Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 39. Phần V – Chương 8 – Pháp Tỳ Khoeo Ni

Ngũ Phần Luật – 39. Phần V – Chương 8 – Pháp Tỳ Khoeo Ni

CHƯƠNG VIII PHÁP TỲ-KHEO-NI

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. CÙ-ĐÀM-DI

1. Tỳ-kheo-ni đầu tiên
[185b7] Bấy giờ, đức Thế Tôn trở về Xá-di, chưa đến thành Ca-duy-la-vệ, dừng chân dưới gốc cây Ni-câu-loại.[2] Vua Tịnh Phạn ra nghinh đón, từ xa thấy dung mạo đức Thế Tôn đặc thù, giống như núi vàng, đến trước đức Phật kính lễ sát chân, nói bài kệ:
Khi sanh thầy tướng đoán
Tôi nghe kính lễ đầu
Lần hai, cúi lễ cây
Lần ba, lạy thành đạo.
Nhà vua nói kệ rồi liền ngồi qua một bên, đức Phật vì vua nói các diệu pháp… cho đến câu: Thấy pháp đắc quả, từ chỗ ngồi đứng dậy để trống vai bên hữu, quỳ gối chắp tay, bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, cho tôi được xuất gia thọ Cụ túc giới.” Đức Phật liền quan sát vấn đề, thấy nhà vua xuất gia không thuận tiện, liền tâu: “Đừng phóng dật, tuần tự sẽ được diệu pháp này.” Khi ấy nhà vua cầu thọ Tam quy, Ngũ giới. Thọ năm giới rồi, đức Phật lại nói các diệu pháp, chỉ vẽ sự lợi ích, vui mừng trở về bản vị. Nhà vua về đến trước sân hoàng cung, ba lần ban lệnh:
“Ai muốn xuất gia trong chánh pháp luật của Như Lai thì tùy nguyện.”
Khi ấy Cù-đàm-di Ma-ha-ba-xà-ba-đề nghe nhà vua ra lệnh như vậy liền cùng năm trăm Thích nữ kẻ trước, người sau vây quanh, mang hai chiếc y mới đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân rồi bạch Phật: “Kính bạch đức Thế Tôn, tự tay con dệt hai chiếc y này, nay xin dâng cúng, mong Thế Tôn rủ lòng thương nạp thọ.”
Đức Phật dạy: “Nên cúng cho Tăng để được quả báo lớn.”
Bà lại bạch như trên, đức Phật dạy: “Nên cúng cho Tăng, trong Tăng có Như Lai.”
Bà lại bạch như trên, đức Phật dạy: “Như Lai nhận một, còn lại một cúng cho Tăng.”
Khi ấy bà mới vâng theo lời dạy, dâng cúng cho Phật và Tăng. Cù-đàm-di lại bạch Phật: “Xin cho phép nữ giới xuất gia thọ Cụ túc giới trong chánh pháp của Như lai.”3 Đức Phật dạy: “Thôi, thôi đừng nói điều đó, tại sao vậy? Xưa kia các đức Phật đều không có người nữ xuất gia. Các người nữ, tự mình nương nơi Phật, ở tại gia, cạo đầu, mặc áo cà-sa,4 siêng năng tinh tấn tu hành, được đắc đạo quả. Các đức Phật vị lai cũng lại như vậy. Nay Ta cũng cho phép người nữ dùng điều này làm phương pháp.”
[185c01] Cù-đàm-di thưa xin như trên đến lần thứ ba, đức Phật cũng ba lần không hứa khả. Khi ấy, bà Cù-đàm-di lớn tiếng than khóc, đảnh lễ sát chân lui ra.
Đức Phật từ Ca-duy-la-vệ cùng chúng Đại Tỳ-kheo 1250 người đầy đủ, du hành nơi dân gian. Bà Cù-đàm-di cùng năm trăm Thích nữ tự động cùng nhau tự cạo đầu, mặc y cà-sa, khóc kể, đi theo sau, luôn luôn tá túc những nơi đức Thế Tôn tá túc.
Đức Phật tuần tự du hành đến thành Xá-vệ, trụ nơi Kỳ-hoàn. Bà Cù-đàm-di cùng năm trăm Thích nữ đứng khóc bên ngoài cửa ngõ. Sáng sớm, tôn giả A-nan thấy vậy, liền hỏi: “Tại sao quý vị khóc?” Bà Cù-đàm-di thưa: “Bạch Đại đức! Đức Thế Tôn không cho người nữ xuất gia thọ giới Cụ túc, nên chúng tôi buồn tủi mà khóc, xin tôn giả vì chúng tôi bạch đức Thế Tôn cho chúng tôi được toại nguyện.”
Tôn giả A-nan liền trở vào, đầu mặt kính lễ sát chân, bạch Phật đầy đủ. Đức Phật ngăn tôn giả A-nan, cũng như trên kia đã nói. Tôn giả A-nan lại bạch Phật: “Đức Thế Tôn sanh mới mấy ngày, mẹ Thế Tôn mạng chung, Cù-đàm-di nuôi nấng Thế Tôn cho đến khôn lớn, có cái ân như thế tại sao không báo đền?” Đức Phật nói: “Ta đối với Cù-đàm-di cũng có cái ân lớn, bà nhờ Ta mà biết được Phật, Pháp, Tăng để sanh chánh tín. Người nào nhờ Thiện tri thức biết được Phật, Pháp, Tăng sanh lòng tín kính, thì dù cho người ấy, dùng y thực, thuốc thang cúng dường trọn đời Thiện tri thức, cũng không thể báo trả được ân ấy.”
Tôn giả A-nan lại bạch Phật: “Người nữ xuất gia thọ giới Cụ túc có thể đắc bốn quả Sa-môn hay không?” Đức Phật dạy: “Có thể đắc.” Tôn giả A-nan thưa: “Nếu đắc bốn đạo quả, thì vì lý do gì Thế Tôn không cho họ xuất gia thọ giới Cụ túc?” Đức Phật dạy: “Nay Ta cho phép Cù-đàm-di thọ tám pháp không được vượt qua,5 được vậy thì xuất gia được giới Cụ túc. Những gì là tám? Tỳ-kheo-ni nửa tháng phải đến chúng Tỳ-kheo cầu người giáo thọ;6 Tỳ-kheo-ni không nên An cư nơi vùng không có Tỳ-kheo;7 Tỳ-kheo-ni khi Tự tứ phải đến chúng Tỳ-kheo thỉnh ba việc kiến, văn, nghi tội;8 Thức-xoa-ma-na học giới 2 năm rồi, phải ở trước hai bộ Tăng thọ giới Cụ túc;9 Tỳ-kheo-ni không được mắng Tỳ-kheo, không được đối với nhà bạch y nói Tỳ-kheo phá giới, phá oai nghi, phá kiến;10 Tỳ-kheo-ni không được cử tội Tỳ-kheo,11 mà Tỳ-kheo được chê trách Tỳ-kheo-ni; Tỳ-kheo-ni phạm tội thô ác phải đến trước hai bộ Tăng hành Ma-na-đỏa nửa tháng, hành Ma-na-đỏa nửa tháng rồi nên đối trước mỗi bộ Tăng gồm hai mươi vị để cầu xuất tội;12 Tỳ-kheo-ni tuy thọ giới một trăm năm, vẫn phải lễ bái, đứng dậy nghinh đón13 Tỳ-kheo mới thọ giới.”
[186a01] Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy liền ra nói với Bà Cù-đàm-di: “Bà nên lắng nghe, tôi nói lại lời đức Phật dạy.” Bà Cù-đàm-di sửa lại y phục, từ xa kính lễ chân Phật, quỳ gối, chắp tay một lòng lắng nghe.
Tôn giả A-nan nói đầy đủ như trên, bà Cù-đàm-di nói: “Cũng như thiếu niên nam nữ trong trắng, tự mình vui thích với sự tắm rửa thân thể, mặc áo mới, có người ân huệ đem cho tràng hoa Chiêm-bà, tràng hoa Bà-sư, tràng hoa Ưu-bát-la, tràng hoa A-đề-mục-đa-già,14 người kia vui mừng hai tay đón nhận rồi đội lên trên đầu, nay tôi đảnh thọ pháp giáo của đức Thế Tôn, cũng lại như vậy.”
Cù-đàm-di lại bạch với tôn giả A-nan: “Xin tôn giả vì tôi bạch với đức Thế Tôn rằng: ‘tôi đã đảnh thọ 8 pháp, trong 8 pháp muốn xin một điều, cho phép Tỳ-kheo-ni tùy theo lớn nhỏ mà kính lễ Tỳ-kheo, chứ tại sao Tỳ-kheo-ni một trăm tuổi mà lại kính lễ Tỳ-kheo mới thọ giới?” Tôn giả A-nan lại vì bà Cù-đàm-di vào bạch Phật.
Đức Phật bảo A-nan: “Nếu Ta cho phép Tỳ-kheo-ni tùy theo lớn nhỏ mà kính lễ Tỳ-kheo, là điều không thể có. Người nữ có 5 điều trở ngại: không được làm Thiên Đế-thích, Ma thiên vương, Phạm thiên vương, Chuyển luân thánh vương, Tam giới pháp vương. Nếu không cho người nữ xuất gia thọ giới Cụ túc thì chánh pháp của Phật trụ thế 1.000 năm, nay cho họ xuất gia thì giảm 500 năm,15 cũng như nhà người nào đó, con gái nhiều, con trai ít, nên biết nhà đó bị suy tàn, không lâu.” Đức Phật lại bảo A-nan: “Nếu người nữ không xuất gia thọ giới Cụ túc trong giáo pháp của Ta thì sau khi Ta Nê-hoàn các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di sẽ đem 4 món cúng dường đi theo sau Tỳ-kheo và thưa: ‘Đại đức lân mẫn! Nhận sự cúng dường của con.’ Nếu họ ra ngoài cửa ngõ thấy thì kéo tay vào nói: ‘Đại đức đối với con có ân, mời Đại đức vào nhà con ngồi tạm để con được an lành.’ Nếu họ gặp trên lộ trình, họ đều xổ đầu tóc lau chân Tỳ-kheo, trải tóc ra mời Tỳ-kheo dậm lên trên mà đi, nay cho người nữ xuất gia điều đó hầu như bị mất hết.”16 Tôn giả nghe qua rồi, buồn hận rơi nước mắt, bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn, trước đây con không nghe, không biết điều đó nên mới cần cầu cho người nữ xuất gia thọ giới Cụ túc. Nếu trước đây con biết thì đâu có 3 phen cầu xin.” Đức Phật bảo tôn giả A-nan: “Chớ nên khóc kể, ma che đậy lòng ông nên mới thế. Nay Ta đã cho người nữ xuất gia thọ giới Cụ túc rồi, cần phải tùy thuận theo sự chế cấm của Ta, không được trái nghịch; những gì Ta không chế cấm thì không được vọng chế.” Tôn giả A-nan liền trở ra, nói lại đầy đủ những gì đức Phật đã dạy cho bà Cù-đàm-di nghe. Bà Cù-đàm-di nghe rồi hoan hỷ phụng hành, liền trở thành người xuất gia thọ giới Cụ túc.
Cù-đàm-di lại thưa với A-nan: “Năm trăm Thích nữ này nay phải như thế nào để thọ giới Cụ túc? Nhờ tôn giả thưa với đức Phật giùm.” A-nan lại bạch Phật,[186b01] Phật dạy: “Cho phép Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề làm Hòa thượng, đối trước chúng Tỳ-kheo 10 vị, Bạch tứ yết-ma cho họ thọ giới Cụ túc. Cho phép mỗi lần Yết-ma chỉ 3 người, không được quá.”

2. Pháp Tỳ-kheo-ni
Thọ giới rồi, Tỳ-kheo-ni Ma-ha-ba-xà-ba-đề cùng 500 Tỳ-kheo-ni đều đến chỗ đức Phật, đầu mặt đảnh lễ sát chân, bạch Phật rằng: “Kính bạch đức Thế Tôn, chúng con mặc y thế nào?”
Phật dạy: “Như pháp của Tỳ-kheo.” Lại hỏi: “Ăn như thế nào?”
Phật dạy: “Cho phép khất thực.” Lại hỏi: “Bố-tát thế nào?”
Phật dạy: “Cho phép Bố-tát riêng, nửa tháng đến Tỳ-kheo Tăng cầu giáo thọ, Lại hỏi: “Kết hạ an cư thế nào?”
Phật dạy: “Cho phép kết 3 tháng an cư trong nhà (chùa).” Lại hỏi: “Tự tứ thế nào?”
Phật dạy: “Cho phép Tự tứ riêng, đến Tỳ-kheo Tăng thỉnh kiến, văn, nghi tội.” Lại hỏi: “Thọ y Ca-thi-na như thế nào?”
Phật dạy: “Cho phép Bạch nhị yết-ma, thọ trong 4 tháng.” Lại hỏi: “Chứa dép da thế nào?”
Phật dạy:
“Cho phép làm guốc dép để đi lại.” Lại hỏi: “Diệt tránh bằng cách nào?”
Phật dạy:
“Cho phép dùng 7 pháp diệt tránh để chấm dứt 4 tránh sự.”

3. Hai năm học giới
Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni, trước không trao cho đệ tử hai năm học giới, bèn trao Đại giới, bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Trước nên trao cho 2 năm: không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được dâm dục, không được nói dối, không được uống rượu, không được ăn phi thời.”

4. Ma-na-dỏa
Khi ấy có một vị Tỳ-kheo-ni làm mai mối,17 phạm Tăng-già-bà-thi-sa, không biết giải quyết thế nào, bạch Phật. Nhân việc này, đức Phật tập hợp 2 bộ Tăng, bảo các Tỳ-kheo: “Cho phép 2 bộ Tăng Bạch tứ yết-ma trao cho Tỳ-kheo-ni ấy nửa tháng Ma-na-đỏa. Tỳ-kheo-ni kia nên đối trong Tăng, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, kính lễ sát chân 2 bộ Tăng, bạch:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Con Tỳ-kheo-ni tên là… làm mai mối, phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, nay đến Tăng xin nửa tháng Ma-na-đỏa, xin Tăng cho con nửa tháng Ma-na-đỏa.
Xin như vậy 3 lần. Một Tỳ-kheo đọc tuyên ngôn:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo-ni tên là… làm mai mối, phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, đến Tăng xin nửa tháng Ma-na-đỏa, nay Tăng cho nửa tháng Ma-na-đỏa. Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo-ni tên là… làm mai mối, phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa, đến Tăng xin nửa tháng Ma-na-đỏa, [186c01]nay Tăng cho nửa tháng Ma-na-đỏa. Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói.
Nói như vậy 3 lần.
Tăng đã trao cho Tỳ-kheo-ni tên là… nửa tháng Ma-na-đỏa rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Tăng đã trao cho pháp Ma-na-đỏa rồi, đương sự nên thức dậy sớm lau quét trú xứ của Tỳ-kheo-ni, lấy bùn sửa chửa nền và tường các phòng, chỗ cần có nước thì phải lấy cho đầy, các việc cần đều phải nên làm. Nếu có khách Tỳ-kheo-ni đến, hay Tỳ-kheo-ni đi cũng đều phải bạch. Lại nên cùng một Tỳ-kheo-ni làm bạn đến trú xứ của Tỳ-kheo, có việc gì nên làm phải cần làm như trên. Nếu có khách Tỳ-kheo đến, hay Tỳ-kheo đi cũng đều phải bạch. Ngày ngả về chiều, trở về trú xứ Tỳ-kheo-ni. Nửa tháng phụng hành như vậy rồi, đối trước 2 bộ Tăng, mỗi bên 20 vị, cầu xin Yết-ma xuất tội, như pháp của Tỳ-kheo.

5. Kính lễ Tỳ-kheo
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni không cung kính lễ Tỳ-kheo, không người giáo giới, ngu si không biết gì, không thể học giới, bạch Phật, Phật quở trách: “Trước đây Ta đã nói 8 pháp không được vượt qua, Tỳ-kheo-ni 100 tuổi kính lễ Tỳ-kheo mới thọ giới, tại sao không kính lễ?” Quở trách rồi, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Từ nay cho phép các Tỳ-kheo tùy theo thứ tự kính lễ bậc Thượng tọa. Các Tỳ-kheo-ni kính lễ tất cả các Tỳ-kheo, cũng tùy theo thứ tự kính lễ lẫn nhau. Thức-xoa-ma-na kính lễ tất cả Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni cũng tùy theo thứ tự kính lễ lẫn nhau. Sa-di cũng như vậy. Sa-di-ni kính lễ tất cả Tỳ-kheo; Tỳ-kheo-ni, Thức-xoa-ma-na và Sa-di cũng tùy theo thứ tự kính lễ lẫn nhau.” Có Tỳ-kheo-ni ở chỗ cao kính lễ Tỳ-kheo ở chỗ thấp, hoặc ở phía sau Tỳ-kheo, hoặc ở bên Tỳ-kheo mà kính lễ, hoặc lấy tay cầm chân, hoặc đầu gối sát đất kính lễ, bạch Phật, Phật dạy: “Đều không nên làm như vậy, cho phép Tỳ-kheo-ni cách Tỳ-kheo không gần không xa, chắp tay cúi đầu nói: Cung kính!”

6. Cạo tóc
Bấy giờ, các Tỳ-kheo-ni tóc dài, Phật bảo: “Nên cầu người nữ cạo tóc cho, nếu không có người nữ, cho phép cầu người nam, nhưng không được xúc chạm, không được khiến họ cầm nắm; có Tỳ-kheo-ni bạn khác, nhờ họ cầm, và nhờ họ cạo.”

7. Thọ kinh
Khi ấy, các Tỳ-kheo-ni đến Tỳ-kheo-ni thọ kinh, tụng không thể được; lại có một Tỳ-kheo-ni đến Tỳ-kheo-ni thọ một Ba-la-đề-mộc-xoa, nhiều ngày không thể được, sau đó, đến Tỳ-kheo thọ, liền được, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Tỳ-kheo-ni đến nơi Tỳ-kheo thọ kinh. [187a01] Nếu trong kinh có nói lời thô ác, cho phép viết chữ trao, nếu không biết chữ, cho phép dùng sự ngăn cách để trao, nếu không cái gì để ngăn cách, cho phép xoay lưng lại để trao.”

8. Cầu giáo thọ
Có các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo đồng Bố-tát, thấy các Tỳ-kheo phạm tội bèn muốn cử tội, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo-ni không được cùng Tỳ-kheo Bố-tát, nên nửa tháng mời một Tỳ-kheo, khiến đến Tỳ-kheo Tăng xin một vị giáo giới.” Các Tỳ-kheo không chịu cung ứng, Phật dạy: “Cho phép Tỳ-kheo-ni làm các thứ cúng dường như đãy đựng bát, đãy lọc nước, dây lưng, hương dầu, bữa ăn trước, bữa ăn sau”; hoặc chưa Bố-tát mà bạch, hoặc Bố-tát rồi mới bạch, Phật dạy: “Không nên như vậy, nên trong khi xướng: các Tỳ-kheo không đến, muốn thanh tịnh, từ chỗ ngồi đứng dậy đến đứng trước Tăng, bạch:
Đại đức tăng xin lắng nghe! Tịnh xá… Tỳ-kheo-ni Tăng hòa hợp, đảnh lễ Tăng túc Tỳ-kheo hòa hợp, cầu xin vị giáo thọ.
Nếu trước đó, Tăng đã sai vị giáo thọ, Thượng tọa nên trả lời: ‘Đến Tỳ-kheo… để thọ;’ nếu Tăng không có người để sai, có khả năng thuyết pháp, nên trả lời: ‘Đến Tỳ-kheo để thọ;’ nếu lại không có, nên trả lời: ‘Trong đây không có người để sai giáo thọ, lại không có người có khả năng nói pháp, quý vị chớ buông lung.’ Các Tỳ-kheo-ni, sáng sớm nên đến thưa hỏi: Vấn đề xin Tỳ-kheo giáo thọ, đã bạch Tăng chưa? Tỳ-kheo này nên trao truyền theo lời như Thượng tọa đã dạy.”

9. Cầu ba việc tự tứ
Có các Tỳ-kheo-ni cùng Tỳ-kheo Tự tứ, Tỳ-kheo-ni muốn đến tập hợp nơi Tỳ-kheo ở A-lan-nhã để Tự tứ, dọc đường gặp giặc, nước, lửa, nạn mạng, nạn phạm hạnh, nạn y bát, lại phải đợi chờ, lưu lại để Tự tứ, bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo-ni không được cùng Tỳ-kheo Tự tứ, nên Tự tứ riêng. Nên đến Tỳ-kheo Tăng thỉnh kiến, văn, nghi tội.”
Khi ấy, trong xóm làng không có Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo-ni đến nơi A-lan-nhã thỉnh tội kiến, văn, nghi, hoặc đường xa đi không đến, hoặc Tỳ-kheo-ni kia không hòa hợp, nên không thỉnh được, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Tỳ-kheo nơi A-lan-nhã vì Tỳ-kheo-ni đến xóm làng Tự tứ; vì họ hòa hợp. Các Tỳ-kheo-ni nên trước tập hợp chúng Tự tứ, vậy sau mới sai Tỳ-kheo-ni đến Tỳ-kheo Tăng thỉnh tội kiến, văn, nghi. Đến nơi, để trống vai bên hữu, cởi bỏ giày dép, từ xa kính lễ Tăng túc vậy sau vào trong Tăng, chắp tay, cúi đầu, bạch: Tinh xá… Tỳ-kheo-ni Tăng hòa hợp, đảnh lễ Tăng túc Tỳ-kheo hòa hợp, bạch: Tỳ-kheo-ni Tăng chúng con hòa hợp thỉnh Đại đức Tăng Tự tứ, nói tội, kiến, văn, nghi. [187b01] Thỉnh như vậy 3 lần.”

10. Thọ Bát kính pháp
Bấy giờ, các Tỳ-kheo nói với Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề rằng: “Cô không có Hòa thượng, không thành xuất gia thọ giới Cụ túc. Bà Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề sanh nghi, bạch Phật, Phật dạy: “Khi bà thọ 8 pháp không được vượt qua, đã là xuất gia thọ giới Cụ túc rồi.”

II. NI THƯỜNG HÀNH (1)

1. Có Tỳ-kheo-ni khuyến dụ, đùa bỡn Tỳ-kheo, nói: “Tôi là tộc tánh lễ nghi hoàn bị, một người nữ đầy đủ công hạnh, ý muốn giúp đỡ thầy.” Tỳ-kheo kia bèn sanh tâm nhiễm trước, không thích nếp sống đạo, đưa đến việc hoàn tục. Các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Tỳ-kheo-ni không nên khuyến dụ đùa bỡn với Tỳ-kheo, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
2. Có các Tỳ-kheo-ni đến trú xứ Tỳ-kheo, hoặc để lộ nách ngực, hoặc để lộ bắp bả, ống chân, Tỳ-kheo thấy sanh tâm nhiễm trước, không vui sống với đạo, hoàn tục, các Tỳ-kheo bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm như vậy. Từ nay không cho phép Tỳ-kheo-ni vào trú xứ của Tỳ-kheo.” Vì không được phép vào nên không có người giáo giới, các Tỳ-kheo-ni bị ngu ám, không biết gì, không thể học giới, bạch Phật, Phật dạy: “Nếu Tỳ-kheo-ni sống đúng pháp thì cho vào, Tăng cũng nên kêu đến,” kêu mà không đến, Phật dạy: “Kêu mà không đến phạm Đột-kiết-la.”
3. Khi ấy các Tỳ-kheo-ni không cùng Tỳ-kheo nói năng, không có người giáo giới, ngu si không biết gì, không thể học giới, các Tỳ-kheo-ni bạch Phật, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
4. Khi Tỳ-kheo-ni Ưu-ta thường thường phạm giới, Tỳ-kheo-ni Tăng tác pháp trao cho Yết-ma không thấy tội, lại kêu khóc: “Tôi ngu si, Tăng tác pháp trao cho tôi Yết-ma không thấy tội, hoặc trong khi ấy, tôi lại phạm thô tội, nguyện xin Tăng vì tôi giải Yết-ma này.” Các Tỳ-kheo-ni bạch Phật, Phật dạy:
“Không nên vì thế mà giải Yết-ma, nên Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo-ni bạn với cô ta cùng nói năng, cùng sống để ngăn chặn. Một Tỳ-kheo-ni tuyên xướng:
A-di18 Tăng lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Nay sai Tỳ-kheo-ni tên là… bạn của Tỳ-kheo-ni Ưu-ta, cùng nói năng, cùng sống để ngăn chặn. Đây là lời tác bạch.
A-di Tăng lắng nghe! Nay Tăng sai Tỳ-kheo-ni tên là… bạn của Tỳ-kheo-ni Ưu-ta, cùng nói năng, cùng sống để ngăn chặn. Các A-di nào chấp thuận thì im lặng. Ai không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo-ni tên là… bạn của Tỳ-kheo-ni Ưu-ta rồi. Tăng chấp thuận nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
5. Có Tỳ-kheo-ni nguyệt thủy ra nhớp chân và y, vào xóm làng khất thực, các bạch y thấy chê bai, [187c01] Phật dạy: “Nếu khi Tỳ-kheo-ni nguyệt thủy ra, không cho phép vào xóm làng khất thực, cho phép chuẩn bị lương khô, cũng cho phép đệ tử khất thực thế; nếu không có đệ tử, cho phép mặc y nguyệt thủy khất thực.”
Có các quý tộc nữ xuất gia không mặc y phú kiên,19 các bạch y thấy vai, cánh tay, cùng nhau trêu chọc, các vị Ni này quá xấu hổ. Các Tỳ-kheo-ni bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép mặc y phú kiên.”

III. NI THỌ GIỚI

1. Pháp thọ giới Cụ túc
1. 1. Bản bộ yết-ma
Khi ấy, đệ tử các Tỳ-kheo-ni, học giới 2 năm, không hợp ý, bèn trao cho giới Cụ túc, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la. Từ nay khiến cho phép hợp với ý Hòa thượng, A-xà-lê, mới triệu tập chúng 10 vị, đến chỗ thọ giới, dẫn người muốn thọ giới đến để chỗ mắt thấy, tai không nghe. Hòa thượng nên vì họ cầu thầy Yết-ma và thầy giáo giới. Cầu được rồi, thầy Yết-ma nên Yết-ma, thầy giáo giới bảo họ ra ngoài để chỉ dạy. Vị ấy tuyên xướng:
A-di Tăng lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Người nữ này tên là… cầu vị sư tên là… thọ giới Cụ túc, vị sư tên là… làm thầy giáo giới. Đây là lời tác bạch.
Thầy giáo giới kia hành sơ pháp, trước hỏi Hòa thượng: ‘Người muốn thọ Cụ túc giới này đã học giới đủ 2 năm chưa? y bát có đủ không?’ Nếu nói không đủ, nên bảo: ‘Phải đủ.’ Nếu nói đủ lại nên hỏi: ‘Của mình hay là mượn?’ Nếu nói mượn, nên nói người chủ cho mượn phải xả cho.
Xong như vậy rồi mới đến chỗ người muốn thọ giới nói:
‘Cô chớ nên sợ sệt, trong giây lát nữa tôi sẽ đưa cô đến chỗ cao thắng.’
Nếu không biết rõ thì tối thiểu phải trương y ra xem xét để không trở ngại pháp thọ giới, nên hỏi: ‘Y Tăng-già-lê, Ưu-đa-la-tăng, An-đà-hội, y phú kiên, y tắm rửa của cô là thế nào?’ Nếu đương sự không biết thì nên nói cho biết, tiếp theo trao cho pháp thọ y bát, như trong pháp thọ Tỳ-kheo đã nói. Lại nên nói:
Này cô lắng nghe! Bây giờ là lúc cần nói thật. Nay tôi hỏi cô, nếu có thì nên nói có, nếu không thì nên nói không. Người nữ có những bệnh: bệnh hủi, bệnh hủi trắng, bệnh can tiêu, bệnh lát, bệnh cuồng, bệnh lậu, bệnh chảy mỡ, các trọng bệnh như vậy, cô có hay không? Cô có mắc nợ không? Chẳng phải vợ của người khác chứ? Phu chủ có cho phép cô tu không? Cô không thuộc hạng quan chức chứ? Cô không phải là tớ gái chứ? Cô là người chứ? Cô là người nữ chứ? Nữ căn của cô có đầy đủ chứ? Cô không phải là huỳnh môn chứ? Cô không phải là thạch nữ20 chứ? Cô không bị 2 đường hiệp lại chứ? Nguyệt thủy cô có ra không? Nó không thường bị ra phải không? Hai năm học giới đã đủ chưa? Đã cầu thỉnh Hòa thượng chưa? Cha mẹ có cho phép cô tu không? Cô có muốn thọ giới Cụ túc không? Như những gì tôi hỏi lúc này, sau đây Tăng cũng hỏi cô như vậy. [188a01] Cô nên trả lời như đã trả lời với tôi.
Thầy giáo giới nên trở lại trong Tăng, đứng thẳng bạch: ‘Tôi đã hỏi rồi.’ Thầy Yết-ma nên bạch Tăng:
A-di Tăng lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Người nữ tên là… cầu Ni sư tên là… thọ giới Cụ túc, vị giáo giới tên là… đã hỏi rồi, nay cho phép dẫn đến. Đây là lời tác bạch.
Thầy giáo giới nên dẫn vào, dạy kính lễ sát chân Tăng. Kính lễ rồi, dẫn đến trước thầy Yết-ma, bảo quỳ gối, chắp tay hướng về thầy Yết-ma, tùng Tăng xin thọ giới Cụ túc. Dạy thưa:
Con tên là… cầu Hòa thượng tên là… thọ giới Cụ túc. Nay đến Tăng xin thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Tăng cứu giúp con, dũ lòng thương đối với con.
Thưa xin như vậy 3 lần. Xong phần việc này, thầy giáo giới trở lại chỗ ngồi. Thầy Yết-ma nên bạch Tăng:
A-di Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Người nữ này tên là… cầu Ni sư hiệu… thọ giới cụ túc. Đương sự đến Tăng xin thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Nay tôi đối giữa Tăng hỏi các nạn sự. Đây là lời tác bạch.
Nên nói:
Này cô, nên lắng nghe! Bây giờ là lúc cần nói sự thật, nay tôi hỏi cô, có thì nói có, không thì nói không… cho đến câu: Cô muốn thọ giới không?
Đều như trên đã hỏi. Hỏi như trên rồi, thầy Yết-ma nên tuyên xướng:
A-di Tăng lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Người nữ này tên là… cầu Ni sư hiệu… thọ Cụ túc giới. Đương sự đến Tăng xin thọ Cụ túc giới, tự nói không có các chướng nạn, học giới đủ 2 năm, 5 y, bình bát đầy đủ, đã cầu thỉnh Hòa thượng, cha mẹ đã cho phép, muốn thọ Cụ túc giới. Nay Tăng trao cho người nữ tên là… giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Đây là lời tác bạch.
A-di Tăng lắng nghe: Người nữ này tên là… cầu Ni sư hiệu… thọ giới Cụ túc… cho đến câu: Hòa thượng hiệu… Các A-di nào đồng ý thì xin im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Lần thứ 2 lần thứ 3 cũng nói như vậy.
Tăng đã đồng ý cho người nữ tên là… thọ giới Cụ túc… Hòa thượng hiệu… rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
1. 2. Chánh pháp yết-ma
Hòa thượng, A-xà-lê kia lại nên triệu tập 10 Tỳ-kheo-ni Tăng, dẫn người thọ giới đến trong Tỳ-kheo Tăng, ở nơi cách thầy Tỳ-kheo Yết-ma một chút, quỳ hai đầu gối sát đất, xin thọ giới Cụ túc. Thầy Yết-ma nên dạy nói:
“Con tên là… cầu Hòa thượng hiệu… thọ giới Cụ túc, đã ở trong một chúng thọ giới Cụ túc rồi, thanh tịnh, không có các nạn sự, đã học giới 2 năm đủ, y bát đầy đủ, đã cầu thỉnh Hòa thượng, cha mẹ cho phép, không phạm tội thô ác, muốn thọ giới Cụ túc. Nay theo Tăng thọ giới Cụ túc, [188b01] Hòa thượng hiệu… Tăng giúp đỡ cho con dũ lòng thương cho con nhờ.” Xin như vậy 3 lần.
Xin ba lần rồi, thầy Yết-ma nên bạch:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Người nữ này tên là… cầu Ni sư hiệu… thọ giới Cụ túc, đã ở trong một chúng thọ giới Cụ túc rồi; thanh tịnh không có các nạn sự, đã học giới đủ 2 năm, những việc cần làm đã làm, y bát đầy đủ, đã cầu thỉnh Hòa thượng, cha mẹ đã cho phép, không phạm các tội thô ác, muốn cầu thọ giới Cụ túc. Nay đến Tăng xin thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… nay Tăng trao cho người nữ tên là… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu là… Đây là lời tác bạch.
Đại đức Tăng lắng nghe! Người nữ này tên là… cầu Ni sư hiệu… thọ giới Cụ túc, cho đến câu: nay Tăng trao cho người nữ tên là… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… Các Trưởng lão nào chấp thuận thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.”
Lần thứ 2, lần thứ 3 cũng nói như vậy.
“Tăng đã đồng ý trao cho người nữ tên là… thọ giới Cụ túc, Hòa thượng hiệu… rồi, Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
Lại nên nói rằng:
“Này người nữ… lắng nghe! Đức Như lai Ứng cúng Đẳng chánh giác nói tám pháp Ba-la-di, nếu Tỳ-kheo-ni phạm mỗi một pháp nào, thì chẳng phải là Tỳ-kheo-ni, chẳng phải con gái dòng họ Thích:
1. Tất cả không được dâm… cho đến câu: dùng tâm nhiễm trước ngắm xem nam tử. Nếu Tỳ-kheo-ni hành pháp dâm dục, cho đến loài súc sanh, thì chẳng phải Tỳ-kheo-ni, chẳng phải con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ được nên nói là có thể.
2. Tất cả không được trộm cắp, cho đến lá cây ngọn cỏ, nếu Tỳ-kheo-ni hoặc nơi xóm làng hay nơi đất trống, vật có người thủ hộ, trộm cắp 5 tiền trở lên, thì chẳng phải Tỳ-kheo-ni, chẳng phải con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ được thì nên nói có thể.
3. Tất cả không được sát sanh, cho đến con kiến, nếu Tỳ-kheo-ni đối với người hay tương tợ người, tự tay mình đoạn mạng, cầm dao trao cho, dạy người giết, dạy cách giết, khen sự chết, thì chẳng phải Tỳ-kheo-ni, chẳng phải con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ được, nên nói là có thể.
4. Tất cả không được nói dối, cho đến nói đùa, nếu Tỳ-kheo-ni tự mình không được pháp quá nhơn, hoặc nói có các thiền Giải thoát tam muội, chánh thọ, hoặc đạo, hoặc quả, thì chẳng phải Tỳ-kheo-ni, chẳng phải con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm. Nếu có thể giữ được thì nói có thể.
5. Tất cả không được thân cận nam tử, nếu Tỳ-kheo-ni dục xí thạnh biến tâm, rờ rẫm thân nam tử, [188c01] từ mái tóc trở xuống, đầu gối trở lên, hoặc nam tử làm những hành động như vậy cũng không được chấp nhận; hoặc đè, hoặc bấm, hoặc bồng lên hoặc để xuống, hoặc nắm, hoặc kéo thì chẳng phải là Tỳ-kheo-ni, chẳng phải là con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ thì nói có thể.
6. Tất cả không được cùng với nam tử đứng, cùng nói chuyện, nếu Tỳ-kheo-ni dục thạnh biến tâm chấp nhận nam tử hoặc nắm tay, nắm y, hẹn cùng đi, hoặc một mình cùng đi, một mình cùng đứng, một mình cùng nói, một mình cùng ngồi, dùng thân gần nhau, đủ tám việc này, thì chẳng phải là Tỳ-kheo-ni, chẳng phải là con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ được thì nói có thể.
7. Tất cả không được tùy thuận nói chuyện với Tỳ-kheo phi pháp, nếu Tỳ-kheo-ni biết Tỳ-kheo Tăng hòa hợp như pháp cử tội Tỳ-kheo, mà tùy thuận Tỳ-kheo này. Các Tỳ-kheo-ni nói: Này cô, Tỳ-kheo này bị Tỳ-kheo Tăng hòa hợp như pháp cử tội, cô chớ nên tùy thuận. Can gián như vậy mà Tỳ-kheo-ni kia không bỏ, nên can gián lần thứ hai, lần thứ ba. Lần thứ hai, lần thứ ba can gián bỏ thì tốt, không bỏ thì không phải Tỳ-kheo-ni, không phải là con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời không được phạm, nếu có thể giữ được thì nói có thể.
8. Tất cả không được che giấu tội thô ác của người khác, nếu Tỳ-kheo-ni biết Tỳ-kheo-ni khác phạm tội Ba-la-di, sau khi cô kia thôi tu hoặc chết, hoặc đi xa, hoặc bị cử, hoặc căn biến, bèn nói với các Tỳ-kheo-ni như vầy: Trước đây tôi biết Tỳ-kheo-ni kia phạm tội Ba-la-di. Biết mà không bạch với Tăng, không hướng đến người khác nói thì chẳng phải là Tỳ-kheo-ni, chẳng phải là con gái dòng họ Thích. Đây là điều trọn đời nên giữ, không được phạm, nếu có thể giữ được thì nói có thể.
Các đức Phật Thế Tôn hay khéo nói ví dụ để chỉ rõ sự việc: Ví như cây kim bị sứt đít thì không thể may vá được. Ví như người chết không thể sống lại được. Ví như tim cây đa-la bị chặt không thể sanh trưởng nữa. Ví như hòn đá bị vỡ không thể hiệp lại được. Nếu Tỳ-kheo-ni đối với tám pháp này phạm bất cứ pháp nào, mà trở lại được tánh Tỳ-kheo-ni là điều không thể có!”
Lại nên nói:
“Này cô… lắng nghe! Đức Như lai Ứng cúng Đẳng chánh giác nói tám pháp không thể vượt qua, suốt đời cô không nên vượt qua:
1. Tỳ-kheo-ni mỗi nửa tháng nên đến chúng Tỳ-kheo cầu người giáo giới.
2. Tỳ-kheo-ni không nên ở chỗ không có Tỳ-kheo mà hạ an cư.
3. [189a01] Tỳ-kheo-ni khi Tự tứ nên đến trong chúng Tỳ-kheo thỉnh ba việc kiến, văn, nghi tội.
4. Thức-xoa-ma-na 2 năm học giới rồi, nên đến trước 2 bộ Tăng cầu thọ giới Cụ túc.
5. Tỳ-kheo-ni không được mắng Tỳ-kheo; không được đối với bạch y nói Tỳ-kheo phá oai nghi, phá giới, phá kiến.
6. Tỳ-kheo-ni không nên cử tội Tỳ-kheo, Tỳ-kheo được chê trách Tỳ-kheo-ni.
7. Tỳ-kheo-ni phạm tội thô ác nên đối trước hai bộ Tăng hành Ma-na-đỏa nửa tháng; hành Ma-na-đỏa nửa tháng xong, đối trước hai bộ Tăng, mỗi bên hai mươi vị cầu xin xuất tội.
8. Tỳ-kheo-ni tuy thọ giới trước một trăm năm vẫn lễ bái, đứng dậy đón tiếp Tỳ-kheo mới thọ giới.”
Lại nên nói:
“Này cô… lắng nghe! Đức Như lai Ứng cúng Đẳng chánh giác nói bốn pháp nương theo để sống (tứ y), trọn đời nương theo xuất gia thọ giới Cụ túc:
1. Nương theo y phấn tảo xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu có thể giữ được, nên nói: có thể.
2. Nếu được y dư, y Kiếp-bối, y Khâm-bà-la, y Câu-xá-da,21 y Sô-ma,22 vải thô,23 y Bà-xá-na, y A-ha-na, y Cù-trà-già,24 y vải gai thô thì nên nhận. Nương theo pháp khất thực xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu có thể giữ được, thì nói: giữ được.
3. Nếu được thức ăn dư, thức ăn của Tăng, bữa ăn trước, bữa ăn sau, người mời ăn thì nên thọ. Nương nơi ngọa cụ thô tệ xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu có thể giữ được thì nói: có thể.
4. Nếu nhận được am thất dư, nhà gác, phòng lớn nhỏ, nhà vuông tròn thì nên nhận. Nương nơi thuốc rẻ tiền xuất gia thọ giới Cụ túc, nếu có thể giữ được, nên nói: có thể.
Nếu nhận được tô du, mật, thạch mật dư thì nên thọ.”
Lại nên nói:
“Này cô… lắng nghe! Cô đã được Bạch tứ yết-ma thọ giới Cụ túc rồi; Yết-ma như pháp, chư trời, rồng, quỉ thần, Càn-thát-bà thường nguyện như vầy: Chúng tôi đến khi nào mới được thân người, được xuất gia thọ giới Cụ túc, nay cô đã được, như người được thọ vương vị, cô thọ được pháp Tỳ-kheo-ni cũng như vậy. Cô nên nhẫn khả trao đổi cùng nhau nói năng, giáo giới cho nhau, nên học ba giới, diệt ba độc, ra khỏi ba cõi, thành quả A-la-hán. Ngoài ra những gì chưa biết, Hòa thượng, A-xà-lê sẽ vì cô nói.”
1. 3. Đại diện thọ giới
Bấy giờ có một dâm nữ tên là Bán-ca-thi,25 xuất gia trong chánh pháp luật, muốn đến trú xứ A-lan-nhã, thọ giới Cụ túc. Bọn giặc nghe, muốn đón đường rình bắt, người nữ cũng nghe nên không dám đi. Các Tỳ-kheo-ni đem vấn đề ấy bạch Phật, đức Phật dạy: “Cho phép Bạch tứ yết-ma từ xa hướng đến thọ giới Cụ túc.26 Hòa thượng, A-xà-lê [189b01] của vị kia, trước hết triệu tập 10 vị Tỳ-kheo-ni Tăng trao cho giới Cụ túc, rồi đem người xin thọ giới để một chỗ, mời 10 Tỳ-kheo-ni Tăng đến nơi A-lan-nhã. Kính lễ Tỳ-kheo Tăng túc, thầy Yết-ma vì họ tùng Tăng, xin giới, rằng:
Đại đức Tăng xin lắng nghe! Người nữ tên… cầu Ni sư… thọ Cụ túc giới rồi, ở trong một chúng thọ giới Cụ túc xong, thanh tịnh không có các nạn sự, đã học giới 2 năm đầy đủ, trước hết những việc cần làm đã làm xong, y bát đầy đủ, đã cầu thỉnh Hòa thượng, cha mẹ đã cho phép, không phạm tội thô ác, muốn thọ giới Cụ túc. Nay tùng Tăng xin thọ Cụ túc giới, Hòa thượng hiệu…27 xin Tăng tế độ cho đương sự,28 dũ lòng thương vậy!
Xin như vậy 3 lần. Thầy Yết-ma Tỳ-kheo nên dựa theo lời cầu xin trên Bạch tứ yết-ma. Yết-ma rồi Hòa thượng, A-xà-lê đưa 10 vị Tỳ-kheo-ni Tăng trở về chỗ thọ giới trước đó, kêu người thọ giới đến bảo kính lễ Tăng túc, quỳ gối chắp tay trước thầy Yết-ma. Thầy Yết-ma nên vì họ nói việc làm Bạch tứ yết-ma của Tăng, khiến cho họ nghe rồi, sau đó theo như trên nói tám pháp đọa, bốn thí dụ, tám pháp không thể vượt qua, bốn phương tiện nương để sống (tứ y)…cho đến câu: Ngoài ra những điều không biết, Hòa thượng, A-xà-lê sẽ vì ngươi nói.”

IV. NI THƯỜNG HÀNH (2)29

1. Có các Tỳ-kheo-ni mặc y sáng rực để làm đẹp, các bạch y chê trách nói: “Tỳ-kheo-ni này tợ như dâm nữ, muốn tìm nam tử.” Các Tỳ-kheo-ni bạch Phật, đức Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
2. Có các Tỳ-kheo-ni kẽ chân mày, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
3. Có các Tỳ-kheo-ni bị bệnh đau mắt, cần vạch ra, đức Phật dạy: “Người bị đau mắt cho phép vạch.”
4. Có các Tỳ-kheo-ni đi trước Tỳ-kheo, Phật dạy: “Không nên đi như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
5. Có các Tỳ-kheo-ni, thấy Tỳ-kheo từ xa đến, bèn đứng lại không dám đi trước nên trở ngại việc khất thực, đức Phật dạy: “Nếu cách xa thì cho phép đi trước.”
6. Có các Tỳ-kheo-ni đi trước Tỳ-kheo nhổ nước miếng xuống đất nên hôi thúi, đức Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
7. Có các Tỳ-kheo-ni ngồi chồng lên gót chân, nguyệt thủy chảy ra nhớp chân, người thấy cơ hiềm. Lại có một Tỳ-kheo-ni ngồi chồng lên gót chân, con bọ hung bò vào trong nữ căn làm cho sanh bệnh, bạch Phật, Phật dạy: “Tất cả Tỳ-kheo-ni nên ngồi xếp chân lại, nếu ngồi chồng lên gót chân thì thay đổi duỗi ra một chân, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
8. Có Cư sĩ muốn cùng Tỳ-kheo-ni trao đổi chỗ ở, các Tỳ-kheo-ni không dám, Phật dạy: “Cho phép trao đổi.”
9. Có các Tỳ-kheo-ni như pháp [189c01] thêu hoa, trương y ra thêu, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, nếu y bị cuốn lại cho phép may cái viền.”
10. Có các Tỳ-kheo-ni đại tiểu tiện lung tung nơi trú xứ nên bị hôi thúi, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la, nên làm nhà vệ sinh.”
11. Các Tỳ-kheo-ni làm cái hố xí quá sâu, trong hố này bỏ vào cái thai bị sẩy. Người dọn hố xí thấy, cơ hiềm: “Bọn này thường khen ngợi ly dục, ly dục tưởng, nói dục là lửa đốt mà làm việc này, sợ người biết nên trục thai bỏ vào hố xí, sao không thôi tu để hưởng thụ năm dục lạc.” Các Tỳ-kheo-ni bạch Phật, Phật dạy: “Không nên làm hố xí quá sâu, sâu nhất là một khuỷu tay, làm cái miệng nhỏ.”
12. Có các Tỳ-kheo-ni dùng cái bát, cho đến cái đãy đựng cái thai, sáng sớm đem bỏ. Khi ấy, nơi biên cương có việc, vua Ba-tư-nặc, cần đem quân chinh phạt. Có người tin ưa Phật pháp khởi ý nghĩ: “Nay ta nên trước hết cúng dường trai phạn cho người xuất gia, sau đó mới đi”. Liền sai người tín cẩn đi tìm, gặp Tỳ-kheo-ni kia mời về để cúng thức ăn. Tỳ-kheo-ni kia nói: “Ngươi nên đi trước đi, tôi theo sau đến cũng được.” Sứ giả tha thiết mời, dẫn cô ni cùng về. Để đặt thức ăn vào bát, ông ta giở bình bát ra, thấy bào thai bên trong bát; bằng mọi cách chê trách, nói: “Bọn này thường nói từ mẫn hộ niệm chúng sanh, mà nay chính mình giết thai nhi, không có hạnh Sa-môn, phá pháp Sa-môn.” Các Tỳ-kheo-ni bạch với các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo bạch Phật, đức Phật dạy: “Khi Tỳ-kheo-ni đi khất thực, thấy Tỳ-kheo nên giở bát ra cho Tỳ-kheo xem.” Các Tỳ-kheo-ni đều xuất trình bát, phải nghiêng nhìn. Việc này mất thì giờ, làm trở ngại việc khất thực. Phật dạy: “Chỉ nên giở ra, để chứng tỏ bát không là được.”
13. Có một Tỳ-kheo-ni sanh một nam nhi, không biết giải quyết cách nào, bạch Phật, Phật dạy: “Cho phép Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo-ni làm bạn. Một Tỳ-kheo-ni tuyên xướng giữa Tăng:
A-di Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Tỳ-kheo-ni này tên là… sanh nam nhi, nay sai Tỳ-kheo-ni tên… làm bạn. Đây là lời tác bạch.
A-di Tăng lắng nghe: Tỳ-kheo-ni tên… này sanh nam nhi, nay sai Tỳ-kheo-ni… làm bạn. Các A-di nào đồng ý thì im lặng. Vị nào không đồng ý xin nói.
Tăng đã sai Tỳ-kheo-ni… làm bạn với Tỳ-kheo-ni… rồi. Tăng đồng ý nên im lặng. Việc này tôi ghi nhận như vậy.”
14. Hai Tỳ-kheo-ni dắt hài nhi, sanh nghi, Phật dạy: không phạm. Hai Tỳ-kheo-ni cùng ngủ với hài nhi, sanh nghi, Phật dạy: cũng không phạm. Sửa soạn cho hài nhi rồi hôn nó, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, cho phép tắm rửa, cho bú; nếu rời bỏ được sự chăm sóc ẳm bồng thì nên cho Tỳ-kheo, khiến nó xuất gia. Nếu không muốn cho xuất gia [190a01] thì giao cho bà con nuôi dưỡng cho nó khôn lớn.”
15. Có các Tỳ-kheo-ni, Tỳ-kheo Tăng gọi, không theo thứ tự đến, Phật dạy: “Không nên như vậy, nên theo thứ tự sai đến.”
16. Có các Tỳ-kheo-ni vào trong xóm làng không buộc hạ y, bị sút, lộ hình, Phật dạy: “Nên dùng dây lưng buộc lại.” Họ làm dây lưng dài quá, Phật dạy: “Cho phép quấn một vòng;” làm dây lưng rộng quá, Phật dạy: “Rộng lắm là bằng một ngón tay;” làm dây lưng bằng tạp sắc, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, cho phép làm một màu.”
17. Có các Tỳ-kheo-ni mặc y nhẹ vào xóm làng, gió thổi, lộ hình, Phật dạy: “Cho phép trên và dưới dùng cái khâu buộc dính lại.”
18. Có các người nữ quý tộc xuất gia bưng bình bát đi khất thực, Phật dạy: “Cho phép may cái đãy đựng bình bát đi khất thực.” Mang bát dưới nách mồ hôi chảy ra nhớp, Phật dạy:
“Cho phép làm cái khăn tủ lên cái bát.”
19. Có các Tỳ-kheo-ni lập kế hoạch độc hại muốn giết chúng sanh, Phật dạy:
“Nếu lập kế hoạch độc hại muốn giết chúng sanh, phạm Thâu-lan-giá. Làm chú thuật làm cho người chết đứng dậy, muốn giết chúng sanh cũng như vậy.”
20. Có các Tỳ-kheo-ni chứa đủ các loại y tạp sắc, các bạch y cơ hiềm nói: “Các Tỳ-kheo-ni này giống hệt dâm nữ;” Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
21. Các Tỳ-kheo có thức ăn cách đêm, các Tỳ-kheo-ni không có thức ăn, không dám cho, Phật dạy: “Cho phép cho không phạm. Tỳ-kheo-ni có thức ăn cách đêm, cho Tỳ-kheo cũng như vậy.”
22. Có các Tỳ-kheo đến trú xứ Tỳ-kheo-ni, không có người trao thức ăn. Phật dạy: “Khi không có tịnh nhân, cho phép Tỳ-kheo-ni trao thức ăn cho Tỳ-kheo, không phạm. Tỳ-kheo trao thức ăn cho Tỳ-kheo-ni cũng như vậy.”
23. Có các Tỳ-kheo-ni nấu rượu, nhiều người cơ hiềm, Phật dạy: “Không nên làm như vậy, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
24. Có các Tỳ-kheo-ni nuôi bò cày ruộng, nuôi người ở, đích thân coi việc cày cấy, các bạch y cơ hiềm: “Các Tỳ-kheo-ni này cũng đích thân coi việc cày cấy, cùng ta đâu khác gì,” Phật dạy: “Không nên tự mình coi, nên sai tịnh nhân, vi phạm, phạm Đột-kiết-la.”
25. Có các Tỳ-kheo-ni thu hoạch trong việc sản xuất, nhiều người chê trách, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
26. Có các Tỳ-kheo-ni nuôi dâm nữ ngồi cho thuê mướn, nhiều người chê trách, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
27. Có các Tỳ-kheo-ni ép dầu bán, nhiều người chê trách, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Thâu-lan-giá.”
28. Có các Tỳ-kheo-ni đạp trên chân để chơi, nhiều người chê trách, Phật dạy: “Không nên như vậy, vi phạm, phạm Đột-kiết-la; treo sợi dây đeo chơi cũng như vậy.”
29. Có các Tỳ-kheo-ni [190b01] trú xứ bị phát hỏa, Phật dạy: “Nên đánh kiền chùy kêu la để tập trung chữa cháy, dùng đất phủ lên, dùng nước tưới vào, dùng vải nhúng nước để dập tắt.”
30. Khi ấy, có số đông cư sĩ mời Tỳ-kheo-ni Tăng thọ trai, các Tỳ-kheo-ni sáng sớm đắp y bưng bát đến nhà thí chủ, mới hỏi thăm nhau để biết lớn nhỏ nên trễ giờ ăn, cư sĩ cơ hiềm: “Các Tỳ-kheo-ni này giống như phái nữ của Bà-la-môn, hỏi nhau để biết lớn nhỏ một cách quá tỉ mỉ, nay ta mời ăn mà bị trễ giờ, biết làm sao đây,” bạch Phật, Phật dạy: “Nếu khi đại chúng nhóm họp, cho phép tám vị Thượng tọa hỏi nhau để biết lớn nhỏ, theo thứ tự để ngồi, ngoài ra các vị khác thì tùy tiện cứ ngồi.”30



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *