Phẩm thứ tám – Thiền định

TỊCH THIÊN

(Sàntideva)

PHƯƠNG THỨC THỰC HÀNH HẠNH BỒ TÁT

(Bodhicharyàvatàra)

Chuyển tiếng Việt: Giác Nguyên

Phẩm thứ tám THIỀN ĐỊNH

1- Phát khởi tinh tấn rồi.
Trú tâm trong Thiền định
Người tâm vọng lôi thôi.
Rơi hãm vuốt mê muội.
2- Thân tâm sống xa lìa.
Tức chẳng sanh tán loạn.
Nên rời nhiễm thế gian.
Từ bỏ mọi tục niệm.
3- Yêu thân bằng mến lợi.
Tức khó bỏ trần duyên.
Người trí dứt lưu luyến.
Tu quán hạnh tham thiền.
4- Pháp Chỉ-Quán cao trên.
Năng diệt các não phiền.
Tu Chỉ dừng vọng niệm.
Lìa tham ái đắc nên.
5- Tự thân vốn vô thường.
Còn luyến người vô thường.
Dù tái sanh ngàn kiếp.
Chẳng gặp người mình thương.
6- Chưa gặp ắt không vui.
Khó đi vào Chánh định.
Khi gặp lại mê vùi.
Thêm khổ yêu khó tránh.
7- Nếu tham luyến chúng sanh.
Ngăn ngại pháp thật tánh .
Cũng hủy hoại chơn tâm.
Chung cuộc thêm sầu thán !
8- Tâm cứ nhớ người thân.
Đời trôi qua vô nghĩa.
Chúng thân hữu vô thường.
Phá hoại hằng thường pháp.
9- Hành vi giống phàm ngu.
Tất đọa ba ác đạo.
Tâm muốn đạt thánh cảnh.
Cần chi gần phàm ngu ?
10- Phút trước kết bạn thân.
Lát sau thành thù địch.
Tiệc vui chuốc oán cừu.
Tâm phàm khó xứng thích.
11- Lời thật dễ mích lòng.
Còn xúi ta làm quấy.
Nếu ta chẳng nghe theo.
Họ giận đọa ác thú.
12- Ghét kẻ hơn, tranh bằng.
Ngạo người thua, khen kiêu.
Trái tai thì nỗi giận.
Gần họ có ích chăng ?
13- Bạn kẻ ngu thường sanh.
Lỗi khen mình chê người.
Thích bàn chuyện thế tục.
Và quấy ác chẳng lành.
14- Gần bạn bè như vậy.
Chỉ rước lấy họa tai.
Họ và ta cả hai.
Không ích gì nhau cả.
15- Cần xa kẻ phàm ngu.
Gặp họ thời vui đón.
Nhưng đừng quá thân tình.
Giữ lễ nghi quân tử.
16- Như ong hút nhụy mật.
Khi vì pháp hóa duyên.
Lòng tự tại an nhiên.
Như vầng trăng chiếu sáng.
17- Cho ta giàu đáng kính.
Ai cũng yêu mến ta.
Nếu giữ lòng kiêu mạn.
Khi chết sợ đọa sa.
18- Này ý thức ngu mê.
Bất kể mọi tham luyến.
Nhất định rước ngàn sầu.
Do đời này lắm chuyện.
19- Nên kẻ trí không tham.
Sợ đọa ba đường khổ.
Suốt biết mỗi việc làm.
Mọi sự vật buông bỏ.
20- Dù ta lắm của tiền.
Khiến nỗi danh khắp miền.
Nhưng danh lợi thâu được .
Không thể chìu ý riêng.
21- Khen ta , ta nào vui.
Khi có lời phỉ báng.
Chê ta , ta nào buồn.
Khi có lời xưng tán.
22- Muôn loài vạn ý ngông.
Phật còn khó vừa lòng.
Huống ta hèn kém đức.
Bỏ tạp niệm cho xong.
23- Họ khinh kẻ bần cùng.
Ganh tỵ người giàu có.
Bản chất họ thế đó.
Kết bạn, mình vui không ?
24- Như lai từng nhủ khuyên.
Phàm ngu không lợi quyền.
Chỉ ôm lòng sầu não.
Chớ kết làm bạn hiền.
25- Trong rừng chim thú cây.
Chẳng phát âm trái tai.
Bạn với chúng an lạc.
Bao giờ thực hiện đây ?
26- Bao giờ ngồi gốc cây.
Trong hang động , chùa vắng.
Nguyện tâm không quyến luyến.
Dứt tham nhiễm trần ai ?
27- Bao giờ đi ẩn dật,
Nơi khoáng đạt thiên nhiên.
Chẳng trụ chấp của riêng.
Sống cuộc đời tự tại ?
28- Bao giờ không sợ hãi,
Ở mất trộm của cải.
Y bát vật tùy thân.
Dẫu mình trần chẳng ngại ?
29- Bao giờ đến tha ma,
Xúc cảnh khởi nghi tình.
Thân ta , hài cốt đó.
Cái gì thể vô sanh ?
30- Thân ta rồi hủy hoại.
Hôi thúi khiến sói chồn.
Chẳng dám ăn ngần ngại.
Chung cuộc thật ghê hồn.
31- Chỉ một tấm thân này.
Sống thời xương thịt kết.
Khi chết rả tan thây.
Huống chi thân thuộc khác.
32- Lúc sanh một mình ra.
Khi chết, riêng mình chết.
Khổ đau ai chan sớt ?
Thân quyến lợi gì ta ?
33- Như lữ khách đường xa.
Không mê nơi tạm náu.
Người thực hành chánh đạo.
Không lưu luyến thân gia.
34- Đợi lúc nào quyến thuộc,
Thương khóc buổi đưa tang.
Xác ta mấy người vác.
Mới chịu vào nghĩa trang?
35- Không gặp kẻ oán thân.
Một mình ẩn sơn lâm.
Xem như ta đã chết.
Còn ai phải khóc than ?
36-Bốn bề không bóng người.
Để xót thương mưu hại.
Nên lúc tu quán niệm.
Vọng tưởng bặt đi rồi.
37- Bởi thế , sống độc cư.
Ít việc dễ an lạc.
Giữa núi rừng xanh mát.
Tâm trong lặng như như.
38- Khi dứt tục niệm liền.
Tâm ta được nhất chuyên.
Thực hành pháp tịnh chỉ.
Tinh tấn sạch não phiền.
39- Thân này và thân sau.
Tham dục dẫn họa sâu.
Trói chặt giết đời này.
Đọa khổ ngục đời sau.
37- Trước ông tơ bà mối.
Cố khẩn cầu bền duyên,
Việc làm sao chẳng kỵ,
Phạm tiếng xấu tội khiên.
38- Dù hiễm vẫn lao vào.
Tài sản mặc khánh kiệt.
Chỉ mong ôm gái đẹp.
Lòng khoái lạc xiết bao!
39- Một túi xương thịt da .
Mải mê tham chấp đắm.
Chẳng tự chủ thân ta,
Hướng Niết bàn vắng lặng.
40- Mặt đẹp nhìn thẹn e.
Mở voan che ngó xuống.
Lúc chết ai thấy nghe ?
Đem chôn cũng phủ kín.
41- Kiều nữ mê lòng ai ?
Nay hiện ra trước mắt.
Quạ diều rỉa, moi móc.
Sao nhìn thấy chạy dài ?
42- Ngày xưa ai trộm nhìn.
Ngươi vội vàng la thé,
Nay diều tha, quạ xé.
Sao ngươi không giữ gìn ?
43- Khi trông thây thịt vứt.
Bị cầm thú tranh ăn.
Khổ công chi trang sức ?
Mồi dưỡng nuôi thú cầm !
44- Nếu ngươi thấy xương khô.
Nằm im do kinh hãi.
Sao không sợ nữ quái.
Như hài cốt ra vô ?
45- Dáng xưa mê xiêm áo.
Giờ phơi truồng ngươi chê.
Nếu nhờm gớm lỏa thi.
Thích chi thây lụa sống ?
46- Phân tiểu và nước bọt.
Đều do ăn uống sanh.
Sao ngươi ham nút bọt.
Chẳng tham phân hôi tanh ?
47- Kẻ thị dục chẳng ưa,
Chạm xúc gối mềm sạch.
Vì không mùi thể nữ.
Hóa ra mê vật dơ.
48- Kẻ mê dục nói rằng :
Nệm gối tuy mềm sạch.
Ngủ chẳng thành uyên ương.
Còn sanh tâm phiền trách.
49- Nếu không thích đồ dơ.
Ưa chi hài cốt nữ ?
Thịt như bùn đấp tô .
Ấp yêu hoài chẳng bỏ.
50- Thân người nhiều bất tịnh.
Thường ngày ngươi trải qua.
Thụ hưởng đủ chăng là ?
Tham chi túi dơ khác ?
51- Nếu bảo vui xác thịt.
Do mềm dịu vuốt ve.
Thế sao không tham đắm,
Vô hồn một tử thi ?
52- Giọng nữ làm ngươi mê .
Tâm ấy không sờ thấy.
Sờ thấy chẳng phải tâm.
Sao ôm si làm hề ?
53- Chẳng rõ thân người dơ.
Chưa phải là quái nhược.
Chẳng biết mình nhiễm trược.
Thật kỳ lạ khôn ngờ.
57- Ngươi giữ lòng bất tịnh.
Sao cố bỏ đóa sen,
Dưới mặt trời đang nở,
Lại thích túi da hèn ?
58- Nếu ngươi chẳng muốn sờ.
Trên đất đầy ô uế.
Sao ngươi lại muốn mò.
Trên thân dơ tồi tệ.
59- Nếu chẳng tham bất tịnh.
Giống bất tịnh sanh ta.
Từ cấu uế đẻ ra.
Sao lại ấp yêu mãi ?
60- Dòi sinh từ phẩn tiểu.
Tuy nhỏ ngươi gớm khinh.
Huống là dục cấu sanh.
Thân này đầy dơ bẩn.
61- Nơi thân ngươi bất tịnh.
Chẳng những không rẻ khinh.
Còn tham vật thúi ình.
Túi da hôi kẻ khác.
62- Ngay cả những thuốc thang.
Ngũ cốc , thức ăn sang.
Nuốt rồi liền tống xuất.
Ô nhiễm đất vô vàn .
63- Thân uế dơ như thế.
Nếu thấy còn ngờ nghi.
Nên quán chốn rừng thi .
Và vật bất tịnh khác.
64- Lớp da ngoài xẻ ra.
Người nhìn đều kinh hãi.
Biết đó sao còn ham.
Vui mừng không hối cải ?
65- Mùi thơm để xoa thân.
Của hương hoa cây cỏ.
Đâu phải từ thân có.
Sao ham thích nữ nhân ?
66- Nếu thân vốn tanh hôi.
Đừng tham luyến phải rồi.
Người ham điều vô nghĩa.
Phấn hương lại tô bồi !
67- Cỏ hoa cho hương thơm.
Thân ta xuất mùi nhờm.
Cần chi hương giả tạo.
Từ thân gái bôi đơm ?
68- Nếu râu tóc, móng dài.
Răng ke vàng, miệng thúi.
Để lỏa hình tanh hôi.
Có đam mê tiếc nuối !?
69- Dục là dao sát phá.
Không để cùn, mài tô.
Thật si mê cuồng đồ.
Than ôi ! Đầy thiên hạ .
70- Bãi tha ma toàn xương.
Nếu chẳng rõ vô thường.
Vui chi những hài cốt,
Di động khắp phố phường?
71- Lại nữa gần nữ thân.
Trả giá đắt mới được.
Đời nay vướng bụi trần.
Mai sau mắc nạn ngục .
72- Tuổi trẻ không lộc tài.
Lớn lên sao hưởng lạc ?
Được tài , thọ sắp hết.
Già đến muốn ham ai ?
73- Kẻ đa dục hạ liệt.
Thường ngày lao lực kiệt.
Đêm về tinh khí hao.
Thân ngủ như thây chết.
74- Hoặc có kẻ tha hương.
Trải qua nhiều lao khổ.
Dù muốn gặp người thương.
Suốt năm chưa tái ngộ.
75- Hoặc vì người tư lợi.
Ngu si tự bán mình.
Chưa được lợi mưu sinh.
Bị gió nghiệp lôi mất.
76- Hoặc kẻ làm tôi tớ.
Tha hồ người khác sai.
Vợ nhà lâm cơn đẻ.
Nơi đồng vắng sanh thai.
77- Hoặc kẻ vì sanh kế
Bị xung quân đánh nhau.
Cầu vinh dự , công cao.
Ngờ đâu tù khổ, chết !
78- Vì cướp giựt , thanh toán.
Hoặc bị gươm dáo đâm.
Hoặc bị đoản mâu cắt.
Hoặc bị lửa thiêu hầm.
79- Trải lao khổ , thâu vô.
Của nhiều , lo lắm nạn.
Kẻ tham tài tán mạng.
Thoát khổ đến bao giờ ?
80- Tham dục sinh lắm khổ.
Phước lợi ít, hại nhiều.
Như thú kéo xe theo.
Được ăn vài ngụm cỏ.
81- Lợi ấy rất nhỏ nhoi.
Như súc sinh dễ được.
Với người đành mạng toi.
Vì nó , bao khổ phược ?
82- Tham muốn rốt hoại nát.
Sau đọa ba đường u.
Khi vui được chốc lát.
Chịu khổ sầu ngàn thu.
83- Lấy phần vạn khổ phát,
Đủ tu chứng Bồ đề.
Người tham dục vẫn mê.
Thà khổ hơn tỉnh giác.
84- Quán niệm khổ địa ngục.
Biết cội nguồn hoạn dục.
Thuốc độc, lửa, khí, binh,
Địch hiễm, không sánh được.
85- Vậy nên lìa ngũ dục.
Vui với cảnh thanh nhàn.
Chẳng tranh , không phiền não.
Ở núi rừng tịnh an.
86- Dưới ánh trăng trong mát.
Hương rừng tợ chiên đàn.
Thư thái trên phiến đá.
Như ngồi giữa cung vàng.
Gió núi không xào xạc.
Dìu dịu thổi nhịp nhàng.
Bậc thiền giả tản bộ.
Ban phước độ nhân gian.
87- Nhà trống , dưới cội cây.
Hang động tùy thời trú.
Bỏ hết khổ giữ của.
Chẳng ngại cảnh riêng này.
88- Lìa tham, sống tự tại.
Không quan hệ đến ai.
Vua chúa cũng khó hưởng.
Biết đủ, thú nhàn vui.
89- Xa lìa trần duyên tiệc.
Dứt vọng, công đức lâm.
Tận trừ nghĩ phân biệt.
Quán tu Bồ đề tâm.
90- Trước tiên nên tu quán.
Ta cùng người tương lân,
Tìm vui , tránh khổ chán.
Thương người như thương thân.
91- Có nhiều ngón tay chân.
Giữ chúng như hộ thân.
Khổ vui mỗi người khác.
Cầu an lạc vốn đồng.
92- Ta khổ sanh đau tức.
Không can hệ chi người.
Nhưng bởi cho mình khổ.
Chấp ngã khó kham rời.
93- Người khổ cũng như vậy,
Chẳng can gì đến ta.
Nhưng xem họ như ta,
Chấp ngã khó kham nhẫn.
94- Vì người , ta cứu khổ .
Như ta cứu chính ta,
Nên làm lợi cho cả.
Chung hữu tình mà ra.
95- Ta và người hai phương.
Cầu hạnh phúc đồng tương.
Đâu có gì sai khác.
Sao tìm vui riêng đường ?
96- Ta và người song phương.
Ghét khổ cũng đồng tương.
Cả hai nào sai khác.
Sao bảo hộ riêng đường ?
97- Chớ bảo họ khổ đau.
Can gì ta giúp họ ?
Vậy khổ ở đời sau .
Cớ chi ta phòng hộ ?
98- Nếu thọ khổ đương lai.
Chết sanh thân không khác.
Kiến chấp thật lầm sai.
Tái sanh thân phải khác.
99- Nếu bảo thân tự lo .
Can gì che chở họ.
Sao chân đau, tay hộ ?
Không để tự chân lo.
100- Điều ấy tuy phi lý.
Do chấp ngã mà ra.
Chấp riêng người , riêng ta.
Là thấy tà , nên bỏ.
101- Tính tương tục, năm uẩn.
Như đội quân, tràng hạt.
(Hư tưởng không liền nhau).
Không ai chủ khổ đau.
Ai trừ ai dứt khổ ?
102- Khổ đau không thù, chủ.
Cả thảy không khác sai.
Có khổ nên trừ khổ.
Cần gì gượng phân hai ?
103- Cũng chẳng nên tranh biện :
Cần gì trừ khổ người ?
Trừ mình , trừ tất cả.
Vì ta như người thôi.
104- Hỏi : – Nếu càng thương thêm khổ.
Sao lại gượng tìm thương ?
Đáp: – So chúng sanh lắm khổ.
Khổ mình làm sao hơn ?
105- Nỗi khổ của một người.
Năng trừ bao người khổ.
Vì tự lợi, lợi tha.
Tâm Từ ban hết khổ.
106- Bồ tát Diệu Nguyệt biết. (3)
Nhà vua muốn hại mình.
Vì thuyết pháp độ sinh.
Bồ tát cam lòng chết.
107- Quán niệm tâm bình đẳng.
Mình thường cứu khổ người.
Dù vào ngục vô gián.
Như hồ , thiên nga bơi.
108- Biết chúng sanh giải thoát.
Lòng như biển bao la.
Niềm vui ấy cũng đủ.
Cần gì độ riêng ta ?
109- Hãy mưu cầu lợi tha.
Đừng kiêu căng tự đắc.
Xây hạnh phúc cho đời.
Chẳng mong được phước đức.
110- Biết mình nuôi hạnh phúc.
Gìn giữ không hổ nhục.
Nên hộ vệ mọi người.
Tâm yêu thương nghiêm túc.
111- Như huyết mẹ, tinh cha.
Vay mượn tạo thân ta.
Do tập quán chấp giữ.
Thành tự ngã mà ra.
112- Vậy sao thân kẻ khác .
Không xem là thân mình ?
Mình là một hữu tình.
Vay bao thân hợp tác .
113- Yêu mình nhiều tai họa.
Thương người thêm phước duyên.
Biết vậy nên tu tập.
Lợi người hơn lợi riêng.
114- Mọi người đều chấp nhận .
Tay chân là của thân.
Sao không xem kẻ khác,
Vì ta, họ góp phần ?
115- Sắc thân vốn vô ngã.
Thói quen chấp của ta.
Như vậy sao kẻ khác,
Không tưởng họ chung nhà ?
116- Nên cầu lợi tha nhân.
Không kiêu căng ngã chấp.
Như người tự nuôi thân.
Không mong ai đền đáp.
117- Dù lỡ lời thất kính.
Ta cũng nên tránh phòng .
Gặp người khổ long đong.
Chung lòng thương cứu hộ.
118- Đức Quan Âm độ đời.
Giải trừ chúng lâm nạn.
Phát nguyện tâm đại bi.
Gia trì hiệu Thánh thán.
119- Trước nghe danh ái ngại.
Sau thân cận càng lâu.
Mất họ, nghĩ buồn đau.
Chưa quen , chớ nản thoái.
120- Nếu ai muốn mau chóng.
Tự độ rồi độ tha.
Hãy đổi tu độ tha.
Đây là phép bí diệu.
121- Bởi yêu thân chấp ngã.
Nên người sợ hiễm nguy.
Hãy xem như thù đi.
Vì nó chứa lo sợ ?
122- Dùng trăm phương ngàn kế.
Trị đói khát thân này.
Bắt cá chim, giết thú.
Đón người cướp của xài .
123- Hoặc vì cầu tài sản.
Cho đến giết mẹ cha.
Trộm đồ vật Tam bảo.
Nhân ngục hình đọa sa.
124- Ai người thông tuệ trí.
Thân này có đáng quý ?
Hay xem như kẻ thù ?
Ai chẳng dám khinh bỉ ?
125- Nếu cho lấy gì hưởng ?
– Vị kỷ, đường quỷ chướng.
Hưởng hết lấy gì cho ?
– Vị tha, đường thiên thượng.
126- Lợi mình mà hại người.
Sẽ chịu khổ địa ngục.
Tổn mình để lợi tha.
Mọi việc thành hạnh phúc.
127- Kẻ muốn cầu danh cao.
Nẻo ác ngu sớm vào.
Tiến cử người hạnh đức.
Sanh cõi lành đẹp sao !
128- Đày đọa kẻ hầu mình.
Quả báo người đày lại.
Nhọc mình để lợi tha.
Được phong vương triều bái.
129- Những hạnh phúc thế gian.
Do lợi tha mà có.
Cõi đời bao thống khổ.
Vì ích kỷ tham tàn.
130- Việc gì thêm lắm chuyện?
Phàm ngu cầu lợi riêng.
Thánh nhân lo đại thể.
Hai pháp khác nhau liền.
131- Nếu chẳng lấy vui mình,
Chân thật đổi khổ người.
Chẳng những không thành Phật.
Luân hồi mãi ngược xuôi.
132- Tạm gác chuyện đời sau.
Không thể trả thù lao.
Nếu nay không lao động.
Khó mong hưởng lợi vào !
133- Lợi tha khiến an khương .
Bỏ nó mất phúc lạc.
Hại người chịu khổ ác.
Kẻ ngu chuốc họa ương.
134- Những tai vạ trên đời .
Sợ hãi khỗ tơi bời .
Do làm ma chấp ngã.
Cần ma ấy nữa thôi ?
135 – Ngã chấp chưa tận trừ.
Đau khỗ vẫn tràn dư.
Cũng như tay bốc lửa.
Không bỏ ắt phỏng phù.
136- Hãy đình chỉ tự hại.
Và cứu khổ cho đời.
Quên mình vì mọi người.
Thương người như ta vậy.
137- Này ý tâm ! Nên biết :
Ta thuộc về chúng sinh.
Chỉ làm lợi hữu tình.
Không nghĩ điều chi hết.
138- Chẳng nên lấy mắt người.
Để trông lợi cho mình.
Cũng đừng lấy sắc thinh…
Tà ác đãi vạn loại.
139- Từ nay trọng hữu tình.
Thân ta có của vật.
Lấy đó để ban tặng.
Rộng lợi khắp quần sinh.
140- Địa vị thấp, bằng, cao.
Hoán tâm lý đổi trao.
Quán niệm, không nghi tưởng.
Không kiêu mạn, ghét nhau.
Quán niệm mặc cảm kẻ thua mình:
141- Nó được kính, ta không.
Của ta không bằng nó.
Nó được khen, ta không.
Nó vui, ta chịu khổ.
142- Ta làm lụng nhọc nhằn.
Nó được sống vui nhàn.
Nó được người ca tụng.
Còn ta thân danh tàn.
143- Sao chê ta vô dụng ?
Ta vẫn có chút tài.
Trên, nhiều kẻ hơn nó.
Dưới, ta nào thua ai ?
144- Đạo hạnh ta suy thoái.
Do não chướng gây ra.
Nó chẳng bảo hộ ta.
Để ta chịu khốn hại.
145- Sao ta không được giúp,
Trái lại bị khinh chê ?
Nó dù có phúc đức.
Được lợi gì ta mê ?!
146- Nó chẳng thương người ngu.
Đang kẹt vào cửa ác.
Lo hướng ngoại khoác lác.
Muốn hơn bậc trí tu.
Quán niệm ganh ghét kẻ ngang mình
147 – Nay tự muốn ưu thắng,
Ta phải có lợi danh.
Tuy đụng độ cải tranh .
Miễn được tài lợi kính.
148 – Tận xưng khen đức ta,
Cho danh tiếng vang xa.
Nên dìm phước đức nó.
Đừng để người nghe qua.
149 – Nên che giấu lỗi ta.
Để nhận của đàn-na.
Ta được nhiều lợi kính.
Nó phải chịu thua xa.
150 – Nó mắc nạn ta vui.
Nó bị ghét ta cười.
Xúi mọi người chế diễu.
Quở trách nó không nguôi.
Quán niệm kiêu mạn kẻ hơn mình.
51 – Nghe kẻ khùng tranh ta.
Mặt mày thật xấu xa.
Bất tài, vô trí thức.
Phận hèn sao sánh ta ?
152 – Khi nghe chúng đồng thanh.
Ca tụng công đức mình.
Lòng ta vui rợn óc.
Hỉ hạ nức hông cành.
153 – Nó giàu , ta moi của.
Ở mướn , ta lường công.
Ta cấp lương tạm sống.
Của nó, ta gom sòng.
154 – Ta làm chúng mất an.
Luôn gặp nhiều tai họa.
Trong tử sanh chấp ngã.
Từng hại ta vô vàn.
155 – Này ý ! vì tư lợi,
Mà ngươi trải bao đời,
Chịu trăm ngàn lao nhọc,
Và khổ lụy bời bời !
156 – Vậy ngươi phải hết lòng.
Ra sức xây đời chung,
Phật Thánh không nói dối.
Phụng hành lợi vô cùng.
157 – Nếu ngươi từ xưa nay.
Siêng tu hành như thế.
Không trọn vui bằng Phật.
Tất chẳng gặp khổ này.
158 – Ngươi từ nơi mẹ cha,
Nương tinh huyết sinh ra.
Mang thân chấp tự ngã.
Hãy thương người như ta.
159 – Tu quán niệm như trên,
Thấy mình có tài vật,
Nên ban phát cho thêm.
Làm lợi đời tốt nhất.
160 – Ta vui. người chẳng vui,
Mình cao, người thấp kém.
Vị kỷ, không vị tha.
Làm sao họ chẳng ghét ?
161 – Ta nên lìa sung sướng.
Cam chịu khổ thay người,
Thường quán niệm tâm tưởng.
Xét kỹ lỗi hiện thời.
162 – Người tuy mắc lỗi nặng,
Ta cũng nên chịu thay.
Lỗi mình dù nhỏ nhắn,
Ra chúng sám hối ngay.
163 – Nên khen tiếng tốt người,
Giấu kín vinh dự mình.
Tự nguyện làm tôi tớ,
Đem lợi ích nhân sinh.
164 – Tự thân vốn lỗi nhiều,
Phước đức chẳng bao nhiêu.
Nên khiêm cung ẩn dật.
Người biết, đức mòn tiêu.
165 – Xưa nay vì ích kỷ,
Hành động tổn hại người.
Nay tôi nguyện độ đời,
Họa tai xin gánh hết.
166 – Thân chớ lộ ngang tàn.
Mặt không hiện thô tháo.
Hãy như dâu mới cưới.
Giữ nết hạnh đoan trang.
167 – Quyết gìn hạnh lợi tha.
Không tổn thương sinh chúng.
Thường hàng phục tâm ma.
Lỗi sai liền phạt đúng.
168 – Đã răn lòng như thế.
Mà ngươi chẳng chịu tuân.
Tội lỗi sẽ theo chân.
Xô ngươi xuống hố ngục.
169 – Trước chịu ngươi khống chế,
Nay ta đã tỏ tường.
Bất luận ở ngàn phương,
Đập ngươi, thói kiêu mạn.
170 – Ngươi phải bỏ niệm này.
Ta có nhiều quyền lợi.
Đem ngươi cho kẻ khác,
Phục vụ chớ bi ai.
171 – Nếu ta không cẩn trọng,
Chưa dùng ngươi lợi tha,
Chắc ngươi cũng bán ta,
Xuống mười cửa địa ngục.
172 – Vậy ngươi đã bao phen,
Bỏ ta chịu khổ nhỉ?!
Nay nhớ lại thù xưa,
Đập tâm ngươi ích kỷ.
173 – Nếu ngươi muốn tiếp mạng,
Chẳng nên chấp ngã ái.
Nếu ngươi muốn hộ mình,
Phải thường hành tha lợi.
174 – Ngươi cung hiến ân cần,
Cho cái bất tịnh thân,
Ngươi càng thêm sa đọa,
Chịu thống khổ muôn phần.
175 – Dục ái tăng, thân suy
Dù của tiền đầy lấp,
Chẳng đủ ngươi thoả mắt,
Ai cho thêm yêu vì ?
176 – Chạy theo dục chẳng đủ,
Sanh thất vọng não nề.
Người không mong gì cả,
Phúc đức thật tràn trề.
177 – Thân tăng trưởng dục tham,
Đừng tạo hưởng khoái lạc.
Không giữ vật thích ham,
Thật diệu tài quí nhất.
178 – Thân này đốt thành tro.
Chết nhờ người khiêng vác.
Phơi bày đồ gớm ghiếc.
Còn gì chấp ngã cho ?
179 – Bất luận sống hay thác.
Thân này để làm chi ?
Đâu khác gì bụi cát,
Không trừ ngã mạn đi !
180 – Do cung dưỡng tấm thân,
Kết khổ đau vô nghĩa.
Giống như cây gỗ chẻ,
Sao còn đắm mê sân ?
181 – Hoặc thương nó, chở che.
Hoặc bỏ cho chồn quạ,
Nó cũng chẳng tham sân,
Sao còn ham luyến chạ ?
182 – Chê thân, thân nào giận.
Khen thân, thân nào vui ?
Là vật vô tri giác,
Sao vì nó khổ vùi ?
183 – Có người yêu thân này,
Ngươi kết tình bầu bạn.
Mọi người đều yêu thân,
Sao ngươi lại ghét chán ?!
184 – Do vậy hãy lìa tham,
Quên thân, làm lợi chúng.
Thân này tuy lắm họa.
Là lợi khí thiện tâm.
185 – Làm điều ngu ta chán.
Nay hành động, trí nhân.
Giữ răn không phóng dật.
Tỉnh táo chớ mê lầm.
186 – Như Bồ tát đại bi,
Tôi thực hành nhẫn độ.
Nếu chẳng thường siêng tu,
Bao giờ được thoát khổ?
187 – Muốn trừ các chướng ngại.
Phải tránh xa nẻo tà.
Cần chánh duyên quán niệm,
Luôn luôn tu thiền-na.



  • Leave a Comment