Ngũ Trí Như Lai

NGŨ TRÍ NHƯ LAI

Nguyễn Thế Đăng

Nếu pháp giới là toàn thân Phật Tỳ-lô-giá-na, tại sao “có những sự khác biệt như khổ vui, tốt xấu, thọ ít hưởng nhiều, tất cả nghiệp và báo?”. Đây là câu hỏi Đức Văn-thù hỏi thay cho chúng sanh chúng ta trong chương Bồ-tát vấn minh, thứ 10.
Bồ-tát Giác Thủ trả lời bằng kệ:
Cứ theo nghiệp đã tạo
Thọ quả báo như vậy
Đều không có tác giả
Đây là lời chư Phật.
Như mặt gương sáng sạch
Tùy theo cảnh đối tượng
Hiện bóng sai khác nhau
Tánh nghiệp cũng như vậy.
Như trên ruộng gieo giống
Chúng đều chẳng biết nhau
Tự nhiên mọc lên cây
Tánh nghiệp cũng như vậy.
Như nhà ảo thuật giỏi
Ở tại ngã tư đường
Hiện ra những sắc tướng
Tánh nghiệp cũng như vậy.
Như máy móc người gỗ
Hay vang ra các tiếng
Nó không ngã, ngã sở
Tánh nghiệp cũng như vậy…
Bồ-tát Văn Thù lại hỏi: “Chỗ giác ngộ của Như Lai chỉ là một pháp duy nhất, sao lại bảo là có vô lượng pháp, hiện vô lượng cõi, dạy vô lượng chúng, diễn vô lượng âm, hiện vô lượng thân, hiển thị vô biên các thứ cảnh giới. Nhưng trong pháp tánh, các tướng sai biệt này đều bất khả đắc”. Bồ-tát Đức Thủ trả lời:
Nghĩa của Phật tử nói
Rất sâu khó rõ được
Người trí biết nghĩa này
Thường chứa công đức Phật.
Như đất chỉ một tánh
Mọi loài ở riêng chỗ
Đất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như một biển lớn
Ngàn vạn làn sóng khởi
Nước biển vẫn duy nhất
Pháp chư Phật như vậy…
Mặt trời không mây che
Chiếu sáng khắp mười phương
Quang minh không sai khác
Pháp chư Phật như vậy…
Ví như đại Phạm vươn
Ứng hiện khắp đại thiên
Thân ngài vẫn không khác
Pháp chư Phật như vậy.
Qua những đoạn kệ trên, chúng ta thấy tất cả là một Phật bổn nguyên Tỳ-lô-giá-na, không sanh không diệt, không đến không đi, không đoạn không thường, không một không khác, mà tùy theo tâm thức nhiễm ô nghiệp báo thấy có sai khác, đến đi, sanh diệt… thành thế giới chúng sanh của mình.
Tất cả chỉ là “một vị”, một pháp thân, một Tâm, một Trí Huệ, từ xưa đến nay vẫn như vậy:
Lại như nước một vị
Nhân đồ đựng có khác
Phật phước điền vẫn một
Do tâm người thành khác…
Thưa ngài, Pháp thường vậy
Pháp Pháp vương duy nhất
Tất cả chư Như Lai
Một đạo mà giải thoát.
Thân của tất cả Phật
Chỉ là một Pháp thân
Một Tâm, một Trí Huệ
Lực, Vô úy cũng vậy.
Chỉ có người tâm ý đã thanh tịnh mới thấy được cái Thanh Tịnh duy nhất và vốn toàn thiện, viên mãn này:
Tất cả các cõi Phật
Trang nghiêm đều viên mãn
Tùy chúng sanh sai khác
Thấy chẳng đồng như vậy.
Cõi Phật cùng thân Phật
Chúng hội và ngôn thuyết
Các Phật pháp như vậy
Chúng sanh chẳng thấy được.
Tâm ý đã thanh tịnh
Hạnh nguyện đều đầy đủ
Người sáng suốt như vậy
Mới có thể thấy được.
Cái thấy của chúng sanh, các kinh nghiệm của mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng sanh là cái thấy, kinh nghiệm bị chia cắt nên sai lầm. Sự chia cắt căn bản là là sự ngăn cách giữa một chủ thể (năng) phân biệt hư vọng nhìn thấy những đối tượng (sở) có ra do tâm thức phân biệt hư vọng. Khi biết các căn là vô tự tánh, là tánh Không, thì đó là pháp nhãn thanh tịnh: chỉ một tánh Không thông suốt tất cả mọi pháp. Nếu thấy được bản tánh sâu xa của các giác quan là pháp tánh vô tự tánh, vô sanh, thì thấy được cái Chân thật. Bồ-tát Giác Thủ nói:
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Tâm ý, sáu tình căn
Do đây thường lưu chuyển
Nhưng vẫn không năng chuyển.
Pháp tánh vốn vô sanh
Thị hiện mà có sanh
Trong đây không năng hiện
Cũng không vật sở hiện.
Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
Tâm ý, sáu tình căn
Tất cả rỗng, vô tánh
Vọng phân biệt mà có.
Cứ đúng lý quan sát
Tất cả đều vô tánh
Pháp nhãn chẳng nghĩ bàn
Đấy là thấy chân thật.
Trở lại cội nguồn chân thật của các giác quan là pháp tánh vô sanh, vô tự tánh, bấy giờ thấy “thật tướng của các pháp” là Chân Như, là Như Lai tạng, là Phật tánh. Thế nên, kinh Lăng Nghiêm nói tánh thấy, tánh nghe, tánh tri giác… là Phật tánh hay tánh giác ứng hiện nơi mỗi căn:
Xoay nghe thoát khỏi tiếng
Giải thoát đâu có danh
Một căn đã về nguồn
Sáu căn thành giải thoát.
Sáu căn cũng như thế
Vốn y một Tinh Minh
Phân thành sáu hòa hiệp
Một chỗ đã về nghỉ
Sáu dụng đều chẳng thành
Một niệm trần cấu tiêu
Thành Viên Minh tịnh diệu
Còn trần là hữu học
Sáng tột tức Như Lai.
Khi đạt đến cội nguồn Chân Không thì tất cả là Diệu Hữu. Khi tâm thanh tịnh, nghĩa là đạt đến cội nguồn tánh Không của nó, thì tất cả các pháp, tánh tướng đều thanh tịnh. Kinh Hoa Nghiêm hay lấy ví dụ là tấm gương, viên ngọc trong suốt, lưới trời Đế-thích… để chỉ tâm. Khi kinh nghiệm được cội nguồn của các bóng trong gương chính là gương, khi tấm gương tâm đã trong sáng thanh tịnh, thì các bóng cũng trong sáng thanh tịnh.
Duy thức, Không tông, Thiền tông, Mật giáo cũng cùng quan điểm và cách thực hành tương tự: đi trở lại nguồn gốc hay bản tánh của thế giới bên ngoài và thế giới bên trong. Nguồn gốc hay bản tánh ấy là các vị Phật bổn nguyên, các vị ấy vốn là tánh Không, quang minh, giải thoát và giác ngộ bổn nguyên, là Chân Không Diệu Hữu bổn nguyên.
Theo hệ thống Mật giáo thì:
Sắc uẩn, thủy đại, phiền não là sân, có bản tánh là Bất Động Phật hay A-súc-bệ Phật, Đại viên cảnh trí hay Kim cương trí.
Thọ uẩn, địa đại, phiền não là kiêu căng, có bản tánh là Bảo Sanh Phật, Bình đẳng tánh trí.
Tưởng uẩn, hỏa đại, phiền não là tham, có bản tánh là A-di-đà Phật, Diệu quan sát trí.
Hành uẩn, phong đại, phiền não là đố kỵ, có bản tánh là Bất Không Thành Tựu Phật, Thành sở tác trí.
Thức uẩn, không đại, phiền não là si, có bản tánh là Tỳ-lô-giá-na Phật, Pháp giới thể tánh trí, là nền tảng của bốn trí trước và khiến bốn trí trên là một.
Mật giáo gọi là đi vào mạn-đà-la Ngũ Trí Như Lai, tức là nhập Pháp giới. Duy thức gọi là chuyển tám thức thành bốn trí, đưa thức trở về bản tánh của chúng là trí. Do chuyển các căn thành vô lậu, các thức, các trần thành thanh tịnh mà có quốc độ thanh tịnh. Thiền tông, mà đại diện là Lục tổ Huệ Năng, nói là “hiểu thấu ba thân, bốn trí” (Phẩm Cơ Duyên).
Tỳ-lô-giá-na xuất sanh Ngũ Trí Như Lai, là nền tảng thanh tịnh của các căn. Nền tảng của căn, trần, thức là Phật Tỳ-lô-giá-na.
Khi đạt đến cội nguồn của mắt tai mũi lưỡi thân ý, cội nguồn đó là Phật Tỳ Lô Giá Na hay pháp giới tánh vô hạn vô lượng, thì từ đó mắt tai mũi lưỡi thân ý trở thành vô lượng, chứa cả pháp giới và do bản tánh vô lượng cho nên các tướng mắt tai mũi lưỡi thân ý vô ngại với nhau. Trở về lại cội nguồn của căn trần thức là đi vào biển quả của Phật Tỳ Lô Giá Na.
Tại sao mắt Phật là vô lượng
Tai mũi lưỡi thân cũng như vậy
Ý Phật vô lượng là thế nào
Mong giải cho biết phương tiện đó.
Ở kinh Hoa Nghiêm, đi đến mức rốt ráo của sự vô ngại, tự do, giải thoát, nên sắc vô ngại với sắc, với thanh hương… với mắt tai mũi lưỡi… Như Bồ-tát Quan Thế Âm ngàn mắt ngàn tay, mỗi tay có một con mắt. Trong chương Ly thế gian, thứ 38, Bồ-tát có mười loại thân, mười chân, mười tay, mười đầu, mười mắt, mười tai, mười mũi…
Sự viên dung của các giác quan, các trần, các thức, sự vô ngại rốt ráo của Phật được nói đến trong chương Phật bất tư nghì pháp, thứ 33:
“Tất cả chư Phật hay dùng nhãn xứ làm nhĩ xứ Phật sự, hay dùng nhĩ xứ làm tỷ xứ Phật sự, hay dùng tỷ xứ làm thiệt xứ Phật sự, hay dùng thiệt xứ làm thân xứ Phật sự, hay dùng thân xứ làm ý xứ Phật sự, hay dùng ý xứ trong tất cả thế giới trụ thế xuất thế các thứ cảnh giới, trong mỗi mỗi cảnh giới hay làm vô lượng Phật sự rộng lớn. Đây là pháp tự tại thứ tám”.
Trở lại với bản tánh Không, quang minh, vốn sẵn đủ là giải thoát khỏi thế giới “biển nghiệp” để thấy và sống thế giới “biển công đức và trí huệ” vô lượng của Phật:
Nếu người đã an trụ
Các hạnh nguyện Phổ Hiền
Thấy những quốc độ kia
Thần lực của chư Phật.
Nếu người có tin hiểu
Cho đến các đại nguyện
Đầy đủ trí huệ sâu
Thông đạt tất cả pháp
Có thể nơi thân Phật
Mỗi mỗi quan sát được
Sắc, thanh không chướng ngại
Rõ thấu được các cảnh.
Có thể nơi thân Phật
An trụ cảnh trí huệ
Mau vào địa Như Lai
Trùm khắp cả pháp giới.
Số vi trần Phật sát
Những quốc độ như vậy
Hay khiến trong một niệm
Hiện trong mỗi vi trần.
Tất cả những quốc độ
Cho đến sự thần thông
Đều hiện trong một cõi
Lực Bồ-tát như vậy.
(Như Lai hiện tướng, thứ 2)
Căn, trần, thức khi ở trong biển pháp giới thì vô ngại và vô lượng vì đây là biển quả của Phật Tỳ-lô-giá-na. Để đi vào pháp giới vô ngại ấy, người ta phải thực hành hạnh Phổ Hiền:
Thường hành hạnh Phổ Hiền
Rộng độ các quần sanh
Thân nghiệp không chướng ngại
Ngữ nghiệp đều thanh tịnh
Ý hành cũng thanh tịnh
Ba đời đều vậy cả
Bồ-tát tu như vậy
Rốt ráo đạo Phổ Hiền
Xuất sanh trí thanh tịnh
Chiếu khắp cả pháp giới…
Vào sâu các thế giới
Một thân vô lượng cõi
Một cõi vô lượng thân
Ba đời những Phật pháp
Từ nơi pháp giới sanh
Đầy khắp Như Lai địa.
Niệm thanh tịnh vô ngại
Huệ vô biên vô ngại…
Tạng trí huệ vô tận
Tất cả đều được biết
Xuất sanh mắt vô ngại
Tai, mũi, thân vô ngại
Lưỡi rộng dài vô ngại
Hay khiến chúng hoan hỷ
(Phổ Hiền hạnh, thứ 36)
Hạnh Phổ Hiền không ra ngoài biển pháp giới hay biển quả của Phật Tỳ-lô-giá-na. Thế nên, khi thực hành hạnh Phổ Hiền, chúng ta cần tin chắc là mình đang làm trên và trong biển quả vốn đã viên thành của Phật. Như thế dù sự vô ngại của pháp giới có rợn ngợp đến đâu chăng nữa cũng có được sự yên tâm, không mất kiên trì tu tập.
Mục tiêu của người tu hành là càng lúc càng nhận ra thế giới mình đang sống trong đó chính là pháp giới vô ngại và vô lượng, nơi Phật vốn đầy khắp, đồng nhất với tất cả vũ trụ và chúng sanh trong từng vi trần, trong từng khoảnh khắc. Tất cả những gì chúng ta thấy nghe hay biết, trong thật tướng của chúng, đều là Phật, bởi vì tất cả các giác quan, các đối tượng của giác quan, đều có nguồn gốc, nền tảng là Phật bổn nguyên Ngũ Trí Như Lai.
Vì đang sống trong biển Phật quả như vậy, nên chỉ một hồi hướng cũng liền đưa chúng ta bình đẳng với tất cả pháp giới:
“Bồ-tát lại nguyện do căn lành hồi hướng này khiến tôi được phước đức bình đẳng, trí huệ bình đẳng, lực bình đẳng, vô úy bình đẳng, thanh tịnh bình đẳng… Tất cả các pháp trên đều được tròn đủ. Tôi được như thế nào, nguyện tất cả chúng sanh cũng đồng được như tôi…
“Như pháp giới một tánh, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, đồng một trí tánh với tất cả chúng sanh. Như pháp giới tự tánh thanh tịnh, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, làm cho chúng sanh được rốt ráo thanh tịnh. Như pháp giới tùy thuận, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, làm cho tất cả chúng sanh đều tùy thuận hạnh nguyện Phổ Hiền. Như pháp giới trang nghiêm, thiện căn hồi hướng cũng như vậy, làm cho tất cả chúng sanh dùng hạnh Phổ Hiền mà trang nghiêm…” (Thập Hồi hướng, thứ 25).
Khi đã được đồng với pháp giới và chúng sanh ở mức độ nào, chúng ta bắt đầu thấu hiểu sự đồng nhất rốt ráo của pháp giới Phật. Chính sự đồng nhất rốt ráo này hiển bày cái dụng vô ngại của căn, trần, thức đang hiện hành của chúng ta:
Ở trong nhãn căn nhập chánh định
Nơi trong sắc trần từ định xuất
Thị hiện tánh sắc bất tư nghị
Tất cả trời người chẳng biết được.
Ở trong sắc trần nhập chánh định
Nơi nhãn xuất định tâm chẳng loạn
Nói nhãn vô sanh và vô khởi
Tánh Không, tịch diệt, và vô tác.
Ở trong nhĩ căn nhập chánh định
Nơi trong thanh trần từ định xuất
Phân biệt tất cả tiếng, ngữ ngôn
Chư thiên, người đời chẳng biết được.
Ở trong thanh trần nhập chánh định
Nơi nhĩ xuất định tâm chẳng loạn
Nói nhĩ vô sanh và vô khởi
Tánh Không, tịch diệt, và vô tác…
Ở trong xúc trần nhập chánh định
Trong thân xuất định tâm chẳng loạn
Nói thân vô sanh và vô khởi
Tánh Không tịch diệt và vô tác.
Ở trong ý căn nhập chánh định
Nơi trong pháp trần tự định xuất
Phân biệt tất cả các tướng pháp
Chư Thiên, thế nhân chẳng biết được…
(Hiền Thủ, thứ 12).
Cho đến các đại địa, thủy, hỏa, phong, không… tất cả đều xuất nhập vô ngại, như chính pháp giới sự sự vô ngại:
Trong một vi trần nhập chánh định
Trong tất cả trần từ định xuất

Như mặt nhật nguyệt trên hư không
Bóng tượng cùng khắp cả mười phương
Trong nước ao hồ đầm chậu chén
Sông ngòi biển lớn đều hiện cả…
Như nơi nước trong, bóng vũ khí
Các loại sai khác không xen tạp
Đao kiếm cung tên rất nhiều thứ
Mão giáp xe cộ chẳng phải một
Tùy kia bao nhiêu tướng sai khác
Nước trong hiện rõ tất cả bóng
Nhưng nước vốn tự không phân biệt.
(Hiền Thủ, thứ 2)
Khi đạt đến cội nguồn hay bản tánh của mọi sự và cũng là của tâm chúng ta là Phật Tỳ-lô-giá-na hay pháp giới thể tánh trí, thì các đại đất, nước, lửa, gió, không, thức, các căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp… tất cả đều là sự biểu lộ, hiện bày của Phật Tỳ-lô-giá-na, đều thanh tịnh, giải thoát và trang nghiêm không thể nghĩ bàn. Tất cả các đại, các căn, các trần, các thức đều là Phật.
Trong tất cả quốc độ
Khắp diễn tiếng vi diệu
Ca ngợi công đức Phật
Pháp giới đều đầy khắp.
Phật dùng pháp làm thân
Thanh tịnh như hư không
Hiện ra những sắc tướng
Đều gồm trong pháp tánh
Nếu có người tin mừng
Và được Phật nhiếp thọ
Nên biết người như vậy
Sanh trí huệ biết Phật.
Những người trí kém ít
Không biết được pháp này
Người mắt huệ thanh tịnh
Thấy tất cả rõ ràng

Trong tất cả sự vật
Pháp môn nhiều vô biên
Thành tựu Nhất thiết trí
Nhập vào biển pháp sâu
An trụ quốc độ Phật
Hiện nơi tất cả chỗ
Không đến cũng không đi
Pháp chư Phật như vậy.
Tất cả biển chúng sanh
Thân Phật hiện như bóng
Tùy họ hiểu sai khác
Đều được thấy Đạo sư.
Trong tất cả chân lông
Mỗi mỗi hiện thần thông
Tu hạnh nguyện Phổ Hiền
Người thanh tịnh được thấy.
Phật dùng mỗi mỗi thân
Chốn chốn đều dạy pháp
Khắp cùng toàn pháp giới
Nghĩ bàn chẳng thể đến.
(Như Lai hiện tướng, thứ 2)
Tất cả đều là Phật pháp, đều là quang minh, khi các căn và các thức đã thanh tịnh:
“Tôi sẽ khắp vì tất cả thế gian mà thực hành hạnh Bồ-tát, làm quang minh thanh tịnh của tất cả pháp, chiếu sáng tất cả Phật pháp. Lúc phát tâm này quyết định không nghi. Lại nghĩ rằng tôi sẽ biết tất cả pháp đều là Phật pháp, tùy tâm chúng sanh mà vì họ diễn thuyết đều khiến khai ngộ. Lúc phát tâm này quyết định không nghi” (Ly thế gian, thứ 38).
Phát tâm và thực hành hạnh Bồ-tát như vậy là sống trong biển quả, và dần dần thể nghiệm pháp giới biển quả ấy bằng các căn và các thức thanh tịnh. Các căn và các thức vốn thanh tịnh vì chúng là sự biểu lộ của Ngũ Trí Như Lai. Do đó, sự tu hành được chỉ dạy trong kinh Hoa Nghiêm là sự tu hành trong Quả, hay còn gọi là Quả thừa.
Văn hóa Phật giáo số 218+219



  • Leave a Comment