Ngũ Phần Luật – 40. Phần V – Chương 9 – Ngũ Bách Kết Tập

CHƯƠNG IX : NGŨ BÁCH KẾT TẬP

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. DUYÊN KHỞI
Bấy giờ, đức Thế Tôn Nê-hoàn chưa bao lâu, Đại Ca-diếp ở trên lầu các giảng đường, bên bờ sông Di Hầu,[4] nơi Tỳ-xá-ly, cùng đầy đủ các Tỳ-kheo Tăng 500 vị, đều là bậc A-la-hán, chỉ trừ A-nan, bảo các Tỳ-kheo: “Trước đây tôi từ nước Ba-tuần[5] đi đến thành Câu-di,[6] giữa hai nước, nghe Phật Thế Tôn đã Bát-nê-hoàn,5 khi ấy trong lòng tôi mê loạn không thể tự nhiếp phục. Trong các xóm làng, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di người thì quýnh cả hai chân, người thì nhảy khóc té nhào xuống đất, không ai là không bi ai khóc than: ‘Mau quá! Vội quá! Thế gian còn gì nữa! Con mắt của thế gian bị mất rồi!’ Khi ấy Bạt-nan-đà6 đã có mặt nơi đây, nói với mọi người rằng: ‘Lão già kia (tức là Phật) thường nói: nên làm thế này, không nên làm thế kia; nên học thế này, không nên học thế kia. Kể từ nay chúng ta mới thoát khỏi cái khổ đó, được làm theo ý muốn, không bị bắt buộc, tại sao các người lại cùng nhau khóc kể?’7 Tôi nghe câu nói ấy càng thêm ưu não. Đức Phật tuy Nê-hoàn, Tỳ-ni hiện còn đó, chúng ta nên cùng nhau cố gắng kiết tập, đừng để cho bọn Bạt-nan-đà biệt lập bè đảng để phá chánh pháp.” Các Tỳ-kheo đều cho đó là điều hay, bạch với Ca-diếp rằng: [190c01] “A-nan thường hầu Thế Tôn, thông tuệ đa văn, thọ trì đầy đủ pháp tạng, nay nên cho phép ở trong số Tỳ-kheo kết tập này.” Ca-diếp nói: “A-nan còn trong học địa, hoặc theo ái, giận, si, sợ không nên dung nạp được.”
II. A-NAN
Thời điểm ấy, A-nan ở tại Tỳ-xá-ly, thường vì tứ chúng ngày đêm nói pháp, mọi người tới lui gần như giống Phật còn tại thế. Tỳ-kheo Bạt-kỳ8 tọa thiền trên gác thượng, bị náo loạn không thể du hành các Tam-muội giải thoát, khởi ý niệm: “A-nan nay ở trong học địa có việc cần làm không làm, lại nói nhiều, sống trong nếp sống ồn ào.” Bạt-kỳ nhập định quán sát thấy có việc cần làm, bèn khởi ý nghĩ: “Nay ta nên nói pháp yểm ly, khiến cho A-nan nhân đây mà ngộ.” Bạt-kỳ bèn đến chỗ A-nan nói kệ:
“Ngồi yên tĩnh dưới cây
Tâm hướng đến Nê-hoàn
Nên thiền, chớ buông lung
Nói nhiều để làm gì!?”
III. TẬP TĂNG
Các Tỳ-kheo cũng nói với A-nan rằng: “Ông nên tu gấp đi, Đại Ca-diếp nay muốn kết tập pháp Tỳ-ni, mà không cho ông ở trong số đó.” A-nan đã nghe Tỳ-kheo Bạt-kỳ nói kệ, lại nghe Ca-diếp không cho ở trong túc số kết tập Tỳ-ni, nên đầu, giữa, và sau đêm siêng năng kinh hành,9 tư duy vọng cầu giải thoát, song vẫn chưa đạt được. Đêm gần tàn, qua nhiều cố gắng, thân thể mệt mỏi, muốn nằm nghỉ một chút, đầu vừa chạm gối, hoát nhiên dứt sạch các lậu hoặc.
Các Tỳ-kheo biết, liền bạch với Ca-diếp: “A-nan đêm vừa rồi đã được giải thoát, nay nên cho phép ở trong túc số kết tập Tỳ-ni.” Ca-diếp thuận cho. Đối với Ca-diếp đã có những suy nghĩ bao quát: “Nơi nào có đủ đồ ăn thức uống, giường nằm, ngọa cụ để cung cấp cho việc kết tập Tỳ-ni nầy? Thành Vương Xá, chỉ có nơi này mới đủ cung cấp mọi thứ mà thôi.” Ca-diếp liền tuyên xướng giữa Tăng: “Trong đây, năm trăm vị A-la-hán, nên đến thành Vương Xá an cư, ngoài ra không một người nào được đi.”
IV. TẬP LUẬT TẠNG
Lập quy chế như thế rồi, năm trăm vị A-la-hán đến thành Vương Xá, tháng đầu mùa Hạ sửa chữa phòng xá ngọa cụ, tháng thứ hai du hý các Thiền giải thoát, tháng thứ ba mới tập trung một chỗ. Đi sát với kế hoạch chỉ đạo, Ca-diếp bạch Tăng rằng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Nay tôi đối giữa Tăng hỏi Ưu-ba-ly về nghĩa Tỳ-ni. Đây là lời tác bạch.”
Khi ấy Ưu-ba-ly cũng bạch Tăng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Nay tôi sẽ đáp lời Ca-diếp về nghĩa Tỳ-ni. Đây là lời tác bạch.”
Ca-diếp liền hỏi Ưu-ba-ly: “Đức Phật chế giới đầu tiên ở tại chỗ nào?”
Ưu-ba-ly nói: [191a01] “Tại Tỳ-xá-ly.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế giới?”
Đáp: “Vì Tu-đề-na, con của Ca-lan-đà.”
Lại hỏi: “Vì sao mà chế?”
Đáp: “Cùng người vợ cũ hành dâm.”
Lại hỏi: “Có chế lần thứ hai hay không?”
Đáp: “Có. Vì có Tỳ-kheo cùng với con khỉ cái hành dâm.”
Ca-diếp lại hỏi: “Giới thứ hai chế ở chỗ nào?”
Đáp: “Tại thành Vương Xá.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?”
Đáp: “Vì Đạt-ni-tra.”
Lại hỏi: “Vì sao mà chế?”
Đáp: “Vì ăn trộm gỗ của vua Bình Sa.”
Ca-diếp lại hỏi: “Giới thứ ba chế tại chỗ nào?”
Đáp: “Tại Tỳ-xá-ly.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?”
Đáp: “Vì một số đông Tỳ-kheo.”
Lại hỏi: “Vì việc gì mà chế?”
Đáp: “Tự cùng nhau hại mạng.”
Ca-diếp lại hỏi: “Giới thứ tư chế tại chỗ nào?”
Đáp: “Tại Tỳ-xá-ly.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?”
Đáp: “Vì các Tỳ-kheo ở sông Bà-cầu-ma.”
Lại hỏi: “Vì việc gì mà chế?”
Đáp: “Dối xưng được pháp hơn người.”
Ca-diếp hỏi tất cả vấn đề Tỳ-ni như vậy rồi, ở giữa Tăng tuyên xuớng: “Đây là Tỳ-ni của Tỳ-kheo, đây là Tỳ-ni của Tỳ-kheo-ni, hợp lại gọi là Tạng Tỳ-ni.”
V. TẬP KINH TẠNG
Ca-diếp lại bạch Tăng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Nay tôi muốn đối trước Tăng hỏi A-nan về nghĩa Tu-đa-la. Đây là lời tác bạch.”
A-nan cũng bạch Tăng:
“Đại đức Tăng xin lắng nghe! Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng chấp thuận. Nay tôi sẽ đáp lời Ca-diếp về nghĩa của Tu-đa-la. Đây là lời tác bạch.”
Ca-diếp liền hỏi A-nan: “Đức Phật nói kinh Tăng nhất10 ở chỗ nào? Nói kinh Tăng thập11 ở chỗ nào? Kinh Đại nhơn duyên,12 kinh Tăng-kỳ-đà,13 kinh Sa-môn quả,14 kinh Phạm động.15 Những kinh nào vì Tỳ-kheo nói? Những kinh nào vì Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, các Thiên tử, Thiên nữ nói?”
A-nan đều tùy theo chỗ Phật nói mà trả lời. Ca-diếp hỏi như vậy đối với tất cả Tu-đa-la rồi, giữa Tăng công bố:
“Đây là kinh dài, nay tập hợp lại làm một bộ, gọi là Trường A-hàm.
Đây là kinh không dài, không ngắn, nay tập hợp lại làm một bộ, gọi là Trung A-hàm.
Đây là những việc tạp toái, vì Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ nói, nay tập hợp lại làm một bộ, gọi là Tạp A-hàm.
Đây là từ một pháp tăng lên đến 11 pháp, tập hợp lại làm thành một bộ gọi là Tăng nhất A-hàm.
Ngoài ra, từ nhiều vấn đề được đề cập đến, nay tập hợp lại làm thành một bộ gọi là Tạp tạng. Gồm chung tất cả gọi là Tạng Tu-đa-la.
Chúng ta đã kiết tập pháp xong, [191b01] từ nay về sau, những gì Phật không chế cấm, không nên vọng chế; những gì Phật đã chế cấm không được trái phạm. Như lời đức Phật đã dạy, nên kính cẩn học tập.”
A-nan lại bạch Ca-diếp rằng, tôi thân cận, nghe từ đức Phật: “Sau khi Ta Nê-hoàn, nếu muốn bỏ bớt những giới nho nhỏ thì cho phép trừ bỏ”.
Ca-diếp liền hỏi: “Thầy muốn nói giới nào là giới nho nhỏ?”
Đáp: “Không biết.”
Lại hỏi: “Tại sao không biết?”
Đáp: “Vì không hỏi đức Thế Tôn.”
Lại hỏi: “Tại sao không hỏi?”
Đáp: “Khi ấy Thế Tôn mệt nên sợ phiền Thế Tôn.”
Ca-diếp liền kết tội: “Thầy không hỏi nghĩa này, phạm tội Đột-kiết-la, nên tự thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Thưa Đại đức! Chẳng phải tôi không kính giới mà không hỏi nghĩa này, vì sợ não động Thế Tôn nên không dám hỏi. Trong vấn đề này tôi không thấy tội tướng, nhưng vì kính tín Đại đức nên nay sám hối”.
Ca-diếp lại kết hỏi A-nan: “Thầy vá Tăng-già-lê cho đức Phật, dùng ngón chân đạp lên phạm Đột-kiết-la, nên thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Không phải tôi không kính Phật, mà vì không có ai cầm nên tôi phải dùng chân kẹp lại. Trong vấn đề này tôi không thấy tội tướng, nhưng vì kính tín Đại đức nên xin sám hối.”
Ca-diếp lại gạn hỏi A-nan: “Thầy ba phen cầu thỉnh đức Thế Tôn cho người nữ xuất gia trong chánh pháp, phạm Đột-kiết-la, nên thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Chẳng phải tôi không kính Pháp, chỉ vì Ma-ha-ba-xà-ba-đề Cù-đàm-di là người nuôi dưỡng đức Thế Tôn cho đến khôn lớn xuất gia, đến thành đại đạo, công đức này phải báo đáp nên tôi mới xin thỉnh ba lần như vậy. Trong vấn đề này tôi không thấy tội tướng, nhưng vì kính tín Đại đức nên nay xin sám hối.”
Ca-diếp lại gạn hỏi A-nan: “Đức Phật khi gần hiện tướng Nê-hoàn, nói với thầy rằng: ‘Người có được 4 món thần túc, muốn ở đời một kiếp hay hơn một kiếp đều có thể được.’ Như Lai thành tựu Vô lượng định pháp, Ngài hiện tướng nói với thầy như vậy 3 lần, thầy không thỉnh Phật trụ thế một kiếp hay hơn một kiếp, phạm Đột-kiết-la, nên thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Chẳng phải tôi không muốn thỉnh Phật cửu trụ nơi thế gian mà vì ác ma Ba-tuần nó che đậy lòng tôi, cho nên mới như vậy. Trong vấn đề này tôi cũng không thấy tội tướng, nhưng kính tín Đại đức nên nay xin sám hối.”
Ca-diếp lại gạn hỏi A-nan: “Trước đây đức Phật 3 lần bảo ông đưa nước, ông không dâng nước cho Ngài, phạm Đột-kiết-la, cũng nên thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Chẳng phải tôi không muốn dâng nước mà khi ấy có 500 cỗ xe đi qua bên trên dòng nước, nước bị đục, chưa trong, sợ Ngài uống bị bệnh nên không dâng. Đối với tôi trong vấn đề này cũng không thấy tội tướng, nhưng vì kính tín Đại đức, [191c01] nay xin sám hối.”
Ca-diếp lại gạn hỏi: “Ông cho phép người nữ kính lễ xá-lợi trước, phạm Đột-kiết-la, cũng nên thấy tội, sám hối.”
A-nan thưa: “Chẳng phải tôi muốn người nữ kính lễ xá-lợi trước, mà sợ chiều tối họ vào thành không kịp, do vậy nên cho phép họ kính lễ trước. Trong vấn đề này tôi cũng không thấy tội tướng, nhưng kính tín Đại đức, nay xin sám hối.”
A-nan kính tín Đại Ca-diếp cho nên liền đối trước chúng Tăng tác pháp sám hối 6 tội Đột-kiết-la.
Ca-diếp lại nói với A-nan:
“Nếu chúng ta cho chúng học pháp là giới nho nhỏ, Tỳ-kheo khác lại nói đến 4 Ba-la-đề đề-xá-ni cũng là giới nho nhỏ. Nếu chúng ta nói cho đến 4 Ba-la-đề đề-xá-ni là giới nho nhỏ thì Tỳ-kheo khác bèn nói cho đến Ba-dật-đề cũng là giới nho nhỏ. Nếu chúng ta nói cho đến Ba-dật-đề là giới nho nhỏ, Tỳ-kheo khác bèn nói đến Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề cũng là giới nho nhỏ. Như vậy thành 4 ý kiến làm sao quyết định?”
Ca-diếp lại hỏi: “Nếu chúng ta không biết giới tướng nào là nho nhỏ mà vọng loại bỏ, các ngoại đạo sẽ nói: ‘Sa-môn Thích tử, pháp của họ giống như khói. Khi thầy còn tại thế, những điều chế cấm đều phụng hành, sau khi thầy Nê-hoàn lại không chịu học tập.’”
Ca-diếp lại đối giữa Tăng tuyên xướng:
“Chúng ta đã kiết tập pháp xong, nếu những điều gì không được Phật chế cấm, không nên vọng chế, những điều đã chế cấm không được trái phạm, như lời Phật dạy nên kính cẩn học tập.”
VI. PHÚ-LAN-NA
Khi ấy, Trưởng lão Phú-lan-na16 ở phương Nam, nghe đức Phật Bát-nê-hoàn tại thành Câu-di, các Tỳ-kheo Trưởng lão cùng nhau tập hợp nơi thành Vương Xá luận pháp Tỳ-ni, chính mình cùng quyến thuộc, chỉ trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay đến trong chúng, hỏi Ca-diếp: “Tôi nghe đức Phật Nê-hoàn, Tỳ-kheo Thượng tọa đều cùng vân tập nơi đây bàn pháp Tỳ-ni, có thật như vậy không?”
Ca-diếp trả lời: “Có thật như vậy, thưa Đại đức!”
Phú-lan-na nói: “Có thể luận bàn lại được không?”
Ca-diếp liền luận bàn lại, như đã luận bàn. Luận bàn rồi, Phú-lan-na nói với Ca-diếp: “Chính tôi nghe từ đức Phật: Được ngủ với thức ăn, nấu trong phòng, tự nấu, tự mang thức ăn đến người thọ, tự lấy trái cây để ăn, đến nơi ao nước lấy thức ăn, không có tịnh nhân tác tịnh trái cây trừ bỏ hột để ăn.”17
Ca-diếp trả lời: “Thưa Đại đức, bảy điều đó là khi đức Phật ở tại Tỳ-xá-ly, gặp lúc mất mùa đói khát, khất thực khó được nên Phật quyền biến cho phép như vậy. Sau đó, cũng tại nơi đó, lại chế cấm 4 điều, rồi đến thành Xá-vệ chế cấm 3 điều.”
Phú-lan-na nói: “Đức Thế Tôn không làm cái việc chế cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại chê cấm!”
[192a01] Ca-diếp nói: “Đức Phật là đấng Pháp vương, đối với pháp tự tại, chế cấm rồi lại cho phép, cho phép rồi lại chế cấm, đâu có cái lỗi gì?”
Phú-lan-na nói: “Những điều khác tôi chấp nhận, còn đối với 7 điều này không thể thi hành.”
Ca-diếp lại ở giữa Tăng tuyên xướng: “Những gì Phật không chế cấm, không nên vọng chế, những gì Phật đã chế cấm không nên trái phạm, như lời Phật dạy nên kính cẩn học tập.”
VII. PHẠM-ĐÀN
Lúc bấy giờ, nơi Câu-xá-di, Tỳ-kheo Xiển-đà xúc não chúng Tăng không cùng hòa hợp. Có một Tỳ-kheo an cư rồi đến chỗ Ca-diếp, trình bày đầy đủ vấn đề. Ca-diếp nói với A-nan: “Thầy đến Câu-xá-di dùng lời của Phật, dùng lời của Tăng tác pháp Phạm-đàn18 trị phạt Xiển-đà.”
A-nan làm theo lời sai, cùng năm trăm Tỳ-kheo đến đó. Xiển-đà nghe A-nan cùng năm trăm Tỳ-kheo đến, ra nghinh đón, hỏi A-nan: “Thầy đến đây có việc gì? Không phải gây sự vô ích cho tôi chứ?”
A-nan nói: “Vì muốn đem sự hữu ích cho thầy.”
Xiển-đà hỏi: “Có ích cho tôi như thế nào?”
A-nan nói: “Nay tôi sẽ dùng lời Phật, dùng lời Tăng tác pháp Phạm-đàn trị phạt thầy.”
Xiển-đà liền hỏi: “Thế nào gọi là pháp Phạm-đàn?”
A-nan nói: “Pháp phạm-đàn là tất cả các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di không cùng thầy qua lại giao tiếp nói năng.”
Xiển-đà nghe rồi, liền choáng váng té xuống đất, nói với A-nan: “Đây không phải là giết tôi sao!”
A-nan nói: “Chính tôi nghe từ đức Phật: thầy sẽ từ nơi tôi mà đắc đạo. Thầy đứng dậy, tôi sẽ vì thầy nói pháp.”
Xiển-đà lắng lòng đứng dậy, A-nan nói pháp nhiệm mầu, chỉ vẽ sự lợi ích để được vui mừng. Xiển-đà liền xa trần lìa cấu, đối với các pháp đặng con mắt pháp trong sạch.
Khi vân tập để kiết pháp Tỳ-ni, Trưởng lão A-lan-nhã Kiều-trần-như trong ngôi vị đệ nhất Thượng tọa, Phú-lan-a là đệ nhị Thượng tọa, Đàm-di là đệ tam Thượng tọa, Đà-bà Ca-diếp là đệ tứ Thượng tọa, Bạt-đà Ca-diếp là đệ ngũ Thượng tọa, Đại Ca-diếp là đệ lục Thượng tọa, Ưu-ba-ly là đệ thất Thượng tọa, A-na-luật là đệ bát Thượng tọa. Do con số tròn năm trăm vị A-la-hán không nhiều không ít tham dự kết tập cho nên gọi là Ngũ bách kiết tập Pháp tạng.
[1] Tứ phần 48, tr. 922c06: Tỳ-kheo-ni kiền-độ比丘尼犍度. Cf. Cūḷavagga 10, Bikkhunikkhandhakaṃ, Vin. ii. 252.
[2] Tứ phần: Ni-câu-luật viên 尼拘律園. Pāli: Nigrodhārāma, vườn cây đa, gần Kapilavatthu.
3 Tứ phần 48, tr. 922c09: “Lành thay, cúi xin đức Thế Tôn cho phép người nữ được xuất gia hành đạo ở trong pháp của đức Phật.” Tham chiếu, Trung A-hàm 28, kinh 116 “Cù-đàm-di”, Cūḷavagga x, Vin. ii. 253. A. viii. 51 Dhammika. T24n1478, Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni kinh.
4 Hán: Ca-sa y 袈裟衣Pāli: Kāsāya-vattha, y phục của Tăng nhân.
5 Hán: Bất khả việt pháp不可越法. Tứ phần: Bất khả quá pháp 不可過法. Trung A-hàm: tôn sư pháp尊師法. Tăng-kỳ, Thập tụng: Kỉnh pháp敬法. Pāli: garudhamma, chỉ cho tám pháp phải được tôn kính, không thể vượt qua của Tỳ-kheo-ni đối với Tỳ-kheo Tăng.
6 Tứ phần pháp thứ 6, Tỳ-kheo-ni Ba-dật-đề 141. Pāli pháp thứ 3: Mỗi nửa thánh đến Tỳ-kheo Tăng có hai việc: Hỏi ngày Bố-tát (uposathapucchakam) và xin giáo giới (ovādūpasaṅkammaṃ). Thập tụng 47: Mỗi nửa thánh, đên Tỳ-kheo nhận tám kính pháp. (Xem thêm Phần II, Tỳ-kheo-ni Ba-dật-đề 110).
7 Xem Phần II, Tỳ-kheo-ni Ba-dật-đề 91.
8 Xem Phần II, Tỳ-kheo-ni Ba-dật-đề 93.
9 Xem Phần II, Tỳ-kheo-ni Ba-dật-đề 114.
10 Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề 145. Thập tụng thay điều này bằng ba-dật-đề 172.
11 Tứ phần, pháp thứ 3, Thập tụng, điều 8: Tỳ-kheo-ni không được nói các tội thấy, nghe, nghi của Tỳ-kheo.
12 Tứ phần, pháp thứ 5.
13 Tứ phần, pháp thứ 1. Xem Phần II, Tỳ-kheo-ni, Ba-dật-đề 178.
14 Các loại hoa theo Tứ phần: ưu-bát-la 優缽羅 (Pāli: uppala, sen hay bông súng xanh), a-hy-vật-đa 阿希物多 (Pāli: atimuttaka, hoa thiện tư), Chiêm-bà 瞻婆 (Pāli: campaka, một loại hoa vàng), tô-man-na 蘇曼那 (Pāli: sumanā, tố hương), bà-sư 婆師. (Pāli: vassika, hoa hạ sinh).
15 Tứ phần 48, tr. 923c09: Đức Phật bảo tôn giả A-nan: “Nếu người nữ không xuất gia ở trong Phật pháp thì Phật pháp sẽ được lâu dài năm trăm năm.”
16 Vin. ii. 256: Phật chỉ nói điều này sau khi đã chấp nhận người nữ xuất gia. Có thể do Phật không nói điều này nên Cù-đàm-di và A-nan khẩn khoản xin.
17 Xem Phần II, Ch. ii, Pháp Tăng tàn của Ni, Điều 1: Mai mối.
18 A-di 阿姨, phiên âm từ Pāli: ayye, Skt. ārya, āyya, xưng hô với người nữ, người nhỏ thưa trình người lớn.
19 Y Phú kiên: Xem cht. 5, Phần II, Ch. iii.
20 Thạch nữ 石女: Skt. vandhyā, Pāli: vañjhā, dịch là “hư nữ”, “con gái đá”, tức chỉ người nữ không thể sinh con, không thể hành dâm.
21 Y Câu-xá-da 俱捨耶衣 (?).
22 Y Sô-ma 芻摩衣: Pāli, khoma, vải lanh. (xem thêm cht. 17, Phần I, Ch. iv).
23 Hán: Sô-di y 芻彌衣.
24 Y Bà-xá-na, y A-ha-na, y Cù-trà-già 婆舍那衣阿呵那衣瞿茶伽衣. Phiên Phạn ngữ 10, T54n2130, tr. 1051c23 ghi: Bà-xá-na dịch là vải, A-ha-na dịch vải mới, Cù-trà-già là lấy tên một đất nước.
25 Thập tụng 41 (tr. 295b), 56 (tr. 410a11): Người nữ tên Bán-ca-thi-ni 半迦尸尼 nhờ người đại diện đắc giới cụ túc. Pāli: dūtena upasampāda. Vin. ii. 277: Kỹ nữ Aḍḍhakāsī, xuất gia, muốn về Sāvatthi để thọ cụ túc. Bọn vong mạng hay tin, tổ chức chặn đường để cướp. Cô biết được, không dám đi. Phật cho phép nhờ sứ giả thọ giới. Trong Câu-xá 14, đây là trường hợp của Tỳ-kheo-ni Pháp Thọ (Skt. Dharmadinnā, Pāli, Dhammadinnā).
26 Tứ phần 48, tr. 926b10: Cho phép nhờ người thay thế đến thọ giới. Cho phép nhờ một Tỳ-kheo-ni thanh tịnh không có chướng nạn. Tăng bạch nhị yết-ma để sai.
27 Tham chiếu văn bạch đại diện xin giới theo Pāli, Vin. ii. 277: (…) itthannāmā, ayyā, itthannāmāya ayyāya upasampadāpekkhā ekato-upasampannā bhikkhunisaṅghe, visuddhā. sā kenacideva antarāyena na āgacchati. itthannāmā, ayyā, saṅgha upasampādaṃ yācati. ullumpatu taṃ ayyā saṅgho anukampaṃ upādāya “… Người nữ mỗ giáp, theo người nữ mỗ giáp khất cầu giới cụ túc. Người nữ ấy đã thọ một phần cụ túc giữa Tỳ-kheo-ni Tăng. Người nữ ấy thanh tịnh. Người nữ ấy vì một chướng ngại như vậy không đến đây được. (Bạch chư Đại đức) Người nữ mỗ giáp khất cầu Tăng cho giới cụ túc. Nguyện Tăng thương tưởng cứu vớt người nữ mỗ giáp ấy.” Tham chiếu văn bạchThập tụng 41, đã dẫn.
28 Tứ phần 48, tr. 926b24: Bạt tế ngã 拔濟我. Các bản khác như Ngũ phần, không có chữ ngã 我.
29 Tiếp theo Ni thường hành (1) ở trước.
30 Bản Hán, hết quyển 29.
[3] Hán: Ngũ bách tập pháp五百集法; Tứ phần 54, tr. 966a18: “Tập pháp Tỳ-ni ngũ bách nhân集法毘尼五百人”. Pāli: Pañcasatikakkhandaka. Chương nói về năm trăm vị kết tập pháp.
[4] Sông Di Hầu: Xem cht. 45, Phần I, Ch. i.
[5] Hán: Ba-tuần波旬國; Pāli: Pāvā, thành phố của người Mallas, nơi cuối cùng mà đức Phật từ Bhogagāma đến lưu trú tại vườn xoài của người thợ rèn Cunda. (Xem thêm cht. 34, Phần III, Ch. viii trước).
[6] Hán: Câu-di thành拘夷城; Tứ phần: Câu-thi thành 拘尸城. Tăng-kỳ: Câu-thi-na thành 拘尸那城 . Pāli: Kusinārā (Skt. Kuśinagara/ Kuśinagarī/Kuśigrāmaka, 拘尸那竭: Câu-thi-na-kiệt). Thủ phủ của người Mạt-la.
5 Bát-nê-hoàn: Xem cht. 39, Phần I, Ch. i.
6 Tứ phần: Bạt-nan-đà Thích tử. Bạt-nan-đà 跋難陀, người được đề cập rất nhiều trong các nhân duyên Phật chế giới. Nhưng, Vin. ii. 184 nói: Subhadda, một Tỳ-kheo xuất gia khi tuổi đã già, nói lên điều này. Đây không phải là Subhadda (Tu-bạt), người bà-la-môn được Phật độ cuối cùng, mà nguyên là một người thợ hớt tóc. Tứ phần và Ngũ phần có thể theo quán lệ, những gì không tốt đều được gắn cho Bạt-nan-đà.
7 Tứ phần 54, tr. 966b18 “Thôi đủ rồi! Các Trưởng lão, đừng khóc nữa, đừng quá ưu sầu. Chúng ta nay đã thoát khỏi vị Ma-ha-la ấy rồi. Lão ấy khi còn sống thường dạy chúng ta: ‘Cái này nên; cái này không nên. Phải làm điều này, không được làm điều này.’ Nay chúng ta được tự do làm theo ý muốn của mình. Muốn làm thì làm, không muốn làm thì thôi.”
8 Bạt-kỳ 跋耆; Tứ phần: Bạt-xà Tử 跋闍子; Pāli: Vajjiputta. Vị Tỳ-kheo này thuộc vương tộc Licchavī, dòng họ Vajjī.
9 Tứ phần gọi là pháp vị tằng hữu 未曾有法, Pháp đặc biệt duy chỉ A-nan có. Xem Trung A-hàm 8, kinh 33 “Thị giả”. Trường A-hàm 4, (tr. 25c21): Phật nói 4 pháp kỳ đặc của A-nan. Cf. D. ii. 145: cattārome bhikkhave acchariyā abbhutā dhammā ānande.
10 Kinh Tăng nhất 增一經. Trường A-hàm 9, kinh số 11, Tăng nhất, No (11). Tương đương Pāli, không có. Như kinh Thập thượng, No 1 (10).
11 Kinh Tăng thập 增十經. Trường A-hàm 9, kinh số 10, Thập thượng, No 1(10). Tương đương Pāli, D. 34. Dasuttara-suttanta.
12 Kinh Đại nhân duyên 大因緣經. Trường A-hàm 10, kinh số 13, Đại duyên phương tiện, No 1 (13). Tương đương Pāli, D. 15. MahāNidāna-suttanta.
13 Kinh Tăng-kỳ-đà 僧祇陀經. Trường A-hàm 8, kinh số 9, Chúng tập, No 1 (9). Tương đương Pāli, D. 33. Saṅgīti-suttanta.
14 Kinh Sa-môn quả沙門果經. Trường A-hàm 17, kinh số 27; Tăng Nhất A-hàm kinh 39, kinh số 7; Tịch chí quả kinh 1 quyển. Tương đương Pāli, D. 2. Sāmaññaphala-suttanta.
15 Kinh Phạm động 梵動經. Trường A-hàm 14, kinh số 21, Phạm động, No 1 (21). Tương đương Pāli, D. 1. Brahmajāla-suttanta.
16 Phú-lan-na富蘭那; Pāli: Purāṇa. Tứ phần 54, tr. 968b26: Phú-la-na 富羅那, còn gọi là Phú-lâu-na富樓那 (Puṇṇa). Cf. Vin. ii. 289: Bấy giờ, Trưởng lão Purāṇa cùng với 500 Tỳ-kheo từ Nam sơn (Dakkhiṇāgiri) về Vương Xá để tham dự kết tập. Vị Trưởng lão này không được đồng nhất với Tôn giả Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử, cũng gọi là Mãn Từ Tử (Skt.Pūrṇa-maitrāyani-putra, Pāli: Puṇṇa-Mantāni-putta), 1 trong 10 Đại đệ tử.
17 Tứ phần 54, tr. 968c04: Chỉ trừ tám việc: “Ngủ với thức ăn, nấu thức ăn trong giới, tự mình nấu thức ăn, tự mình lấy thức ăn, thọ thực lúc sáng sớm, từ người kia mang thức ăn đến, nếu có tạp quả, hoặc vật sinh từ nước có thể ăn được thì được ăn. Tám trường hợp trên Phật đều cho phép không làm pháp dư thực mà được ăn.”
18 Hán: Phạm-đàn pháp 梵壇法; Pāli: brahmadaṇḍa, trừng phạt bằng cách ngăn chặn tất cả những cuộc tranh cãi và thông tin liên lạc với đương sự.



  • Leave a Comment