Home / TU TẬP PHẬT PHÁP / GIỚI LUẬT PHẬT GIÁO / Bộ Phái / Ngũ Phần Luật / Ngũ Phần Luật – 41. Phần V – Chương 10 – Thất Bách Kết Tập

Ngũ Phần Luật – 41. Phần V – Chương 10 – Thất Bách Kết Tập

CHƯƠNG X : THẤT BÁCH KẾT TẬP

Hán dịch: Tam tạng Phật-đà-thập và Trúc Đạo Sinh dịch
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
Hiệu chính và phụ chú:
Tỳ-kheo Thích Đức Thắng
Tỳ-kheo Thích Tâm Nhãn

I. DUYÊN KHỞI

Sau khi Phật Nê-hoàn một trăm năm, tại Tỳ-xá-ly các Tỳ-kheo Bạt-kỳ[2] đề khởi lên 10 điều phi pháp:
1. Muối và gừng hợp lại để cách đêm, được phép ăn.
2. Dùng hai ngón tay xúc thức ăn, được phép ăn.
3. (Ăn rồi) ngồi trở lại, được phép ăn.
4. Hướng đến xóm làng, được phép ăn.
5. Tô, du, mật, thạch mật [192b01] hòa với lạc được phép uống.
6. Rượu xà-lâu-già3 được phép uống.
7. Làm tọa cụ lớn nhỏ theo ý mình, được phép ngồi.
8. Quen theo nếp sống trước là tịnh.
9. Cầu thính là tịnh.
10. Nhận chứa vàng, bạc, tiền là tịnh.4
Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ thường dùng bình bát đựng đầy nước, trong tháng vào những ngày mồng tám, mười bốn, rằm, tập hợp ngồi chỗ đông người,5 để bình bát trước mặt gọi là điềm lành, mục đích là để cầu người bố thí. Khi ấy các bạch y nam nữ, lớn nhỏ đi qua phía trước, bèn chỉ trong bát nước, nói: “Điềm lành ở trong đó, có thể cho ngay vào: y, bát, giày dép, thuốc thang.” Người muốn cho thì họ cho, người không muốn cho bèn chê trách nói: “Sa-môn Thích tử không nhận chứa vàng bạc và tiền, dù có người cho cũng không dùng mắt để nhìn, tại sao nay lại làm việc này để cầu xin sự bố thí?”
Bấy giờ, Trưởng lão Da-xá Ca-lan-đà Tử6 ở trên lầu các giảng đường, bên sông Di-hầu, nói với các Tỳ-kheo rằng: “Các thầy chớ cầu xin sự bố thí thế này, chính tôi nghe đức Phật dạy: ‘Nếu có người phi pháp cầu thí, và người thí cho kẻ cầu phi pháp, cả hai đều mắc tội.’”
Nói với các Tỳ-kheo rồi lại nói với các bạch y, nam nữ lớn nhỏ: “Các người đừng nên bố thí thế này, chính tôi nghe từ đức Phật dạy: ‘Nếu phi pháp cầu thí, hoặc thí cho người cầu phi pháp, cả hai đều mắc tội.’”
Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ nhận được vàng, bạc, tiền rồi, nói với Da-xá rằng: “Đại đức có thể nhận lấy phần này.”
Da-xá nói: “Tôi không nhận phần do sự phi pháp cầu mà được.”
Các Tỳ-kheo lại nói: “Nếu không nhận cho mình thì nhận rồi cúng cho Tăng.”
Da-xá nói: “Tôi đã không nhận, tại sao lại cúng cho Tăng?!”
Thế là các Tỳ-kheo bèn đem việc Da-xá đã dạy nói trước bạch y như vậy là sự nhục mạ bạch y nên trao cho Da-xá pháp Yết-ma hạ ý.
Tác Yết-ma rồi, Da-xá nói: “Chính tôi nghe đức Phật dạy: ‘Nếu Tăng trao cho phép Yết-ma hạ ý thì nên sai một Tỳ-kheo làm bạn để đến xin lỗi bạch y.’”
Các Tỳ-kheo bèn Bạch nhị yết-ma sai một Tỳ-kheo làm bạn để cùng với Da-xá đến nhà bạch y.7 Da-xá và bạn đến nơi thì nhằm lúc năm trăm Ưu-bà-tắc tập trung lại một chỗ. Da-xá nói: “Quí vị nên biết, đúng pháp tôi nói là đúng pháp, phi pháp tôi nói là phi pháp. Tỳ-ni tôi nói là Tỳ-ni, phi Tỳ-ni tôi nói là phi Tỳ-ni. Lời Phật dạy tôi nói là lời Phật dạy, chẳng phải lời Phật dạy tôi nói chẳng phải lời Phật dạy. Trước đây những gì tôi nói khiến các Ưu-bà-tắc giận, nay tôi xin lỗi.”
Các Ưu-bà-tắc rất ngạc nhiên nói: “Thưa Đại đức! Lúc nào Đại đức cũng vì chúng con nói đây là Pháp, đây là Tỳ-ni, đây là lời Phật dạy. Làm sao chúng con lại giận mà nay Đại đức đến xin lỗi?!”
[192c01] Da-xá lại nói với mọi người rằng: “Thuở ấy đức Thế Tôn ở tại thành Vương Xá, nơi vườn xoài Kỳ-vực,8 bấy giờ vua Bình-sa và các đại thần cùng tập hợp nơi vương môn, luận bàn thế này: Sa-môn Thích tử có nên nhận chứa vàng bạc, châu báu và sử dụng để mua bán (hay không?).’*
Khi ấy, trong số đông có một vị đại thần tên là Châu-kế9 nói với mọi người rằng: ‘Đừng nên đề cập đến vấn đề này. Sa-môn Thích tử không nên thọ và chứa vàng bạc, châu báu hay sử dụng để mua bán.’ Châu-kế vội đem việc này đến bạch lên đức Thế Tôn: ‘Ý kiến của con nêu ra như thế có đưa đến sai nhầm nào không?’ Đức Phật dạy: ‘Điều ông nói lên như vậy là đúng với chánh pháp. Tại sao vậy? Như Lai thường nói rõ điều này: Sa-môn Thích tử không nên nhận chứa vàng bạc, châu báu và sử dụng để mua bán.’
Vị đại thần Châu-kế lại bạch Phật: ‘Cúi xin đức Thế Tôn sai người phổ biến cho mọi người biết rằng ý kiến của con là không nhầm lẫn.’
Đức Phật nói: ‘Hay lắm!’ Đức Phật lại bảo Châu-kế:
‘Thí như mặt trời, mặt trăng bị khói, mây, bụi trần, A-tu-la, bốn thứ đó che khuất nên không trong suốt sáng ngời. Sa-môn, Bà-la-môn cũng bị bốn thứ như vầy che khuất: Không đoạn ái dục, hành pháp dâm, hoặc đam mê ăn uống không thể đoạn trừ, hoặc chuyên làm tà mạng để nuôi sống, hoặc nhận chứa vàng bạc, châu báu để sử dụng mua bán.
Nếu người nào cho ngũ dục là tịnh thì người ấy cho việc nhận chứa vàng bạc châu báu và dụng vào mua bán là tịnh.
Nếu người nào cho việc thọ nhận cất chứa vàng bạc châu báu và sử dụng mua bán là tịnh thì người ấy cho ngũ dục là tịnh.
Nếu người nào nương theo Ta xuất gia thọ giới Cụ túc mà cho việc nhận chứa vàng bạc, châu báu và sử dụng vào mua bán là tịnh thì cả quyết rằng, người ấy không tin vào pháp luật của Ta.
Tuy Ta thường nói cần xe thì dùng xe, cần người thì dùng người tùy theo sự nhu cầu đều cho phép dùng, mà hoàn toàn không được cho nhận và cất chứa vàng bạc, châu báu và sử dụng để mua bán.’”10
Da-xá nói như vậy rồi lại nói tiếp: “Trước đây tôi nói là pháp phi pháp, là luật phi luật, là lời Phật dạy chẳng phải lời Phật dạy, là lời Phật nói chẳng phải lời Phật nói.” Các Ưu-bà-tắc nói: “Chúng con đối với những lời nói ấy đâu không tin ưa. Hiện nay nơi Tỳ-xá-ly này chỉ có Đại đức là Sa-môn Thích tử, cúi xin Đại đức nhận lời mời của chúng con ở lại đây để trọn đời chúng con được cúng dường tứ sự.”
Da-xá xin lỗi các Ưu-bà-tắc rồi cùng với Tỳ-kheo sứ giả của Tăng trở về Tăng phường, Tỳ-kheo Bạt-kỳ hỏi Tỳ-kheo sứ giả:
“Tỳ-kheo Da-xá đã xin lỗi các Ưu-bà-tắc chưa?”
Đáp: “Đã xin lỗi, nhưng chỉ có điều là các bạch y đều tin theo lời nói của Tỳ-kheo Da-xá,” họ đều nói rằng:
“Hiện nay nơi Tỳ-xá-ly này chỉ có Đại đức. Họ mời ở lại để trọn đời cúng dường tứ sự. [193a01] Đối với chúng ta lại không được lợi ích gì.”
Tỳ-kheo Bạt-kỳ lại đem vấn đề trước đây Da-xá khuyên dạy các Tỳ-kheo là việc làm mạ nhục Tăng, phạm Ba-dật-đề, và nói: “Thầy phải thấy tội để sám hối.”
Da-xá trả lời: “Tôi không có tội để thấy, làm sao sám hối.” Tỳ-kheo Bạt-kỳ bèn tập hợp Tăng để trao cho pháp Yết-ma không thấy tội. Thế là, Da-xá liền dùng thần túc bay đến nước Ba-tuần. Khi ấy, ở nơi ấp Ba-lợi có sáu mươi Tỳ-kheo đều ở A-lan-nhã, đời sống với ba y và khất thực, thường với y phấn tảo, ngồi nơi đất trống, đầy đủ tam minh, lục thông. Tất cả là đệ tử của A-nan, đồng loạt bay đến Tỳ-xá-ly. Da-xá thấy các vị, bèn để y bát nơi hư không như để trên đất, hỏi chào các Tỳ-kheo kia, trình bày rõ ràng mười điều phi pháp của Tỳ-kheo Bạt-kỳ và đề nghị:
“Thưa các Đại đức, chúng ta nên cùng nhau bàn luận pháp Tỳ-ni để chấm dứt việc phi pháp kia, đừng nên để Tỳ-kheo Bạt-kỳ phá hoại chánh pháp.”
Số Tỳ-kheo kia nhất trí muốn cùng nhau chấm dứt.
Lại có ba mươi Tỳ-kheo Tăng nơi ấp Ba-lợi cũng nhất trí như vậy và các vị cũng là đệ tử A-nan. Ở tại nước Ma-thâu-la,11 Da-xá cùng với sáu mươi Tỳ-kheo cũng đã bàn luận đến vấn đề này và nói: “Được ba mươi Tỳ-kheo này đồng tình với chúng ta chắc được như pháp diệt ác sự kia.” Bàn luận rồi cùng bay đến chỗ các Tỳ-kheo kia trình bày đầy đủ như trên. Các vị ở đây đều nhất trí muốn cùng nhau chấm dứt việc phi pháp đã xảy ra.
Lại có ba mươi Tỳ-kheo ở nơi ấp Ba-lợi, nghe sự việc và cũng biểu đồng tình như trên. Các vị cũng là đệ tử của A-nan. Tại ấp A-lạp-bệ,12 Da-xá lại cùng với chin mươi người cũng nghị bàn việc trên, rồi đến tận các nơi trình bày rõ sự việc như trên. Nơi nào cũng đồng tình, mong muốn chấm dứt điều phi pháp này.
Bấy giờ Trưởng lão Tam-phù-đà13 ở trên núi A-hu,14 Da-xá lại cùng một trăm hai mươi người cũng luận bàn việc trên, rồi đến tận các nơi ở đây nói rõ việc phi pháp như trên. Nơi nào cũng biểu đồng tình, muốn chấm dứt việc đó.

II. LY-BÀ-ĐA

Bấy giờ Trưởng lão Ly-bà-đa15 ở thành Câu-xá-di16 được Từ tâm tam-muội, có đại quyến thuộc. Da-xá cùng với một trăm hai mươi mốt vị cũng bàn thảo việc trên, rồi đến tận các nơi ở đây nói rõ việc phi pháp như trên đã nói. Ở đâu cũng đồng tình, muốn chấm dứt việc ấy.
Bấy giờ các Tỳ-kheo Bạt-kỳ nghe Da-xá đến chỗ Ly-bà-đa nơi Câu-xá-di, bèn chở đầy cả thuyền y, bát và vật dụng cần thiết của Sa-môn cũng đến nơi đó, muốn tìm cách mua chuộc cầu yểm trợ. Trong thuyền có người bạn Tỳ-kheo trì luật tên là Sa-lan,17 tự thân thầm suy nghĩ: “Tỳ-kheo Bạt-Kỳ là như pháp hay không? Dựa vào các kinh luật để xét thì việc làm đó không như pháp”. [193b01] Bấy giờ, trong không trung có vị thần ba phen xướng rằng: “Việc làm của Tỳ-kheo Bạt-kỳ là phi pháp, phi pháp như vậy, như vậy, đúng như chỗ thấy của thầy.”
Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ đến Câu-xá-di, cùng nhau lên bờ, đến chỗ Ly-bà-đa thưa: “Chúng tôi có chở nhiều những vật cần dùng của Sa-môn đến để dâng cúng cho ngài, xin ngài nạp thọ.” Ly-bà-đa trả lời: “Y bát của tôi đầy đủ, khỏi cần thêm nữa.”
Bạt-kỳ lại thưa: “Nếu ngài không nhận nhiều thì xin nhận chút ít.” Ly-bà-đa nói: “Y bát của tôi đã đủ, không nên vì thầy thọ để rồi trái với chánh pháp.”
Ly-bà-đa có một người đệ tử tên là Đạt-ma,18 thường hầu hạ thầy; các Tỳ-kheo Bạt-kỳ bèn đến chỗ người đệ tử nói: “Tôi có các vật cần dùng của Sa-môn, nếu ông có thiếu thì cứ lấy dùng.” Người đệ tử của Ly-bà-đa nói: “Tôi đều có đủ, không có thiếu thốn.”
Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ lại nói: “Khi Phật còn tại thế, người ta đến cúng cho Ngài, Phật không nhận thì cúng cho A-nan, A-nan đều thọ. A-nan đã thọ tức là Phật thọ.” Đạt-ma nghe vậy, nên thọ một vật. Thọ rồi hỏi: “Với ý đồ nào, quý vị lại buộc tôi nhận vật cúng của quý vị?”
Bọn Bạt-kỳ nói: “Chúng tôi muốn ông vì chúng tôi thưa với Hòa thượng dùng uy tín yểm trợ chúng tôi, đừng để Da-xá phá hoại pháp luật của chúng tôi.” Đạt-ma vì họ đến chỗ Hòa thượng thưa: “Hòa thượng có yểm trợ cho Tỳ-kheo Bạt-kỳ không?” Hòa thượng dạy: “Người làm phi pháp ta không thể yểm trợ được.”
Đạt-ma lại thưa: “Xin cân nhắc kỹ điều đó.” Ly-bà-đa nói: “Nay ông khuyên ta yểm trợ người phi pháp, tức chẳng phải là đệ tử của ta, từ nay đừng nên hầu hạ ta nữa, ta cũng không nói gì với ông nữa.”
Đạt-ma xấu hổ sợ sệt, đến chỗ các Tỳ-kheo Bạt-kỳ, bọn họ lại hỏi: “Hòa thượng của ông có yểm trợ ý kiến của chúng tôi không?” Đạt-ma đáp: “Không, nào ngờ vì các ông mà tôi bị thầy tôi quở trách, không nói đến tôi và đuổi tôi nữa.”
Các Tỳ-kheo Bạt-kỳ hỏi: “Nay ông bao nhiêu tuổi?” Đáp: “Hai mươi tuổi.” “Với tuổi và đức của ông như vậy sao phải sợ việc không được nói năng và bị đuổi này!?”
Vì sự việc như vậy, Trưởng lão Ly-bà-đa tự nghĩ: “Nếu ở đây ta chấm dứt việc (phi pháp)* kia, thì người gây ra sự việc kia ắt sẽ phát khởi lại. Nay ta nên cùng đến đó để chấm dứt nó.” Nghĩ rồi bèn ra đi cùng với đại chúng kể cả (chúng)* thành Tỳ-xá-ly.
Nơi thành ấy, trước đó đã có Tỳ-kheo tên là Nhất-thế-khứ,19 trong Sa-môn Thích tử nơi Diêm-phù-đề là bậc tối thắng Thượng tọa, chứng A-la-hán, tam minh, lục thông, cũng là đệ tử lớn nhất của A-nan. Lúc còn ở ngoài Tăng phường, Da-xá nói với Ly-bà-đa: “Ngài có thể đến nơi phòng Thượng tọa trải tọa cụ nghỉ đêm, nhân đó trình bày đầy đủ sự việc. Sáng sớm ta cũng sẽ đến thăm hỏi Thượng tọa.” Mọi người đã đến Tăng phường, [193c01] vị Thượng tọa kia sửa soạn nước tắm và nước uống sau giờ ngọ. Ly-bà-đa một mình đến trong phòng Thượng tọa, trải ngọa cụ nghỉ đêm. Ly-bà-đa trong đêm suy nghĩ: “Vị Thượng tọa Nhất-thế-khứ này già yếu mà vẫn còn siêng năng ngồi thiền thâu đêm, nay ta đâu lẽ được phép nghỉ ngơi.”
Thượng tọa Nhất-thế-khứ cũng lại nghĩ như vầy: “Tỳ-kheo khách này đi đường mệt nhọc, lại bận cả việc tắm giặt mà còn tọa thiền hành đạo suốt đêm. Giờ đây sao ta lại an tâm nằm nghỉ?” Hai vị tự sách tấn nhau mà suốt đêm tọa thiền. Đến cuối đêm, Nhất-thế-khứ hỏi Ly-bà-đa: “Đêm nay phần nhiều thầy du hành nơi định nào?” Ly-bà-đa nói: “Bản tánh của tôi nhiều lòng từ, đêm nay phần nhiều du hành nơi định ấy.”
Nhất-thế-khứ nói: “Đây là thô định.”
Lại hỏi: “Thầy là A-la-hán phải không?” Đáp: “Phải vậy.” Kế đó, Ly-bà-đa hỏi Nhất-thế-khứ: “Đêm nay Thượng tọa phần nhiều du hành nơi định nào?” Nhất Thế Khứ nói: “Tánh tôi ưa Không quán, đêm nay phần nhiều du hành nơi định đó.” Ly-bà-đa nói: “Đây là việc làm của bậc đại nhơn. Tại sao vậy? Không tam-muội là pháp của đại nhơn.” Lại hỏi: “Thượng tọa là A-la-hán phải không?” Đáp: “Phải.”
Đêm đã qua, Tỳ-kheo Da-xá đến trước phòng búng móng tay, Thượng tọa liền mở cửa vào thăm hỏi. Thăm hỏi rồi, Ly-bà-đa hỏi Nhất-thế-khứ rằng: “Muối với gừng hợp lại để cách đêm có tịnh hay không?” Nhất-thế-khứ nói: “Việc nầy nên hỏi giữa Tăng, nếu hỏi riêng tôi sợ người phi pháp cho tôi là tư vị, không chấp nhận tôi ở trong túc số những người luận pháp Tỳ-ni.”
Thế là Ly-bà-đa liền tập hợp Tăng, muốn bàn luận Tỳ-ni mà vì lắm lời ồn ào, nên bạch Tăng: “Hôm nay muốn cùng luận bàn pháp Tỳ-ni, mà vì lắm lời ồn ào không thể quyết đoán đuợc. Chúng hai phía nên mỗi bên thỉnh cầu Tăng bốn vị để Bạch nhị yết-ma sai người chủ đoán sự.”
Trước hết, Tỳ-kheo Bạt-kỳ thỉnh cầu bốn vị: 1. Nhất-thế-khứ. 2. Ly-bà-đa. 3. Bất-xà-tôn.20 4. Tu-ma-na.21
Tỳ-kheo ấp Ba-lợi cũng thỉnh cầu bốn vị: 1. Tam-phù-đà. 2. Sa-lan. 3. Trường Phát. 4. Bà-sa-lam.
Các Thượng tọa được Tăng sai rồi cùng nhau nghị bàn: “Địa điểm nào rộng rãi, khoáng đạt, yên tịnh có thể cùng nhau luận bàn pháp Tỳ-ni?” Xem xét khắp nơi thì chỉ thấy nơi ngôi vườn mà người nữ Tỳ-la-da cúng là tốt nhất.
Ly-bà-đa liền bảo đệ tử Đạt-ma đến đó sửa soạn trải tòa, khi Thượng tọa đến thì ông tránh đi. Đạt-ma vâng lệnh đến trải tòa. Các Thượng tọa đến theo thứ tự an tọa.
Khi ấy, Ly-bà-đa hỏi Thượng tọa Nhất-thế-khứ22 rằng: “Muối hòa với gừng để cách đêm23 có tịnh hay không?” Trả lời: “Không tịnh.”
[194a01] Lại hỏi: “Điều đó chế cấm ở đâu?” Trả lời: “Chế cấm tại thành Vương Xá.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế cấm?” Trả lời: “Nhân vì một Tỳ-kheo A-lan-nhã.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Phạm túc thực Ba-dật-đề.”
Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp, là luật, là lời Phật dạy, việc làm của Tỳ-kheo Bạt-kỳ là phi pháp, phi luật chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút một thẻ.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Hai ngón tay xúc chạm thức ăn để ăn,24 có tịnh không?” Thượng tọa hỏi (lại)*: “Thế nào gọi là hai ngón tay xúc chạm thứ ăn để ăn là tịnh?” Ly-bà-đa nói: “Tỳ-kheo ăn đủ rồi lại được ăn trở lại thì dùng hai ngón tay xúc thức ăn để ăn.” (Thượng tọa)* Trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Điều này chế cấm ở đâu?” Trả lời: “Tại thành Vương Xá.” Lại hỏi: “Vì ai mà chế cấm?” Trả lời: “Vì Bạt-nan-đà.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Phạm không làm pháp tàn thực mà ăn, Ba-dật-đề.”
Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ hai.
Ngồi trở lại được phép ăn, hướng đến xóm làng được phép ăn, cũng như vậy. Ra lệnh rút thẻ thứ ba và thẻ thứ tư.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Tô, du, mật, thạch mật hòa với lạc, tịnh hay không?” Thượng tọa hỏi (lại)*: “Thế nào gọi là Tô, du, mật, thạch mật hòa với lạc được uống gọi là tịnh?” Ly-bà-đa nói: “Uống phi thời.” (Thượng tọa) trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Chế cấm điều này ở đâu?” Trả lời: Tại thành Xá-vệ.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?” Trả lời: “Vì Ca-lưu-đà-di.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Phạm phi thời thực, Ba-dật-đề.” Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: Chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ năm.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Uống rượu xà-lâu-già tịnh hay không? Thượng tọa hỏi (lại)*: “Thế nào gọi là rượu xà-lâu-già?” Ly-bà-đa nói: “Gây men rượu mà chưa chín.” (Thượng tọa)* trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Chế cấm điều này ở đâu?” Trả lời: “Tại Câu-xá-di.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?” Trả lời: “Vì Sa-kiệt-đà.”25
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Uống rượu, Ba-dật-đề.” Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: Chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ sáu.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Làm tọa cụ lớn, nhỏ theo ý mình, tịnh hay không?” Trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Chế cấm điều này ở đâu?” Trả lời: “Tại thành Xá-vệ.”
Lại hỏi: “Vì ai mà chế?” Trả lời: “Vì Ca-lưu-đà-di.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “phạm Ba-dật-đề.” Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ bảy.
Ly-bà-đa lại hỏi:
“Quen theo nếp sống trước, tịnh hay không?” Thượng tọa hỏi (lại):* “Thế nào gọi là quen theo nếp sống trước?” Ly-bà-đa nói: “Quen theo việc làm khi còn là bạch y.”
Thượng tọa nói: “Hoặc có thói quen có thể chấp nhận, hoặc có thói quen không thể chấp nhận.”26 [194b01] Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ tám.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Cầu thính tịnh hay không?” Thượng tọa hỏi (lại):* “Thế nào là cầu thính?” Ly-bà-đa nói: “Tác pháp Yết-ma riêng, sự việc đã rồi sau mới đến cầu người khác cho phép.” (Thượng toa)* trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Điều này chế cấm ở đâu?” Trả lời: “Tại nước Chiêm-bà.”
Lại hỏi: “Vì ai mà cấm?” Trả lời: “Vì nhóm sáu Tỳ-kheo.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Tùy theo việc Yết-ma.” Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ chín.
Ly-bà-đa lại hỏi: “Nhận chứa vàng, bạc, tiền, tịnh hay không?” Trả lời: “Không tịnh.”
Lại hỏi: “Chế cấm điều này ở chỗ nào?” Trả lời: “Tại thành Vương Xá.”
Lại hỏi: “Nhân ai mà chế?” Trả lời: “Vì Nan-đà, Bạt-nan-đà.”
Lại hỏi: “Phạm việc gì?” Trả lời: “Phạm nhận chứa vàng bạc và tiền, Ni-tát-kỳ Ba-dật-đề.” Ly-bà-đa nói: “Đây là pháp… cho đến câu: chẳng phải lời Phật dạy.” Ra lệnh rút thẻ thứ mười.
Hỏi xong, cùng nhau trở lại tập hợp Tăng, Ly-bà-đa đối trước đại chúng hỏi lại từng vấn đề một như đã hỏi Nhất-thế-khứ, rút thẻ thứ nhất cho đến thẻ thứ mười. Để đúc kết vấn đề, Ly-bà-đa tuyên xướng:
“Chúng ta đã luận bàn Tỳ-ni xong, những gì đức Phật không chế cấm, không được vọng chế, những gì đức Phật đã chế cấm không được trái phạm, như lời đức Phật dạy phải kính cẩn học tập.”
Lúc bấy giờ, chúng luận pháp Tỳ-ni này bao gồm: đệ nhất Thượng tọa là Nhất-thế-khứ, một trăm ba mươi sáu hạ lạp; đệ nhị Thượng tọa là Ly-bà-đa, một trăm hai mươi hạ lạp; đệ tam Thượng tọa là Tam-phù-đà, đệ tứ Thượng tọa là Da-xá đều một trăm mười hạ lạp. Con số hợp chung tròn bảy trăm vị A-la-hán không nhiều không ít, cho nên gọi là Thất bách kiết tập Pháp.27



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *