm ăn năn, không che giấu, nay đến trước Tăng xin pháp Yết-ma Ba-la-di, cúi xin Tăng cho tôi pháp Yết-ma Ba-la-di.
Xin như vậy 3 lần. Tăng sai một Tỳ-kheo biết pháp tuyên xướng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo này tên là… phạm dâm, liền sanh tâm ăn năn, không che giấu, đến Tăng xin pháp Yết-ma Ba-la-di. Nay Tăng trao cho pháp Yết-ma Ba-la-di. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo này tên là… phạm dâm… cho đến câu: Nay Tăng trao cho pháp Yết-ma Ba-la-di. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói. Lần thứ hai, lần thứ ba cũng nói như vậy.
Tăng đã trao cho Tỳ-kheo… pháp Yết-ma Ba-la-di rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.
Tỳ-kheo kia trọn đời không được thọ thức ăn nơi đại Tỳ-kheo mà tự mình thọ nơi tịnh nhân. Khi Bố-tát, Tự tứ, làm các pháp Yết-ma, vị ấy đến thì tốt, không đến hai bên (Tăng và đương sự)* không phạm.”
Có Tỳ-kheo cùng với Thiên nữ, Long nữ, A-tu-la nữ hành dâm, sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Đều phạm.”
II. BẤT DỮ THỦ
1. Thức ăn
Có một Tỳ-kheo đến nhà người, nơi làm thức ăn, lấy một bát canh, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Thầy lấy với tâm gì?” [183a01] Tỳ-kheo thưa: “Con lấy với tâm trộm cắp.” Đức Phật dạy: “Nếu trị giá 5 tiền thì phạm Ba-la-di, nếu dưới 5 tiền thì phạm Thâu-lan-giá; vào trong vườn của người hái cây, rau trái cũng tính như vậy.”
2. Đoạt lại vật bị cướp
1. Có Tỳ-kheo bị cướp, cướp đoạt, dành lại được y vật; sanh nghi, thưa hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm.”
2. Lại có Tỳ-kheo bị giặc cướp đoạt, vật đã vào trong tay giặc, hoặc giặc đã mang đi, sau đó chạy theo lấy lại được, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Tâm của thầy đã xả y chưa?” Tỳ-kheo thưa: “Chưa xả.” Đức Phật dạy: “Chưa xả không phạm, đã xả thì phạm.”
3. Đánh lừa
1. Có Tỳ-kheo ở nơi A-lan-nhã thấy con heo rừng bị bắn chạy đến, cùng nhau bàn nói: “Đừng chỉ cho thợ săn.” Thợ săn tìm đến hỏi Tỳ-kheo: “Thấy con heo rừng bị bắn chạy đến đây không?” Tỳ-kheo nói: “Chỗ nào có heo? Heo của ai? Không có heo!” Sau đó, Tỳ-kheo lại nghĩ: Ta nói không có heo, lẽ nào mắc tội giấu heo, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm; nếu có nhân duyên như vậy, những cách nói để đánh lạc hướng của người kia đều không phạm tội.”
2. Có Tỳ-kheo ở nơi A-lan-nhã thấy người thợ săn bắt được con nai sống cột lại, rồi bỏ đi, do lòng lân mẫn Tỳ-kheo mở thả, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy:
“Không phạm, song không nên đối với vật của người mà tự tiện thả như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Vì lòng lân mẫn mà thả tất cả súc vật của người cũng đều như vậy.”
3. Có Tỳ-kheo thấy chim Câu-lâu-đồ ngậm miếng thịt dồi lên để chơi, bảo nó nhả ra, sanh nghi, thưa hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, song không nên đối với việc vô ích mà tìm cách làm đánh mất phần của nó, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
4. Súc sanh
Có một Tỳ-kheo thấy con bò của người đi trên đường, với tâm trộm cắp rượt đuổi nó, liền sanh hối hận, xả bỏ, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá.” Có Tỳ-kheo thấy vật trôi trên nước vớt được, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu trị giá 5 tiền thì phạm Ba-la-di.”
5. Ruộng vườn
Có Tỳ-kheo đi cách Kỳ-hoàn không xa, thấy một người cày ruộng, nói: “Đây là ruộng của Tăng, ông đừng cày.” Người cày nghĩ: “Các Tỳ-kheo có thế lực, nếu kiện tụng thì ta sẽ bị thua, bèn không cày.” Tỳ-kheo liền trở về Kỳ-hoàn, hỏi các Tỳ-kheo, ruộng ấy của ai, các Tỳ-kheo nói: “Ruộng ấy của cư sĩ tên là…” bèn sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy:
“Không phạm, nhưng trong trường hợp vô ích mà nói khiến cho họ mất, đều phạm Đột-kiết-la.”
6. Bắt lại
Khi ấy nhóm 17 Đồng tử bị giặc bắt, cha mẹ nó khóc kể áo não, Tất-lăng-già-bà-ta đi khất thực qua đó, thấy vậy hỏi họ: “Việc gì vậy?” Họ trình bày đầy đủ sự việc. Tất-lăng-già-bà-ta liền nhập định quan sát thì thấy bọn giặc đem để nơi vùng sông A-di-la,5 bèn dùng thần túc bắt trở lại, [183b01] mỗi đứa được đưa về nhà chúng và để chúng trên tầng lầu. Tất-lăng-già-bà-ta nói với cha mẹ chúng nó: “Đừng nên khóc nữa, con của các người nay đã trở về giỡn chơi trên tầng lầu.” Sau đó nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Đột-kiết-la.”
7. Vọng ngữ
Có Tỳ-kheo vì lợi dưỡng tự nói mình lớn tuổi đối với người khác, sau nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng cố ý vọng ngữ mắc tội Ba-dật-đề.”
8. Dùng chung nước
Có một trú xứ Tỳ-kheo cùng bạch y dùng chung một cái giếng, bạch y với tâm trộm cắp lấy nhiều nước hơn, Tỳ-kheo cũng với tâm trộm cắp, khởi ý niệm: Nay chỉ một mình ta, sao ta không lấy nhiều, nhưng chưa lấy, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu lấy nước của người mà lấy dư, trị giá 5 tiền thì phạm Ba-la-di.”
9. Trộm y
Có Tỳ-kheo ở nơi chỗ kia, lấy trộm y của người, trị giá 5 tiền, đến chỗ này bán không được 5 tiền, nghĩ là không phạm Ba-la-di, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Nơi lấy cắp trị giá 5 tiền phạm Ba-la-di; nếu ở chỗ kia không trị giá 5 tiền, đến đây bán trị giá 5 tiền thì phạm Thâu-lan-giá.”
10. Trộm kinh
Có Tỳ-kheo trộm kinh Phật của người, cho là lời Phật dạy không phạm, sau nghi hỏi Phật, Phật dạy:
“Tính theo giấy bút và công phu của sách, trị giá 5 tiền thì phạm.”
11. Nhận di chúc
Bấy giờ, tại Câu-xá-di có một ông trưởng giả, thấy pháp đắc quả, thường cung cấp cho các Tỳ-kheo. Ông trưởng giả và người chị mỗi người có một người con. Hai người thường cùng nhau cúng dường Tỳ-kheo Trưởng lão A-thù.6 Ông trưởng giả khi gần lâm chung, chỉ chỗ chôn cất của báu cho Tỳ-kheo A-thù và nói: “Sau khi con qua đời, trong hai đứa nhỏ này, đứa nào tin ưa Phật pháp, đối với các Tỳ-kheo thường không tiếc của thì ngài chỉ chỗ chôn cất của báu này cho nó.” Nói rồi liền trút hơi thở cuối cùng.
Sau đó, Tỳ-kheo A-thù xét thấy trong hai đứa nhỏ, thằng con của ông trưởng giả lại quay lưng với chánh pháp, người con của bà chị lại tin ưa Phật pháp, bèn nói với đứa con của bà chị biết chỗ chôn cất của báu.
Con của ông trưởng giả nghe liền đến chỗ A-nan hỏi: “Tài sản của cha để lại nên thuộc về của ai?” A-nan nói: “Nên thuộc về người con.” Con ông trưởng giả liền nói với A-nan: “Của báu của cha tôi cất giấu, Tỳ-kheo A-thù lại giao cho con của cô tôi.”
A-nan liền đến nói với A-thù: “Thầy chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải là họ Thích.” A-thù trả lời: “Tôi là Sa-môn, là họ Thích, chính tôi đủ tư cách y theo các kinh, luật để phán quyết việc này.” A-nan nói: “Việc này nó như vậy, cần gì đến kinh, luật.”
Khi ấy các Tỳ-kheo Trưởng lão đều yểm trợ cho chủ trương của A-thù. Hai chúng của A-nan và A-thù chia rẽ nhau,7 trong thời gian sáu năm không hòa hợp, cùng an cư một trú xứ mà không Bố-tát, Tự tứ. Tiếng đồn khắp hết, đến tận trời Phạm thiên.
Bấy giờ, La-hầu-la du hóa nơi thành Ca-duy-la-vệ, các nữ họ Thích đều cùng nhau ra nghinh [183c01] đón, trình bày đầy đủ việc trên và than phiền: “Tại sao đức Thế Tôn Nê-hoàn chưa bao lâu, chúng Tăng lại không hòa hợp, kéo dài đã sáu năm?! Chúng con muốn chúng Tăng hòa hợp mà không còn biết làm cách nào!” La-hầu-la nói: “Tôi sẽ chỉ vẽ cho các người khiến cho những vị đó hòa hợp: Thế nào tôn giả A-nan cũng sẽ đến đây, các người có con nhỏ đều nên bồng ra để đón tiếp tôn giả. Khi ấy mọi người hãy để các hài nhi xuống đất, thế nào các hài nhi cũng sẽ khóc, tôn giả sẽ hỏi: ‘Tại sao các bà không bồng nó lên?’ Các cô sẽ trả lời: ‘Nếu Trưởng lão cùng với A-thù hòa hợp, thì chúng con mới bồng các cháu lên.’ Các bà dùng phương tiện này sẽ khiến cho các vị ấy hòa hợp.”
Thời gian không lâu, A-nan đến, năm trăm Thích nữ bồng các hài nhi ra đón, và để các cháu xuống dưới đất, trước mặt A-nan, các hài nhi liền khóc lớn. Quả thật tôn giả A-nan nói: “Tại sao không bồng các cháu lên?!” Các bà đồng thanh trả lời: “Nếu Trưởng lão cùng với A-thù hòa hợp, thì chúng con mới bồng các cháu lên.” Tôn giả A-nan cảm thông được nổi lòng của các bà, lại thương các hài nhi nên nói: “Chị em bồng các cháu lên, tôi sẽ cùng với A-thù hòa hợp.”
Tôn giả A-nan liền trở về họp chúng Tăng. Ưu-ba-ly hỏi A-nan: “Tỳ-kheo không cho mà lấy có mấy hạng phi Sa-môn, phi chủng tử họ Thích?” A-nan trả lời: “Có ba hạng: Tự mình lấy, dạy người lấy, khiến cho người lấy.” Ưu-ba-ly hỏi A-thù: “Thầy có tự lấy, có dạy người lấy, có khiến người lấy hay không?” A-thù trả lời: “Không.”
Ưu-ba-ly lại hỏi A-nan: “Tỳ-kheo A-thù có lỗi gì?” A-nan nói: “A-thù không có lỗi, mà chính tôi là người có lỗi.” Thế là A-nan giữa Tăng dõng dạc nói lớn: “Chính tôi, A-nan có lỗi, A-thù không có lỗi.” A-nan bèn hướng đến A-thù sám hối để hòa hợp.
12. Đồng lõa
Có một Tỳ-kheo vốn là một người ăn trộm, nói với các Tỳ-kheo: “Có thể cùng tôi đến xóm làng kia lấy vật dụng.” Các Tỳ-kheo bèn làm theo lời nói của vị kia đến trước để lấy. Tỳ-kheo kia sau đó sanh nghi, hỏi Phật: “Con dạy người lấy trộm vật như vậy, phạm Ba-la-di hay không?” Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá.”
13. Y vật
1. Có Tỳ-kheo lấy y phủ trên gò mả của người ta, lấy tràng phan trên gò mả, y trong gò mả, vật trong miễu Thần, có người thủ hộ, sanh tâm che giấu, hỏi Phật, Phật dạy: “Tâm người khác chưa xả mà lấy, trị giá năm tiền đều phạm Ba-la-di; vật ở trong miếu tuy không có chủ, mà là nhà quan bảo hộ, cũng như vậy.”
2. Có Tỳ-kheo giận người khác, hoặc đốt nhà của họ, hoặc đốt ruộng lúa của họ, tài sản của họ, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá; vì giận mà phá hoại vật của người khác cũng như vậy.”
3. Tỳ-kheo lượm cái đãy đựng một nghìn lượng vàng trong hang chuột, lấy với tâm tham, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Thuộc về vật của chuột, không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá; nếu với tâm trộm mà lấy của cầm thú, cũng như vậy.”
4. Có Tỳ-kheo nơi bữa ăn, vội ăn phần của người khác, người khác hỏi: Ai ăn phần của tôi? Tỳ-kheo kia nói: “Tôi ăn”, người kia nổi sân, [184a01] sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Chẳng phải tâm trộm cắp thì không phạm, nhưng không nên vội nghĩ rằng được sự đồng ý mà ăn phần của người, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
5. Có Tỳ-kheo đánh bạc lấy tiền của người, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Đột-kiết-la.”
6. Có hai Tỳ-kheo đồng ý mặc y của nhau, sau giận nhau hủy báng cho là ăn trộm, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng không nên vội đồng ý mặc y của người khác, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
14. Hỗ trợ trốn thuế
Bấy giờ, Bạt-nan-đà cùng với người khách buôn đồng đi trên một lộ trình, khi đến chỗ thuế quan người khách buôn đến Bạt-nan-đà mượn cái đãy, âm thầm bỏ viên ngọc đại quý giá vào trong, rồi trả cái đãy lại. Bạt-nan-đà không biết, qua khỏi chỗ thuế quan rồi, người khách buôn đòi lại viên ngọc trong đãy, Bạt-nan-đà nói: “Tôi không lấy ngọc của người.” Người khách buôn nói: “Thật sự thầy không lấy ngọc của tôi, nhưng vừa rồi tôi mượn cái đãy của thầy, tôi bỏ viên ngọc vào trong đó.” Bạt-nan-đà liền trả lại viên ngọc, rồi sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng muốn qua khỏi chỗ thuế quan, có người mượn vật gì, khi trả lại cần đập giũ và xem kỹ, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
15. Cố ý vọng ngữ
Bây giờ có đệ tử Tỳ-kheo-ni Chiên-đồ Tu-ma-na, đến nơi nhà đàn-việt của thầy, nói dối: “Thầy bệnh, cần 3 thứ cháo thuốc”, nhận được rồi, ra ngoài ăn. Vợ người chủ nhà sau đó đến thăm, hỏi: “Sư cô bệnh lành chưa?” Tỳ-kheo-ni hỏi: Tôi đâu có bệnh, tại sao hỏi vậy?” Người đàn-việt trình bày sự việc đầy đủ. Sư cô nói với đệ tử: “Cô ăn trộm cháo của tôi.” Cô đệ tử nói: “Thật sự con không ăn trộm, đối với Hòa thượng con có khởi ý nghĩ là đồng ý nên con mới lấy”, rồi sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không khởi tâm ăn trộm thì không phạm, nhưng cố ý vọng ngữ nên mắc tội Ba-dật-đề.”
16. Tháo nước
Có Tỳ-kheo thấy ruộng của người chủ không có nước, tháo nước của người khác để tưới; sanh nghi hỏi Phật; Phật dạy: “Nếu trị giá 5 tiền thì phạm.”
17. Quăng và lấy y
Có Tỳ-kheo ở chỗ cao quăng y của người khác cho Tỳ-kheo ở dưới thấp, cả hai đều sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu với tâm ăn trộm mà quăng thì phạm Ba-la-di, không có tâm trộm mà lấy, phạm Thâu-lan-giá. Nếu không có tâm trộm mà quăng thì phạm Thâu-lan-giá, với tâm trộm mà lấy, phạm Ba-la-di. Cả hai đều với tâm trộm thì đều phạm Ba-la-di, cả hai đều không có tâm trộm, đều phạm Thâu-lan-giá.” Có Tỳ-kheo với tâm trộm đổi lấy vật tốt của Tăng, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Vật đổi trị giá 5 tiền thì phạm.”
III. ĐOẠN NHÂN MẠNG
1. Ngộ sát và cố sát
1. Khi ấy, có Tỳ-kheo lấy đá quăng con rắn lại nhầm trúng người chết, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Thầy quăng với tâm gì?” Tỳ-kheo thưa: “Muốn quăng cho con rắn chết.” Đức Phật dạy: “Người chết, không phạm, quăng con rắn, phạm Đột-kiết-la.”
2. Có Tỳ-kheo giết con khỉ cái giống con người, sanh nghi hỏi Phật, đức Phật dạy: “Đoạt mạng sống của súc sanh, phạm Ba-dật-đề.”
3. [184b01] Có một người đàn bà, chồng đi vắng không có ở nhà, tư thông với người hàng xóm, có thai, đến vị Tỳ-kheo thường cúng dường xin thuốc để phá thai, vị Tỳ-kheo cho thuốc, thai bị hư mà bà mẹ không chết; sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm. Nếu muốn phá thai, mẹ chết mà thai không chết, phạm Thâu-lan-giá; nếu đều chết, phạm Ba-la-di; nếu đều không chết, phạm Thâu-lan-giá. Đè bụng cho đọa thai cũng như vậy.”
4. Có các Tỳ-kheo không ưa tu phạm hạnh, mà không bỏ đạo, trở thành người hạ tiện, tìm sự chết bằng cách từ trên cao lao mình xuống, trúng nhằm trên mình người ở dưới, người ở dưới chết mà mình không chết, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Thầy làm như vậy với tâm gì?” Đương sự thưa: “Muốn tự hủy.” Phật dạy: “Người kia chết không phạm nhưng tạo phương tiện để tự hủy mình đều phạm Thâu-lan-giá.”
5. Có hai Tỳ-kheo trước giận nhau, sau cùng nhau đi trên một đường, trên đường đi đánh nhau, một người bị chết, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Thầy làm như vậy với tâm niệm gì?” Đương sự thưa: “Với tâm giận.” Phật dạy: “Không có tâm sát, không phạm, nhưng giận Tỳ-kheo khác, mắc tội Ba-dật-đề. Từ nay không cho phép người cùng giận nhau, chưa sám hối tạ tội mà cùng nhau đi một đường, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
6. Có Tỳ-kheo đánh quỷ chết, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm Thâu-lan-giá.”
7. Có Tỳ-kheo muốn giết người này mà nhầm người kia, sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá.”
IV. ĐẠI VỌNG NGỮ
1. Tự thuyết
Bấy giờ các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng, bằng mọi cách khen ngợi người khác thành tựu giới, thành tựu định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, mà âm thầm tự cho mình là tốt, rồi sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu tất cả đều như vậy không phân minh tự thuyết, thì đều phạm Thâu-lan-giá.”
2. Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc tự thuyết
1. Tại Tỳ-xá-ly có một cây đại thọ tên là Ni-câu-loại, bóng mát che được năm trăm cỗ xe, Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc thấy, nói với các Tỳ-kheo-ni rằng: “Khi tôi ở trên cõi trời, chiếc hoa ‘Chúy nhĩ biên’ lớn… như cây này.” Các Tỳ-kheo-ni gọi đó là điều vô lý, bằng mọi cách quở trách: “Tại sao Tỳ-kheo-ni lại tự nói được pháp hơn người,” bạch Phật, Phật dạy: “Trên cõi trời thật có chiếc hoa như vậy, Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc nói thật, không phạm.”
2. Tỳ-kheo Tỳ-la-trà Tư-ha bị bệnh ghẻ đến năm trăm mụt, lở lói hôi thúi không thể nhìn được. Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc cùng năm trăm Tỳ-kheo-ni đến thăm. Hoa Sắc thấy rồi bèn cười. Các Tỳ-kheo-ni quở trách: “Tại sao không có tâm lân mẫn, thấy Tỳ-kheo như vậy lại cười?” Hoa Sắc trả lời: “Tỳ-kheo này đời quá khứ là một vị đại quốc vương, tên là Tỳ-kiệt-bà, lúc ấy tôi là đệ nhất phu nhơn. [184c01] Nhà vua đã cưỡng bức lấy năm trăm đồng nữ, phá hỏng cuộc đời của họ, do nhân duyên ấy, vô số trăm ngàn vạn năm đọa vào đại địa ngục bị khổ độc thiêu đốt, dư báo nhận lấy năm trăm mụt ghẻ này.” Các Tỳ-kheo-ni nói: “Không có lý này,” bằng mọi cách quở trách: “Tại sao Tỳ-kheo-ni lại xưng đắc pháp hơn người”, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo kia thật như vậy, Hoa Sắc nói đúng sự thật, không phạm.”
3. Mục-kiền-liên tự thuyết
Khi ấy Trưởng lão Mục-kiền-liên nói với các Tỳ-kheo: “Tôi thấy ao A-nậu-đạt8 có cái bông sen lớn như bánh xe.” Các Tỳ-kheo không tin, cho là hư dối, nói để được pháp hơn người, bạch Phật, Phật dạy:
“Thật có cái bông sen này, Mục-kiền-liên nói đúng sự thật, không phạm.”
4. Vọng ngữ
1. Có các Tỳ-kheo dối nói được pháp hơn người, nói như thế này: “Tôi có nghiệp báo nhơn duyên Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm trí,” sau nghi hỏi Phật, Phật dạy:
“Không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá.”
2. Có các Tỳ-kheo dối nói được pháp hơn người; nói như thế này: “Tôi được Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm trí, đã hết các lậu,” sau nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm.”
3. Có một Bà-la-môn mời Tăng thọ trai, thưa: “Chư Đại đức, chư La-hán, phó trai.” Thọ trai xong thưa: “Các La-hán quy bản sở.” Các Tỳ-kheo sanh nghi hỏi Phật, Phật dạy:
“Người ta tự nói lời khen ngợi ấy nên không phạm.”
5. Tự hiện tướng
Có các Tỳ-kheo vì lợi dưỡng ngồi dậy, đi đứng, nói năng an tường, do đó hiện được tướng đạo, muốn cho người biết, sau nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Hiện những tướng khác lạ như vậy đều phạm Thâu-lan-giá.”
6. Tự thấy
1. Có các Tỳ-kheo khi gần mạng chung theo nghiệp phải đọa địa ngục, đều thấy các tướng địa ngục, và quỉ canh gác địa ngục9 đứng trước mặt, lại có Tỳ-kheo theo nghiệp được sanh Thiên, đều thấy chư Thiên, cung điện, nghe thấy âm nhạc, Thiên tử, Thiên nữ trước mặt, nói năng đều dùng tiếng nói của loài người, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Đó là đoan tướng sẽ được sanh, chẳng phải vọng ngữ, không phạm.”
7. Nói không dụng ý
Có các Tỳ-kheo vốn muốn nói việc khác, sau chẳng phải dụng ý nói pháp hơn người, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Chẳng phải là bổn ý, không phạm, nhưng mắc tội Thâu-lan-giá.”
8. Phương tiện bất chính
Có các Tỳ-kheo nói với bạch y: “Nếu có ai ở phòng của người thì sẽ thành tựu đạo như vậy, như vậy.” Sau đó tự đến ở, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Sử dụng những phương tiện như vậy, đều phạm Thâu-lan-giá.”
9. Tự ngôn
Có các Tỳ-kheo tự nói được pháp hơn người, muốn khiến cho người nghe mà phi nhơn nghe, lại muốn cho phi nhơn nghe mà người nghe, lại muốn khiến nhơn, phi nhơn nghe mà không có ai nghe, đều sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Đều phạm Thâu-lan-giá.”
10. Quán sát nhầm
Bấy giờ Mục-kiền-liên [185a01] nói với các Tỳ-kheo: vợ cư sĩ… sẽ sanh con trai, khi người vợ cư sĩ đang sinh ra, thai chuyển thành nữ; vua Ba-tư-nặc và vua A-xà-thế cùng nhau chiến đấu, Mục-kiền-liên nói: Vua Ba-tư-nặc sẽ thắng, nhưng ngược lại, không như vậy, sau lại tập hợp binh sĩ để chiến đấu, Mục-kiền-liên lại nói: Vua A-xà-thế sẽ thắng, cũng ngược lại, không như vậy. Các Tỳ-kheo chê trách nói: Tại sao dối nói được pháp hơn người, bạch Phật, Phật dạy: “Như lời Mục-kiền-liên nói, chỉ quán sát giai đoạn trước, không quan sát giai đoạn sau, nên như vậy.”
B. TĂNG-GIÀ-BÀ-THI-SA
I. LỘNG ÂM
1. Có các Tỳ-kheo gãi chỗ kín, xuất bất tịnh, sanh nghi hỏi Phật, Phật nói: “Ông làm với tâm niệm thế nào?” Tỳ-kheo thưa: “Trước sau đều không có ý cho xuất.” Phật dạy: “Không phạm, nếu có ý cho nó xuất thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa; muốn xuất mà không xuất, thì phạm Thâu-lan-giá. Dùng nước nóng tắm, hay là hơ lửa mà bất tịnh xuất đều như vậy.”
2. Có Tỳ-kheo nhớ việc hành dục mà bất tịnh xuất, sanh nghi, hỏi Phật, Phật nói: “Ông nhớ với ý gì?” Tỳ-kheo thưa: “Con nhớ việc hành dục, bất tịnh tự xuất.” Phật dạy: “Không phạm, nhớ việc hành dục, phạm Đột-kiết-la.”
3. Có Tỳ-kheo cố dùng “hình” chống đỡ cái y, bất tịnh xuất, nghĩ là không phạm Tăng-già-bà-thi-sa, hỏi Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo như vậy mà xuất bất tịnh thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không xuất thì phạm Thâu-lan-giá.”
4. Có Tỳ-kheo ở bên tượng người nữ, xuất bất tịnh, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu xuất bất tịnh thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không xuất thì phạm Thâu-lan-giá.”
II. XÚC NỮ
1. Bấy giờ có Tỳ-kheo dùng khuỷu tay núng thân người nữ, lại có Tỳ-kheo dùng cái móc bình bát kéo người, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Đều phạm Thâu-lan-giá; nếu nắm y của họ, kéo đẩy dây, gậy của họ cũng như vậy.”
2. Có Tỳ-kheo, người nữ ở trên giường, trên thuyền, trên xe, trên cây, với tâm dục lay động sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo như vậy đều phạm Thâu-lan-giá.”
3. Bấy giờ, có người nữ mặc thanh y, Tỳ-kheo thấy nói chị em hứa cho tuổi thanh xuân, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Phạm Thâu-lan-giá, nếu nhơn hình dáng như vậy mà nói ác ngữ đều như vậy.”
4. Bấy giờ có vợ chồng cãi nhau không hòa hợp, Tỳ-kheo đến hòa hợp, sanh nghi, hỏi Phật, Phật dạy: “Nếu nghĩa vợ chồng đã xa lìa mà hòa hợp thì phạm Tăng-già-bà-thi-sa, nếu chưa ly thì không phạm.”10
[1] Hán: Lợi xí thảo 利厠草.
2 Hán: Cái triền蓋纏, tức chỉ cho ngũ cái, thập triền. Ngũ cái 五蓋 (Skt=Pāli: pañca āvaraṇāni) có nghĩa là năm pháp ngăn che đó là: Tham dục 貪欲 (rāga-āvaraṇa), sân nhuế 嗔恚 (pratigha-āvaraṇa), hôn trầm thụy miên 惛沉睡眠(styāna-middha-āvaraṇa), trạo cử ác tác cái 棹擧惡作 (auddhatya-kaukṛtya-āvaraṇa) và, nghi cái疑蓋 (vicikitsā-āvaraṇa). Đó là năm pháp ngăn che. Thập triền 十纏 là mười món trói buộc đó là: vô tàm 無慚, vô quý 無愧, tật 嫉, san悭, hối 悔, thụy niêm 睡眠, trạo cử, 棹擧, hôn trầm 惛沉là tám món tùy phiền não cộng với phẫn 忿, phú 覆 nữa là mười món triền phược, chúng là những phiền não làm rào cản đưa đến việc thực hiện tâm thiện pháp.
3 Hán: Đát-bát-na怛缽那, Pāli: Tappaṇa, điểm tâm, giải khát. (Xem thêm cht. 107, Phần I, Ch. iv).
4 Tăng-bạt 僧跋: Skt. saṃprāgata, dịch là “đúng giờ đến”, “khéo đến”, “cùng đến”… Lời của một vị Tăng Duy-na xướng trước khi chúng Tăng thọ trai, có 2 nghĩa: 1. Thí chủ bày tỏ ý bố thí bình đẳng đối với chúng Tăng; 2. Chỉ cho các món ăn mà chúng Tăng dùng đều có một vị như nhau.
5 Kiền chuỳ: Xem cht. 16, Phần III, Ch. ii trước.
6 Bệnh can tiêu: Xem cht. 22, Phần I, Ch. iv.
7 Hán: Tịnh bất tịnh địa浄不浄地. Xem cht. 22, Phần III trước.
8 Tứ phần 52, tr. 956a07: “Cho phép cầm cây tích trượng để khua động. Tích trượng.” Skt. khakkhara, gậy ăn mày (Monier). Tham chiếu Thập tụng 56 (tr. 417a18), chế pháp về gậy; Tạp sự 34 (tr. 375a21).
9 Bản Hán, hết quyển 27.
[2] Hán: Già Bố-tát pháp 遮布薩法. Tứ phần 46, tr. 906a10: “Già kiền-độ”; Thập tụng 33, tr. 239b: “Già pháp”; Pāli: Cūḷavagga ix. Pāṭimokkhaṭṭhapanakkhanda, Vin. ii. 235 ff.
[3] Tứ phần 46, tr. 906a10 “Xá-vệ quốc” Thập tụng 33, tr. 239b07: Chiêm-bà quốc. Pāli: Campā.
[4] Thập tụng 33, tr. 239b09: “Có một Tỳ-kheo 有一比丘”. Chuyện kể nội dung cũng giống như Ngũ phần.
4 Thập tụng 33, tr. 239c01: Phật bảo Mục-liên: “Người ngu này mắc đại trọng tội, làm phiền Phật và Tăng. Mục-liên, nếu Phật đối với chúng không thanh tịnh mà nói Ba-la-đề-mộc-xoa thì đầu người không thanh tịnh này sẽ bị vỡ làm bảy phần.”
5 Xem Phần III, Ch. iv, pháp Tự tứ.
[5] Hán: Biệt trú pháp別住法, Pāli: Pārivāsikakkhandhaka, Tứ phần 46, tr. 904a06, “Phú tàng kiền-độ”; Thập tụng 33, tr. 236c: “Tăng tàn hối pháp”. Cf. Pāli, Cūḷavagga 2.Pārivāsakkhandhaṃ, Vin. ii. 31.
[6] Tứ phần 46, tr. 904a07, Thập tụng 33, tr. 236c16: Lục quần Tỳ-kheo六群比丘.
[7] Tứ phần 55, tr. 971c10, Phần IV, Chương v “Điều bộ”. Pāli, tương đương với các đoạn Vinītavatthu cuối mỗi học xứ trong phần Suttavibhaṅga.
[8] Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di I.
[9] Tứ phần 55, tr. 971c15: Bà-xà Tử 婆闍子. Xem Phần I, Ch. i, Ba-la-di I.
4 Tứ phần 55, tr. 972b11: “Tỳ-kheo Nan-đề ngồi thiền.” Tăng-kỳ 26 (tr. 441a28): gọi là Tỳ-kheo Thiền Nan-đề, để phân biệt với các Tỳ-kheo khác cũng có tên là Nan-đề. Thập tụng1 (tr. 2c29), 57 (tr. 425a12): Một Tỳ-kheo thực tên là Nan-đề. Tăng tác yết ma cho lại học pháp 與學法, gọi là học sa-di hành pháp.
5 Sông A-di-la: Xem cht. 126, Phần I, Ch. iv.
6 Tứ phần 55, tr. 980b07: Cao Thắng 高勝. Thập tụng 58: Trực Tín, đệ tử cộng hành của A-nan. Pāli, Vin. iii. 66: Ajju.
7 Tứ phần 55, tr. 980b16: “Tỳ-kheo Cao Thắng là bạn với La-hầu-la.”
8 Hồ A-nậu-đạt: Xem cht. 217, Phần I, Ch. v.
9 Quỉ canh gác địa ngục, Hán: A-bàn 阿傍.
10 Bản Hán, hết quyển 28.



  • Leave a Comment