Phân tích giới Tỳ Kheo: Chương mười ba pháp

Tạng Luật – Bộ Phân Tích Giới Bổn
Vinaya Pitaka – Suttavibhanga

Phân Tích Giới Tỳ-khưu – I
(Bhikkhuvibhanga I)

Tỳ-khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch

V. CHƯƠNG SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) [1]

Bạch chư đại đức, mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàng) này được đưa ra đọc tụng.

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NHẤT:

[301] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi (Xá Vệ), Jetavana (Kỳ Viên), tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Vào lúc bấy giờ, đại đức Seyyasaka không được thỏa thích[2] thực hành Phạm hạnh. Vì thế, vị ấy trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Đại đức Udāyi[3] đã nhìn thấy đại đức Seyyasaka ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân; sau khi nhìn thấy đã nói với đại đức Seyyasaka điều này:

– Này đại đức Seyyasaka, tại sao ngươi lại ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân? Này đại đức Seyyasaka, chẳng lẽ ngươi không được thỏa thích thực hành Phạm hạnh?

– Này đại đức, đúng vậy.

– Này đại đức Seyyasaka, như thế thì ngươi hãy ăn theo như ý thích, hãy ngủ theo như ý thích, hãy tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi ở ngươi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy ngươi hãy dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch.

– Này đại đức, có được phép làm như thế không?

– Này đại đức, được chớ. Ta cũng làm như thế.

Sau đó, đại đức Seyyasaka đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy vị ấy đã dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch. Rồi một thời gian sau, đại đức Seyyasaka đã trở nên có tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc mặt rạng rỡ, sắc thân an tịnh. Khi ấy, các tỳ khưu thân hữu của đại đức Seyyasaka đã nói với đại đức Seyyasaka điều này:

– Này đại đức Seyyasaka, trước đây đại đức thì ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Bây giờ, trong lúc này, đại đức đây có tướng mạo, căn quyền sung mãn, sắc mặt rạng rỡ, sắc thân an tịnh. Này đại đức Seyyasaka, đại đức có sử dụng thuốc men gì không?

– Này các đại đức, tôi không có sử dụng thuốc men. Tuy nhiên, tôi ăn theo như ý thích, ngủ theo như ý thích, tắm theo như ý thích. Sau khi đã ăn theo như ý thích, đã ngủ theo như ý thích, đã tắm theo như ý thích, khi nào sự không thỏa thích sanh khởi ở tôi, tham ái quấy rối tâm, khi ấy tôi dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch.

– Này đại đức Seyyasaka, có phải đại đức gắng sức làm xuất ra tinh dịch bằng chính bàn tay thọ dụng vật tín thí?

– Này các đại đức, đúng vậy.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Seyyasaka lại dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch vậy?

Sau đó, khi đã khiển trách đại đức Seyyasaka bằng nhiều phương thức, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Seyyasaka rằng:

– Này Seyyasaka, nghe nói ngươi dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại dùng bàn tay gắng sức làm xuất ra tinh dịch? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc chứ không phải để đưa đến sự ràng buộc, đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ chứ không phải để đưa đến sự chấp thủ hay sao? Này kẻ rồ dại, thế mà ở đây trong khi ta thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái thì ngươi lại nghĩ đến tham ái, thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn ràng buộc thì ngươi lại nghĩ đến sự ràng buộc, thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn chấp thủ thì ngươi lại nghĩ đến sự chấp thủ. Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái trong các ái, để đưa đến sự không còn đam mê trong các nỗi đam mê, để kềm chế sự khao khát, để trừ diệt sự vướng mắc, để cắt đứt vòng tái sanh, để diệt tận ái, để ly tham, để đưa đến sự tịch diệt, để đưa đến Niết Bàn hay sao? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã đề cập đến sự từ bỏ các dục, đã đề cập đến sự hiểu rõ về các dục tưởng, đã đề cập đến sự kềm chế các nỗi khao khát về dục, đã đề cập đến sự trừ diệt các dục tầm, đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, hay làm tăng thêm niềm tin của những người đã có đức tin. Này kẻ rồ dại, hơn nữa chính sự việc này đem lại sự không có niềm tin ở những kẻ chưa có đức tin và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã khiển trách đại đức Seyyasaka bằng nhiều phương thức về sự khó khăn trong việc cấp dưỡng, sự khó khăn trong việc ăn uống, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Việc xuất ra tinh do sự cố ý thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”[4] Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.

[302] Vào lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu sau khi thọ thực các loại vật thực hảo hạng có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, rồi rơi vào giấc ngủ. Trong khi các vị ấy có niệm bị xao lãng, không tỉnh giác, rồi rơi vào giấc ngủ, tinh dịch bị xuất ra do chiêm bao. Các vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Điều học đã được đức Thế Tôn quy định rằng: ‘Việc xuất ra tinh do sự cố ý thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).’ Và tinh dịch của chúng ta đã bị xuất ra do chiêm bao. Và trong trường hợp này có sự cố ý dự phần vào; phải chăng chúng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Các vị đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này các tỳ khưu, sự cố ý ấy là có nhưng nó không đáng kể.

Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các tỳ khưu rằng:

– …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Việc xuất ra tinh dịch có sự cố ý thì tội saṅghādisesa (tăng tàng), ngoại trừ chiêm bao.”

[303] Sự cố ý: là sự vi phạm trong khi biết, trong khi có ý định, sau khi đã suy nghĩ, sau khi đã khẳng định.

Tinh: có mười loại tinh: màu xanh, màu vàng, màu đỏ, màu trắng, màu sữa loãng, màu nước, màu dầu ăn, màu sữa tươi, màu sữa đông, màu bơ lỏng.

Sự xuất ra: sự làm di chuyển khỏi vị trí được gọi là “sự xuất ra.”

Ngoại trừ chiêm bao: trừ ra trong giấc ngủ.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): Chỉ có hội chúng–không phải một số vị không phải cá nhân–ban cho hành phạt parivāsa của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hành phạt mānatta, cho giải tội; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.” Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[304] Làm xuất ra ở sắc pháp thuộc nội phần, làm xuất ra ở sắc pháp thuộc ngoại phần, làm xuất ra ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần, làm xuất ra trong khi lắc hông ở khoảng không, làm xuất ra khi có sự tác động của tham ái, làm xuất ra khi có sự tác động của phân, làm xuất ra khi có sự tác động của nước tiểu, làm xuất ra khi có sự tác động của gió, làm xuất ra khi có sự tác động của sâu bọ, làm xuất ra vì mục đích sức khoẻ, làm xuất ra vì mục đích khoái lạc, làm xuất ra vì mục đích dược phẩm, làm xuất ra vì mục đích bố thí, làm xuất ra vì mục đích phước thiện, làm xuất ra vì mục đích tế lễ, làm xuất ra vì mục đích cõi trời, làm xuất ra vì mục đích nòi giống, làm xuất ra vì mục đích nghiên cứu, làm xuất ra vì mục đích đùa giỡn, làm xuất ra (tinh) màu xanh, làm xuất ra (tinh) màu vàng, làm xuất ra (tinh) màu đỏ, làm xuất ra (tinh) màu trắng, làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng, làm xuất ra (tinh) màu nước, làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn, làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi, làm xuất ra (tinh) màu sữa đông, làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng.

[305] Ở sắc pháp thuộc nội phần: là ở sắc pháp có liên quan đến bản thân.

Ở sắc pháp thuộc ngoại phần: là ở sắc pháp có liên quan hoặc không có liên quan đến người khác.

Ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần: là ở cả hai nơi.

Trong khi lắc hông ở khoảng không: là dương vật của vị đang nỗ lực ở khoảng không trở nên thích ứng.

Khi có sự tác động của tham ái: là dương vật của vị bị tham ái quấy rối trở nên thích ứng.

Khi có sự tác động của phân: là dương vật của vị bị phân quấy rối trở nên thích ứng.

Khi có sự tác động của nước tiểu: là dương vật của vị bị nước tiểu quấy rối trở nên thích ứng.

Khi có sự tác động của gió: là dương vật của vị bị gió quấy rối trở nên thích ứng.

Khi có sự tác động của sâu bọ: là dương vật của vị bị sâu bọ quấy rối trở nên thích ứng.

Vì mục đích sức khoẻ: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ không có bệnh.”

Vì mục đích khoái lạc: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ tạo ra cảm giác khoái lạc.”

Vì mục đích dược phẩm: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được thuốc men.”

Vì mục đích bố thí: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ cho vật thí.”

Vì mục đích phước thiện: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được phước báu.”

Vì mục đích tế lễ: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ dâng lên vật tế lễ.”

Vì mục đích cõi trời: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ đi đến cõi trời.”

Vì mục đích nòi giống: là (nghĩ rằng): “Sẽ có được nòi giống.”

Vì mục đích nghiên cứu: là (nghĩ rằng): “Ta sẽ nghiên cứu. Sẽ có được (tinh) màu xanh, sẽ có được (tinh) màu vàng, sẽ có được (tinh) màu đỏ, sẽ có được (tinh) màu trắng, …(như trên)…, sẽ có được (tinh) màu bơ lỏng.”

Vì mục đích đùa giỡn: có ý định chơi giỡn.

[306] Ở sắc pháp thuộc nội phần, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Ở sắc pháp thuộc ngoại phần, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Ở sắc pháp thuộc nội phần và ngoại phần, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Trong khi lắc hông ở khoảng không, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi có sự tác động của tham ái, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi có sự tác động của phân, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi có sự tác động của nước tiểu, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi có sự tác động của gió, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi có sự tác động của sâu bọ, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vì mục đích sức khoẻ, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vì mục đích khoái lạc, …(như trên)… vì mục đích dược phẩm, vì mục đích bố thí, vì mục đích phước thiện, vì mục đích tế lễ, vì mục đích cõi trời, vì mục đích nòi giống, vì mục đích nghiên cứu, vì mục đích đùa giỡn, vị có ý định rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến sự trong sạch.

[307] Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ và mục đích khoái lạc rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ và mục đích dược phẩm, mục đích sức khoẻ và mục đích bố thí, mục đích sức khoẻ và mục đích phước thiện, mục đích sức khoẻ và mục đích tế lễ, mục đích sức khoẻ và mục đích cõi trời, mục đích sức khoẻ và mục đích nòi giống, mục đích sức khoẻ và mục đích nghiên cứu, mục đích sức khoẻ và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng có liên quan đến một nhân tố.

[308] Vị suy tưởng đến mục đích khoái lạc và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích khoái lạc và mục đích bố thí, mục đích khoái lạc và mục đích phước thiện, mục đích khoái lạc và mục đích tế lễ, mục đích khoái lạc và mục đích cõi trời, mục đích khoái lạc và mục đích nòi giống, mục đích khoái lạc và mục đích nghiên cứu, mục đích khoái lạc và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích khoái lạc và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[309] Vị suy tưởng đến mục đích dược phẩm và mục đích bố thí rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích dược phẩm và mục đích phước thiện, mục đích dược phẩm và mục đích tế lễ, mục đích dược phẩm và mục đích cõi trời, mục đích dược phẩm và mục đích nòi giống, mục đích dược phẩm và mục đích nghiên cứu, mục đích dược phẩm và mục đích đùa giỡn, mục đích dược phẩm và mục đích sức khoẻ, mục đích dược phẩm và mục đích khoái lạc rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[310] Vị suy tưởng đến mục đích bố thí và mục đích phước thiện rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích bố thí và mục đích tế lễ, mục đích bố thí và mục đích cõi trời, mục đích bố thí và mục đích nòi giống, mục đích bố thí và mục đích nghiên cứu, mục đích bố thí và mục đích đùa giỡn, mục đích bố thí và mục đích sức khoẻ, mục đích bố thí và mục đích khoái lạc, mục đích bố thí và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[311] Vị suy tưởng đến mục đích phước thiện và mục đích tế lễ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích phước thiện và mục đích cõi trời, mục đích phước thiện và mục đích nòi giống, mục đích phước thiện và mục đích nghiên cứu, mục đích phước thiện và mục đích đùa giỡn, mục đích phước thiện và mục đích sức khoẻ, mục đích phước thiện và mục đích khoái lạc, mục đích phước thiện và mục đích dược phẩm, mục đích phước thiện và mục đích bố thí rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[312] Vị suy tưởng đến mục đích tế lễ và mục đích cõi trời rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích tế lễ và mục đích nòi giống, mục đích tế lễ và mục đích nghiên cứu, mục đích tế lễ và mục đích đùa giỡn, mục đích tế lễ và mục đích sức khoẻ, mục đích tế lễ và mục đích khoái lạc, mục đích tế lễ và mục đích dược phẩm, mục đích tế lễ và mục đích bố thí, mục đích tế lễ và mục đích phước thiện rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[313] Vị suy tưởng đến mục đích cõi trời và mục đích nòi giống, mục đích cõi trời và mục đích nghiên cứu, mục đích cõi trời và mục đích đùa giỡn, mục đích cõi trời và mục đích sức khoẻ, mục đích cõi trời và mục đích khoái lạc, mục đích cõi trời và mục đích dược phẩm, mục đích cõi trời và mục đích bố thí, mục đích cõi trời và mục đích phước thiện, mục đích cõi trời và mục đích tế lễ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[314] Vị suy tưởng đến mục đích nòi giống và mục đích nghiên cứu, mục đích nòi giống và mục đích đùa giỡn, mục đích nòi giống và mục đích sức khoẻ, mục đích nòi giống và mục đích khoái lạc, mục đích nòi giống và mục đích dược phẩm, mục đích nòi giống và mục đích bố thí, mục đích nòi giống và mục đích phước thiện, mục đích nòi giống và mục đích tế lễ, mục đích nòi giống và mục đích cõi trời rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[315] Vị suy tưởng đến mục đích nghiên cứu và mục đích đùa giỡn, mục đích nghiên cứu và mục đích sức khoẻ, mục đích nghiên cứu và mục đích khoái lạc, mục đích nghiên cứu và mục đích dược phẩm, mục đích nghiên cứu và mục đích bố thí, mục đích nghiên cứu và mục đích phước thiện, mục đích nghiên cứu và mục đích tế lễ, mục đích nghiên cứu và mục đích cõi trời, mục đích nghiên cứu và mục đích nòi giống rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[316] Vị suy tưởng đến mục đích đùa giỡn và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích đùa giỡn và mục đích khoái lạc, mục đích đùa giỡn và mục đích dược phẩm, mục đích đùa giỡn và mục đích bố thí, mục đích đùa giỡn và mục đích phước thiện, mục đích đùa giỡn và mục đích tế lễ, mục đích đùa giỡn và mục đích cõi trời, mục đích đùa giỡn và mục đích nòi giống, mục đích đùa giỡn và mục đích nghiên cứu rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp theo sự xoay vòng có liên quan đến một nhân tố.

Phần có liên quan đến hai nhân tố nên được hướng dẫn y như thế.

[317] Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, và mục đích dược phẩm rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố.

[318] Vị suy tưởng đến mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích bố thí rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)… mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích đùa giỡn, …(như trên)…

Vị suy tưởng đến mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, và mục đích sức khoẻ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, và mục đích nòi giống rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố.

[319] Phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

[320] Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ và mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm và mục đích bố thí, mục đích phước thiện và mục đích tế lễ, mục đích cõi trời và mục đích nòi giống, mục đích nghiên cứu và mục đích đùa giỡn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

[321] Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh và (tinh) màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh và (tinh) màu đỏ, …(như trên)…, (tinh) màu xanh và (tinh) màu trắng, (tinh) màu xanh và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu xanh và (tinh) màu nước, (tinh) màu xanh và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu xanh và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu xanh và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu xanh và (tinh) màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng có liên quan đến một nhân tố.

[322] Vị suy tưởng đến (tinh) màu vàng và (tinh) màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu vàng và (tinh) màu trắng, …(như trên)…, (tinh) màu vàng và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu vàng và (tinh) màu nước, (tinh) màu vàng và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu vàng và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu vàng và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu vàng và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu vàng và (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu đỏ và (tinh) màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu đỏ và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu nước, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu xanh, (tinh) màu đỏ và (tinh) màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu trắng và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu trắng và (tinh) màu nước, (tinh) màu trắng và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu trắng và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu trắng và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu trắng và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu trắng và (tinh) màu xanh, (tinh) màu trắng và (tinh) màu vàng, (tinh) màu trắng và (tinh) màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu nước, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu xanh, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu vàng, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu sữa loãng và (tinh) màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu nước và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu nước và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu nước và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu nước và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu nước và (tinh) màu xanh, (tinh) màu nước và (tinh) màu vàng, (tinh) màu nước và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu nước và (tinh) màu trắng, (tinh) màu nước và (tinh) màu sữa loãng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu xanh, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu vàng, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu trắng, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu dầu ăn và (tinh) màu nước rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu xanh, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu vàng, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu nước, (tinh) màu sữa tươi và (tinh) màu dầu ăn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu xanh, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu vàng, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu nước, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa đông và (tinh) màu sữa tươi rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu vàng, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu đỏ, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu trắng, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu nước, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu bơ lỏng và (tinh) màu sữa đông rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp theo sự xoay vòng có liên quan đến một nhân tố.

Phần có liên quan đến hai nhân tố nên được hướng dẫn y như thế.

[323] Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, và (tinh) màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, và (tinh) màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, và (tinh) màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố.

[324] Vị suy tưởng đến (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, và (tinh) màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, và (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, và (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Vị suy tưởng đến (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, và (tinh) màu sữa tươi rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp theo sự xoay vòng có liên quan đến hai nhân tố.

[325] Phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

[326] Vị suy tưởng đến (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, và (tinh) màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

[327] Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ và (tinh) màu xanh rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, (tinh) màu xanh, và (tinh) màu vàng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, và (tinh) màu đỏ rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, và (tinh) màu trắng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, và (tinh) màu sữa loãng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, và (tinh) màu nước rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, và (tinh) màu dầu ăn rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, mục đích nòi giống, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, và (tinh) màu sữa tươi rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, mục đích nòi giống, mục đích nghiên cứu, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, và (tinh) màu sữa đông rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng đến mục đích sức khoẻ, mục đích khoái lạc, mục đích dược phẩm, mục đích bố thí, mục đích phước thiện, mục đích tế lễ, mục đích cõi trời, mục đích nòi giống, mục đích nghiên cứu, mục đích đùa giỡn, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, và (tinh) màu bơ lỏng rồi gắng sức và làm xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp cả hai phần theo sự xoay vòng có tính chất trộn lẫn.

[328] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu vàng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu đỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu trắng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu nước thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa đông thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng.

[329] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu đỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu trắng …(như trên)… làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng … làm xuất ra (tinh) màu nước … làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn … làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi … làm xuất ra (tinh) màu sữa đông … làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng … làm xuất ra (tinh) màu xanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

[330] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu trắng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng …(như trên)… làm xuất ra (tinh) màu nước … làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn … làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi … làm xuất ra (tinh) màu sữa đông … làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng … làm xuất ra (tinh) màu xanh … làm xuất ra (tinh) màu vàng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)… làm xuất ra (tinh) màu đỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). (Các sự xoay vòng nên được hiểu như thế).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu vàng …(như trên)… làm xuất ra (tinh) màu đỏ … làm xuất ra (tinh) màu trắng … làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng … làm xuất ra (tinh) màu nước … làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn … làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi … làm xuất ra (tinh) màu sữa đông thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần xoay vòng ở giữa.

[331] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu nước” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) dầu ăn” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa đông” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu xanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ nhất của sự xoay vòng nghịch.

[332] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu vàng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu vàng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ nhì của sự xoay vòng nghịch.

[333] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu đỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu vàng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu đỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ ba của sự xoay vòng nghịch.

[334] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu trắng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu đỏ” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu trắng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ bốn của sự xoay vòng nghịch.

[335] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu nước” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu trắng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ năm của sự xoay vòng nghịch.

[336] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu nước thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu sữa tươi, (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa loãng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu nước thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ sáu của sự xoay vòng nghịch.

[337] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu sữa đông, (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu nước” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ bảy của sự xoay vòng nghịch.

[338] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa đông” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu bơ lỏng, (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu dầu ăn” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ tám của sự xoay vòng nghịch.

[339] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa đông thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu xanh, (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa tươi” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu sữa đông thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ chín của sự xoay vòng nghịch.

[340] Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu xanh” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). … (tinh) màu vàng, (tinh) màu đỏ, (tinh) màu trắng, (tinh) màu sữa loãng, (tinh) màu nước, (tinh) màu dầu ăn, (tinh) màu sữa tươi … Vị suy tưởng rằng: “Ta sẽ làm xuất ra (tinh) màu sữa đông” rồi gắng sức và làm xuất ra (tinh) màu bơ lỏng thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt bước thứ mười của sự xoay vòng nghịch.

Dứt sự xoay vòng nghịch.

[343][5] Vị có ý định, gắng sức, bị xuất ra thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị có ý định, gắng sức, không bị xuất ra thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vị có ý định, không gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.

Vị có ý định, không gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.

Vị không có ý định, gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.

Vị không có ý định, gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.

Vị không có ý định, không gắng sức, bị xuất ra thì vô tội.

Vị không có ý định, không gắng sức, không bị xuất ra thì vô tội.

[344] Do chiêm bao, vị không có ý định làm cho xuất ra, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

[345]

Giấc mơ, đại, tiểu tiện,
suy tầm, và nước nóng,
thuốc thoa, bị cơn ngứa,
đường đi, bao tinh hoàn,
nhà tắm hơi, bắp vế,
sa di, và vị ngủ,
bắp vế, tay bóp chặt,
ở khoảng trống, gồng mình,
vị suy tưởng, lỗ khoá,
vị vỗ bằng thanh gỗ,
giòng nước chảy, đầm nước,
rửa ráy, đống bông hoa,
hương lạc, trong cát, bùn,
rưới nước, ở chỗ nằm,
và dùng ngón tay cái.

[346] Vào lúc bấy giờ, tinh dịch của vị tỳ khưu nọ đã bị xuất ra do giấc mơ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Sau đó, vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, do giấc mơ thì vô tội.

[347] Vào lúc bấy giờ, tinh dịch của vị tỳ khưu nọ đã bị xuất ra trong lúc đại tiện. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

– Bạch Thế Tôn, con không có ý định làm xuất ra.

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

[348] Vào lúc bấy giờ, tinh dịch của vị tỳ khưu nọ đã bị xuất ra trong lúc tiểu tiện. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

[349] Vào lúc bấy giờ, tinh dịch của vị tỳ khưu nọ đã bị xuất ra trong lúc (vị ấy) suy tư tầm cầu về dục. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị trong lúc suy tư tầm cầu về dục thì vô tội.

[350] Vào lúc bấy giờ, tinh dịch của vị tỳ khưu nọ đã bị xuất ra trong lúc (vị ấy) tắm bằng nước nóng. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

– Bạch Thế Tôn, con không có ý định làm xuất ra.

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm bằng nước nóng có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm bằng nước nóng có ý định làm xuất ra nhưng tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[351] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở dương vật. Trong lúc vị ấy thoa thuốc, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, (khi ấy) ngươi có tâm gì?

– Bạch Thế Tôn, con không có ý định làm xuất ra.

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị vết thương ở dương vật. Vị ấy trong lúc thoa thuốc có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[352] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc (gãi) ngứa ở tinh hoàn, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc (gãi) ngứa ở tinh hoàn có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[353] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đi đường tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đi đường có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[354] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tiểu tiện đã nắm lấy bao tinh hoàn và tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tiểu tiện đã nắm lấy bao tinh hoàn có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[355] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc hơ nóng vùng bụng ở trong nhà tắm hơi, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc hơ nóng vùng bụng ở trong nhà tắm hơi có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[356] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc kỳ cọ phần lưng của thầy tế độ ở trong nhà tắm hơi, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc kỳ cọ phần lưng của thầy tế độ ở trong nhà tắm hơi có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[357] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc cho người xoa bóp bắp vế, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc cho người xoa bóp bắp vế có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[358] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ có ý định làm xuất ra đã nói với vị sa di nọ điều này:

– Này sa di, hãy đến. Ngươi hãy nắm lấy dương vật của ta.

Vị sa di đã nắm lấy dương vật của vị ấy. Tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[359] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã nắm lấy dương vật của vị sa di đang ngủ. Tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[360] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng hai bắp vế ép chặt lấy dương vật, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng hai bắp vế ép chặt lấy dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[361] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng nắm tay bóp chặt lấy dương vật, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng nắm tay bóp chặt lấy dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[362] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi lắc hông ở khoảng trống có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[363] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc gồng cứng cơ thể, tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc gồng cứng cơ thể có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[364] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị dục khởi đã suy tưởng về âm vật của người nữ. Tinh dịch của vị ấy đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). Và này các tỳ khưu, vị bị dục khởi không nên suy tưởng về âm vật của người nữ; vị nào suy tưởng thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[365] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đưa dương vật vào lỗ khoá có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[366] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng thanh gỗ cọ xát vào dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[367] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm ở giòng nước chảy ngược (paṭisote), tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc tắm ở giòng nước chảy ngược có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[368] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch ở đầm nước (udañjale), tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch ở đầm nước có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[369] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy ở trong nước (udake), tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy ở trong nước có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[370] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch ở nơi đống bông hoa (pupphāvaḷiyaṃ), tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đùa nghịch ở nơi đống bông hoa có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[371] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy trong rừng cây hương lạc (pokkharavane), tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc chạy ở trong rừng cây hương lạc có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[372] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đưa dương vật vào trong cát có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[373] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc đưa dương vật vào trong bùn có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[374] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng nước rưới lên dương vật, tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, vị không có ý định làm xuất ra thì vô tội.

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng nước rưới lên dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[375] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc cọ xát dương vật ở chỗ nằm có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. …(như trên)… tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[376] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng ngón tay cái cọ xát vào dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong lúc dùng ngón tay cái cọ xát vào dương vật có ý định làm xuất ra, và tinh dịch đã không bị xuất ra. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ nhất.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NHÌ:

[377] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng.[6] Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn, có nội phòng ở giữa, khắp nơi xung quanh căn nhà có giường, ghế, nệm, gối được khéo xếp đặt, nước uống, nước rửa được khéo bố trí, phòng ốc được quét dọn cẩn thận. Nhiều người đi đến có ý muốn nhìn ngắm trú xá của đại đức Udāyi. Có người bà-la-môn nọ cùng người vợ cũng đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài đại đức Udāyi.

– Này bà-la-môn, như thế thì chúng ta có thể nhìn ngắm.

Rồi đã cầm lấy chìa khóa, tháo chốt, mở cửa ra, và đi vào trong trú xá. Người bà-la-môn ấy đã đi vào tiếp theo sau đại đức Udāyi. Rồi người nữ bà-la-môn ấy đã đi vào tiếp theo sau người bà-la-môn ấy. Khi ấy, trong khi mở ra một số cửa sổ, trong khi đóng lại một số cửa sổ, đại đức Udāyi đã đi vòng quanh nội phòng rồi đi đến ở phía sau và vuốt ve các phần thân thể của người nữ bà-la-môn ấy. Sau đó, người bà-la-môn ấy đã trao đổi lời xã giao thân thiện với đại đức Udāyi rồi ra đi. Khi ấy, người bà-la-môn ấy được hoan hỷ đã thốt ra lời hoan hỷ rằng:

– Các vị sa-môn Thích tử này thật là cao quý khi sống trong khu rừng như vầy! Ngài đại đức Udāyi thật là cao quý khi sống trong khu rừng như thế này!

Khi được nói như thế, người nữ bà-la-môn ấy đã nói với người bà-la-môn ấy điều này:

– Sự cao quý của vị ấy là do đâu? Ông đã vuốt ve các phần thân thể của tôi ra sao thì Sa-môn Udāyi cũng đã vuốt ve các phần thân thể của tôi y như thế.

Khi ấy, người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Các vị sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn! Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao Sa-môn Udāyi lại vuốt ve các phần thân thể của vợ ta? Không thể để cho các người đàn bà gia đình danh giá, các tiểu thơ gia đình danh giá, các thiếu nữ gia đình danh giá, các cô dâu gia đình danh giá, các nữ tỳ gia đình danh giá đi đến tu viện hoặc trú xá bởi vì nếu các người đàn bà gia đình danh giá, các tiểu thơ gia đình danh giá, các thiếu nữ gia đình danh giá, các cô dâu gia đình danh giá, các nữ tỳ gia đình danh giá đi đến tu viện hoặc trú xá, các sa-môn Thích tử có thể làm nhục họ nữa!

Các tỳ khưu đã nghe được người bà-la-môn ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Udāyi lại thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

– Này Udāyi, nghe nói ngươi thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, …(như trên)… đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ là sự nắm lấy tay, hoặc nắm lấy búi tóc, hoặc sự vuốt ve bất cứ bộ phận nào thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[378] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Bị khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.

Bị thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được đề cập trong ý nghĩa này.

Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, ngay cả đứa bé gái mới sanh ngày hôm ấy cho đến bà lão.

Với: cùng chung.

Thực hiện việc xúc chạm thân thể: được gọi là sự vi phạm.

Tay nghĩa là tính từ cùi chỏ cho đến các đầu móng tay.

Búi tóc nghĩa là tóc thuần túy, hoặc là (tóc) có trộn lẫn chỉ sợi, hoặc là có trộn lẫn tràng hoa, hoặc là có trộn lẫn bạc, hoặc là có trộn lẫn vàng, hoặc có trộn lẫn ngọc trai, hoặc có trộn lẫn ngọc ma-ni.

Bộ phận nghĩa là ngoại trừ tay và búi tóc, các phần còn lại gọi là bộ phận.

[379] Sự sờ vào, sự vuốt ve, sự vuốt xuống, sự vuốt lên, sự vỗ xuống, sự vỗ lên, sự kéo vào, sự đẩy ra, sự giữ lại, sự ôm chặt, sự nắm lấy, sự chạm vào.

[380] Sự sờ vào nghĩa là việc được cọ xát vào.

Sự vuốt ve nghĩa là sự di chuyển từ chỗ này qua chỗ khác.

Sự vuốt xuống nghĩa là đưa xuống phía dưới.

Sự vuốt lên nghĩa là nâng lên phía trên.

Sự vỗ xuống nghĩa là nghiêng về phía dưới.

Sự vỗ lên nghĩa là hướng lên phía trên.

Sự kéo vào nghĩa là sự lôi tới.

Sự đẩy ra nghĩa là sự đưa về lại.

Sự giữ lại nghĩa là sự siết chặt lại sau khi nắm lấy bộ phận (của thân thể).

Sự ôm chặt nghĩa là sự siết chặt lại cùng với bất cứ ai.

Sự nắm lấy nghĩa là việc được nắm lấy.

Sự chạm vào nghĩa là việc được đụng vào.

[381] Tội saṅghādisesa (tăng tàng): Chỉ có hội chúng ban cho hành phạt của tội ấy …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[382] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, vỗ xuống, vỗ lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Là người nữ và có sự hoài nghi, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người nữ và (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người nữ và (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người nữ và (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và có sự hoài nghi, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người vô căn và (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và biết là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và có sự hoài nghi, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và biết là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và có sự hoài nghi, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của loài thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[383] Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hai người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người nữ và (lầm) tưởng hai người nữ là người vô căn, …(như trên)… Hai người nữ và (lầm) tưởng hai người nữ là người nam, …(như trên)… Hai người nữ và (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, …(như trên)… Hai người vô căn và (lầm) tưởng hai người vô căn là người nam, …(như trên)… Hai người vô căn và (lầm) tưởng hai người vô căn là loài thú, …(như trên)… Hai người vô căn và (lầm) tưởng hai người vô căn là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người vô căn ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nam và biết hai người nam là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nam và có sự hoài nghi là hai người nam, …(như trên)… Hai người nam và (lầm) tưởng hai người nam là loài thú, …(như trên)… Hai người nam và (lầm) tưởng hai người nam là người nữ, …(như trên)… Hai người nam và (lầm) tưởng hai người nam là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nam ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai con thú và biết hai con thú là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai con thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai con thú và có sự hoài nghi là hai con thú, …(như trên)… Hai con thú và (lầm) tưởng hai con thú là người nữ, …(như trên)… Hai con thú và (lầm) tưởng hai con thú là người vô căn, …(như trên)… Hai con thú và (lầm) tưởng hai con thú là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai con thú ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[384] Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, …(như trên)… (lầm) tưởng cả hai là người nam, …(như trên)… (lầm) tưởng cả hai là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nam, …(như trên)… Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là loài thú, …(như trên)… Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… Người vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, …(như trên)… Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là loài thú, …(như trên)… Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nam và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là loài thú, …(như trên)… Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, …(như trên)… Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của cả hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[385] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của người nữ ấy bằng thân thể (vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người ấy bằng thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người ấy bằng vật được gắn liền với thân thể (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của người nữ ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người nữ ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của hai người ấy bằng vật ném ra (của vị ấy) thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Dứt phần trùng lặp về vị tỳ khưu.

[386] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, vỗ xuống, vỗ lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, vuốt xuống, vuốt lên, vỗ xuống, vỗ lên, kéo vào, đẩy ra, giữ lại, ôm chặt, nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật được gắn liền với thân thể của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật được gắn liền với thân thể của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật ném ra của cô ấy; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và hai người nữ sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật ném ra của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục và cả hai sờ vào, vuốt ve, …(như trên)… nắm lấy, chạm vào vật ném ra của vị tỳ khưu bằng vật ném ra của họ; (nếu) vị ấy có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[387] Vị có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị có ý muốn đáp ứng, rồi ra sức bằng thân, (nhưng) không biết được sự xúc chạm thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị có ý muốn đáp ứng, (nhưng) không ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội.

Vị có ý muốn đáp ứng, (nhưng) không ra sức bằng thân, và không biết được sự xúc chạm thì vô tội.

Vị có ý muốn thoát ra, rồi ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội.

Vị có ý muốn thoát ra, rồi ra sức bằng thân, (nhưng) không biết được sự xúc chạm thì vô tội.

Vị có ý muốn thoát ra, (nhưng) không ra sức bằng thân, và biết được sự xúc chạm thì vô tội.

Vị có ý muốn thoát ra, (nhưng) không ra sức bằng thân, và không biết được sự xúc chạm thì vô tội.

[388] Vị không cố ý, khi tâm không ghi nhận (asatiyā),[7] vị không biết, vị không thích thú, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

[389]

Người mẹ, người con gái,
chị gái, và người vợ,
nữ quỷ, người vô căn,
ngủ, đã chết, thú cái,
và con búp bê gỗ,
bị áp bức, xe hàng,
đường đi, và thân cây,
chiếc thuyền, dây, cây gậy,
vị dùng bình bát đẩy,
khi được người đảnh lễ,
ra sức nhưng không đụng.

[390] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sờ vào người mẹ do lòng thương mến mẹ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ sờ vào người con gái ruột do lòng thương mến con gái. …(như trên)… sờ vào người chị (em) gái do lòng thương mến chị (em) gái. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)… Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[391] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người vợ cũ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với nữ dạ-xoa. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ đang ngủ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với người nữ đã chết. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với loài thú cái (tiracchānagatitthiyā). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã thực hiện việc xúc chạm thân thể với con búp bê gỗ. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[392] Vào lúc bấy giờ, có nhiều người đàn bà đã áp bức vị tỳ khưu nọ và tay nắm tay dẫn đi. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi có thích thú không?

– Bạch Thế Tôn, con không thích thú.

– Này tỳ khưu, vị không thích thú thì vô tội.

[393] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lay động chiếc xe hàng có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[394] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ khi nhìn thấy người đàn bà đi ngược chiều đã bị khởi dục rồi dùng bả vai thúc vào (cô ấy). Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[395] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lay động thân cây có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[396] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lay động chiếc thuyền có người đàn bà đã leo lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[397] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lôi sợi dây thừng đang được người đàn bà nắm lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã lôi cây gậy đang được người đàn bà nắm lấy. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

[398] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục và đã dùng bình bát đẩy người đàn bà. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ trong khi người đàn bà đang đảnh lễ[8] đã đưa bàn chân lên. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ (nghĩ rằng): “Ta sẽ nắm lấy người đàn bà” rồi đã ra sức nhưng chưa chạm đến. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ nhì.

*******

[1] Tựa đề này không có ở văn bản Pāli của Tam Tạng Thái Lan, người dịch thêm vào để tiện việc phân biệt.

[2] Anabhirato: tâm bị loạn động và đang bị thiêu đốt bởi ngọn lửa ái dục nhưng lại không muốn trở về trạng thái tại gia (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).

[3] Theo ngài Buddhaghosa, đại đức Udāyi là thầy tế độ của đại đức Seyyasaka.

[4] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: (saṅghādisesa = saṅgha-ādi-sesa) Hội chúng (saṅgha) là cần thiết từ lúc khởi đầu (ādi) và các phần kế (sesa). Khởi đầu là sự ban cho hành phạt parivāsa, các phần kế là sự ban cho hành phạt mānatta hoặc sự ban cho việc thực hành trở lại từ đầu (mūlāya paṭikassanaṃ), cuối cùng là hành sự giải tội (abbhānakamma) đều do hội chúng (saṅgha) thực hiện, cá nhân hoặc nhóm tỳ khưu đều không được (Xin xem thêm Tiểu Phẩm – Cullavagga, chương II).

[5] Số bị cách khoảng có lẽ do lỗi kỷ thuật vì nội dung không thiếu sót khi so sánh với CD Chaṭṭhasaṅgāyana.

[6] Ngài Buddhaghosa cho rằng trú xá của đại đức Udāyi không phải ở trong một khu rừng riêng biệt mà ở trong Jetavana, thuộc về khu vực ở một bên, cuối cùng, sát ranh giới.

[7] Ngài Buddhaghosa giải thích về “asatiyā” như sau: Vị ấy bị bận rộn về việc khác nên không biết rằng: “Ta chạm vào người nữ.” Trong lúc không biết (asatiyā = thất niệm) như thế, như trong khi co duỗi tay chân, v.v… vị có sự đụng chạm thì vô tội.

[8] Theo ngài Buddhaghosa, người đàn bà đảnh lễ theo lối nắm lấy bàn chân của vị tỳ khưu. Trường hợp ấy, vị tỳ khưu nên có vật phủ lên bàn chân hoặc bất động.

-ooOoo-

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BA:

[399] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi cư ngụ ở trong rừng. Trú xá của đại đức ấy đẹp đẽ, đáng nhìn, xinh xắn. Vào lúc bấy giờ, có nhiều người đàn bà đã đi đến tu viện có ý muốn nhìn ngắm trú xá của đại đức Udāyi. Khi ấy, những người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, chúng tôi muốn nhìn ngắm trú xá của ngài đại đức.

Khi ấy, đại đức Udāyi sau khi cho những người đàn bà ấy nhìn ngắm trú xá rồi đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của những người đàn bà ấy, còn nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ nữa. Những người đàn bà nào thuộc hạng táo tợn, ranh mãnh, trơ trẽn, những người ấy cùng với đại đức Udāyi cười cợt, khoe khoang, cười vang, trêu chọc. Trái lại, những người đàn bà nào có sự hổ thẹn, những người ấy đi ra bên ngoài và phàn nàn với các tỳ khưu rằng:

– Thưa các ngài, điều này là không đúng đắn, không thích hợp. Chúng tôi dầu được chồng nói như thế còn không thích, huống hồ là ngài đại đức Udāyi!

Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Udāyi lại nói với người nữ bằng những lời dâm dật?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

– Này Udāyi, nghe nói ngươi nói với người nữ bằng những lời dâm dật, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại nói với người nữ bằng những lời dâm dật? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, …(như trên)… đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi nói với người nữ bằng những lời dâm dật như là việc người trai trẻ nói với cô gái bằng những lời có tính chất đôi lứa thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[400] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Bị khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.

Bị thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được đề cập trong ý nghĩa này.

Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật và không dâm dật.

Lời nói dâm dật nghĩa là là lời nói liên quan đến đường tiêu, đường tiểu, và việc đôi lứa.

Nói: là sự vi phạm được đề cập đến.

Như là việc người trai trẻ nói với cô gái: là trai tơ với gái tơ, thanh niên với thanh nữ, người nam hưởng dục với người nữ hưởng dục.

Có tính chất đôi lứa: bằng những lời nói có liên quan đến việc hành dâm.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[401] Nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có liên hệ đến đến hai đường khiếu.[1]

[402] Nói lời ca ngợi nghĩa là tán dương, khen ngợi, ca tụng về hai đường khiếu.

Nói lời chê bai nghĩa là xỉ vả, khinh khi, chê bai về hai đường khiếu.

Yêu cầu nghĩa là (nói rằng): “Hãy ban cho tôi, hãy dâng hiến cho tôi, cô là thích hợp để dâng hiến cho tôi.”

Nài nỉ nghĩa là (nói rằng): “Khi nào mẹ cô sẽ hoan hỷ? Khi nào cha cô sẽ hoan hỷ? Khi nào các thiên nhân của cô sẽ hoan hỷ? Khi nào là thời khắc tốt, là thời giờ tốt, là thời điểm tốt của cô? Khi nào tôi sẽ đạt được được việc đôi lứa với cô?”

Hỏi han nghĩa là (nói rằng): “Cô dâng hiến cho chồng như thế nào? Cô dâng hiến cho tình nhân như thế nào?”

Chất vấn nghĩa là (nói rằng): “Nghe nói cô dâng hiến cho chồng như vầy, cô dâng hiến cho tình nhân như vầy.”

Chỉ bảo nghĩa là khi được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng hiến như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng yêu quý và thương mến.”

Dạy dỗ nghĩa là khi không được hỏi thì nói rằng: “Hãy dâng hiến như vầy, người dâng hiến như vầy sẽ được chồng yêu quý và thương mến.”

Khinh bỉ nghĩa là (nói rằng): “Cô không có hiện tướng (người nữ), cô không có đủ hiện tướng (người nữ), cô không có kinh nguyệt, cô bị băng huyết, cô thường xuyên mang vải lót, cô bị rong kinh, cô là người nữ có dị căn, cô là người nữ vô căn, cô là người bị lại đực, cô là người nữ tiêu tiểu chung một khiếu (sambhinnā), cô là người nữ lưỡng căn.”

[403] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, yêu cầu, nài nỉ, hỏi han, chất vấn, chỉ bảo, dạy dỗ, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Là người nữ và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người vô căn ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và biết là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của người nam ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và biết là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của loài thú ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[404] Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy của thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hai người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nam và biết hai người nam là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người nam ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai con thú và biết hai con thú là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai con thú ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[405] Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… (lầm) tưởng là người vô căn, …(như trên)… thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội). …(như trên)… (lầm) tưởng là người nam, …(như trên)… (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến đường tiêu, đường tiểu của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[406] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở xuống và từ đầu gối trở lên trừ ra đường tiêu và đường tiểu của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

[407] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của người nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người vô căn và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… Là người nam và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… Là loài thú và (lầm) tưởng là người nữ, …(như trên)… thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến (phần cơ thể) từ xương đòn (ở cổ) trở lên và từ đầu gối trở xuống của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của người nữ ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người vô căn …(như trên)… Là người nam …(như trên)… Là loài thú …(như trên)… thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nữ và biết cả hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người nữ ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn và (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi nói lời ca ngợi, nói lời chê bai, …(như trên)…, và khinh bỉ có đề cập đến vật gắn liền với thân của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[408] Khi giảng về ý nghĩa của từ ngữ (với sự nghiêm trang), khi đọc tụng Pháp (với sự nghiêm trang), khi chỉ dạy Giáo Pháp (với sự nghiêm trang), vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

[409]

Màu đỏ, bị sần sùi,
bị rối, và thô dày,
lông dài, được gieo giống,
đạo lộ là thông suốt?
đức tin, với vật thí,
(ba chuyện) về công việc.

[410] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len được nhuộm mới. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị là màu đỏ.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được nhuộm mới.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len sần sùi (có lông rậm và ngắn). Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị là sần sùi.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len sần sùi.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len đã được giặt sạch. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị có lông bị rối.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len được giặt sạch.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm vải len thô dày. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị có lông rậm.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Tấm vải len thô dày.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[411] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ khoác tấm áo choàng dài. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị có lông dài.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Tấm áo choàng dài.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[412] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi cho người gieo giống thửa ruộng rồi đi về. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này chị gái, của chị đã được gieo giống.

Cô ấy không hiểu được.

– Thưa ngài, đúng vậy. Vẫn còn chưa được lấp kín.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[413] Vào lúc bấy giờ, khi nhìn thấy người nữ du sĩ ngoại đạo đi ngược chiều, vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người nữ du sĩ ngoại đạo ấy điều này:

– Này chị gái, phải chăng đạo lộ (maggo) của chị là thông suốt?

Cô ấy không hiểu được.

– Này tỳ khưu, đúng vậy. Rồi ngươi sẽ đạt đến.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).[2]

[414] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này:

– Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi việc cô đã dâng cho chồng.

– Thưa ngài, việc gì vậy?

– Việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà nọ điều này:

– Này em gái, cô có đức tin. Tuy nhiên, cô không dâng cho chúng tôi vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, việc gì vậy?

– Việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[415] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này em gái, cô hãy đứng, tôi sẽ làm.

Cô ấy không hiểu được.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này em gái, cô hãy ngồi xuống, tôi sẽ làm.

Cô ấy không hiểu được.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đang làm công việc. Có vị tỳ khưu nọ bị khởi dục rồi đã nói với người đàn bà ấy điều này:

– Này em gái, cô hãy nằm xuống, tôi sẽ làm.

Cô ấy không hiểu được.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ ba.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ TƯ:

[416] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthi. Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà góa chồng nọ đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Khi ấy vào buổi sáng, đại đức Udāyi đã mặc y, cầm y bát, rồi đi đến tư gia của người đàn bà ấy, sau khi đến đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được sắp đặt sẵn. Khi ấy, người đàn bà ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Udāyi rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Udāyi đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho người đàn bà ấy đang ngồi ở một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Udāyi chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, người đàn bà ấy đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, xin ngài cứ nói ra nhu cầu. Chúng tôi có khả năng để dâng đến ngài đại đức vật dụng tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh.

– Này em gái, những thứ ấy tức là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh thì chúng tôi đạt được không khó. Vậy hãy dâng cho chúng tôi điều mà chúng tôi khó đạt được.

– Thưa ngài, điều gì vậy?

– Việc đôi lứa.

– Thưa ngài, ngài cần điều ấy?

– Này em gái, ta cần điều ấy,

– Thưa ngài, hãy đi đến. Rồi đã đi vào phòng trong, cởi bỏ y phục, và nằm ngửa ra trên chiếc giường nhỏ.

Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp người đàn bà ấy, sau khi đến (đã nói rằng):

– Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này? Rồi đã nhổ bãi nước miếng và bỏ đi.

Khi ấy, người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Các vị sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn, Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin tôi việc đôi lứa (lại nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?” rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Tôi có điều gì xấu? Tôi có mùi hôi gì? Tôi thua kém với ai, vì điều gì?

Các người đàn bà khác cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Các vị sa-môn Thích tử này không biết hổ thẹn, giới hạnh xấu xa, nói láo. Chính các vị này làm ra vẻ là có sự thực hành Pháp, có thực hành sự an tịnh, có Phạm hạnh, nói lời chân thật, có giới hạnh, có thiện pháp! Các vị này không có sa-môn hạnh, các vị này không có Phạm hạnh! Sa-môn hạnh của các vị này đã bị hư hỏng, Phạm hạnh của các vị này đã bị hư hỏng! Sa-môn hạnh của các vị này đâu rồi? Phạm hạnh của các vị này đâu rồi? Sa-môn hạnh của các vị này đã không còn, Phạm hạnh của các vị này đã không còn! Vì sao Sa-môn Udāyi sau khi đích thân cầu xin cô ấy việc đôi lứa (lại nói rằng): “Ai mà sờ vào vật hạ tiện hôi thối này?” rồi nhổ bãi nước miếng và bỏ đi? Cô ấy có điều gì xấu? Cô ấy có mùi hôi gì? Cô ấy thua kém với ai, vì điều gì?

Các tỳ khưu đã nghe được những người đàn bà ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Udāyi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

– Này Udāyi, nghe nói ngươi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ vậy? Này kẻ rồ dại, không phải ta bằng nhiều phương thức đã thuyết giảng pháp để đưa đến sự không còn tham ái chứ không phải để đưa đến tham ái, …(như trên)… đã đề cập đến sự lắng dịu của các nỗi thôi thúc do dục vọng hay sao? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào bị khởi dục, do tâm bị thay đổi, rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ rằng: ‘Này em gái, đây là việc đứng đầu trong các sự hầu hạ là việc người nữ nên hầu hạ đến người có giới, có thiện pháp, có Phạm hạnh như là ta bằng việc ấy’ là việc có tính chất đôi lứa, thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[417] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Bị khởi dục nghĩa là có dục vọng, có sự khao khát, có tâm say đắm.

Bị thay đổi: tâm có dục vọng là (tâm) bị thay đổi, tâm giận hờn là (tâm) bị thay đổi, tâm mê muội là (tâm) bị thay đổi. Tâm có dục vọng là (tâm) “bị thay đổi” được đề cập trong ý nghĩa này.

Người nữ nghĩa là nữ nhân loại, không phải nữ dạ-xoa, không phải ma nữ, không phải loài thú cái, có hiểu biết, có khả năng nhận biết lời nói tốt và lời nói xấu, là dâm dật và không dâm dật.

Trong sự hiện diện của người nữ: xung quanh người nữ, không xa người nữ.

Tình dục cho bản thân: là tình dục của chính bản thân, có nguyên nhân của bản thân, có ý định cho bản thân, là sự phục vụ cho bản thân.

Đây là việc đứng đầu: điều này là tột đỉnh, điều này là hạng nhất, điều này là dẫn đầu, điều này là tối thượng, điều này là quý báu nhất.

Người nữ: là người nữ dòng vua chúa, hoặc là người nữ bà-la-môn, hoặc là người nữ thương buôn, hoặc là người nữ nô lệ.

Như là ta: là người dòng vua chúa, hoặc là bà-la-môn, hoặc là thương buôn, hoặc là nô lệ.

Người có giới: (người) có sự tránh xa việc sát sanh, có sự tránh xa việc trộm cắp, có sự tránh xa việc nói dối.

Có Phạm hạnh: có sự tránh xa việc đôi lứa.

Có thiện pháp nghĩa là với giới ấy và với Phạm hạnh ấy là (người) có thiện pháp.

Bằng việc ấy: bằng việc đôi lứa.

Nên hầu hạ: nên làm cho thích thú.

Có tính chất đôi lứa: là có liên quan đến việc hành dâm.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[418] Là người nữ và biết là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Là người nữ và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nữ ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và biết là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Là người vô căn và có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người vô căn ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là người nam và biết là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của người nam ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Là loài thú và biết là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của loài thú ấy thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[419] Hai người nữ và biết hai người nữ là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người nữ ấy thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hai người nữ và có sự hoài nghi là hai người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người nữ ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và biết hai người vô căn là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội).

Hai người vô căn và có sự hoài nghi là hai người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người vô căn ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Hai người nam và biết hai người nam là người nam, …(như trên)…

Hai con thú và biết hai con thú là loài thú, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai con thú ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người vô căn, có sự hoài nghi về cả hai, …(như trên)… thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… (lầm) tưởng là người vô căn, …(như trên)… thì phạm hai tội thullaccaya (trọng tội). …(như trên)… (lầm) tưởng là người nam, …(như trên)… (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người nữ và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người vô căn, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và người nam, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm tội thullaccaya (trọng tội) và tội dukkaṭa (tác ác).

Người vô căn và loài thú, có sự hoài nghi về cả hai, (lầm) tưởng là người nam, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Người nam và loài thú, (lầm) tưởng cả hai là người nam, có sự hoài nghi, (lầm) tưởng là loài thú, (lầm) tưởng là người nữ, (lầm) tưởng là người vô căn, vị tỳ khưu bị khởi dục rồi ca ngợi sự hầu hạ tình dục cho bản thân trong sự hiện diện của hai người ấy thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

[420] Vị nói rằng: “Hãy hộ độ với vật dụng là y phục, vật thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bệnh,” vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

[421]

Cách nào bà hiếm muộn,
có được đức con trai?
được yêu quý, thương mến?
Tôi nên dâng vật gì?
Hộ độ bằng thứ gì?
Cách nào được sanh thiên?

[422] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà không sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, làm sao tôi có thể sanh con?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)… Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà còn sanh sản nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, làm sao tôi có thể có được con trai?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, làm sao tôi có thể được chồng yêu quý?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, làm sao tôi có thể được may mắn?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, tôi sẽ dâng ngài đại đức vật gì?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, tôi hộ độ ngài đại đức bằng vật gì?

– Này em gái, bằng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ đã nói với vị tỳ khưu thường tới lui với gia đình điều này:

– Thưa ngài, làm sao tôi có thể sanh về cõi trời?

– Này em gái, hãy dâng vật thí hạng nhất.

– Thưa ngài, cái gì là vật thí hạng nhất?

– Là việc đôi lứa.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ tư.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ NĂM:

[423] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, đại đức Udāyi là vị thường tới lui với các gia đình và đi đến nhiều gia đình ở thành Sāvatthi. Tại nơi nào vị ấy nhìn thấy thanh niên chưa vợ hoặc thanh nữ chưa chồng thì vị ấy nói lời khen ngợi về cô con gái trước mặt cha mẹ của người con trai rằng:

– Cô con gái của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cô gái ấy thì xứng đôi với người con trai này.

Các người ấy nói như vầy:

– Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ cho cưới thì chúng tôi có thể cho người rước cô con gái ấy về cho người con trai này.

Rồi vị ấy nói lời khen ngợi về cậu con trai trước mặt cha mẹ của người con gái rằng:

– Cậu con trai của gia đình kia là đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái, có học thức, khôn ngoan, thông minh, giỏi giang, siêng năng. Cậu trai ấy thì xứng đôi với người con gái này.

Các người ấy nói như vầy:

– Thưa ngài, những người này không biết chúng tôi: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Thật xấu hổ khi rêu rao về con gái! Thưa ngài, nếu ngài có thể bảo họ xin cưới thì chúng tôi có thể gả cô con gái này cho người con trai ấy.

Bằng chính phương thức ấy, vị ấy cho người thực hiện các đoàn đi rước dâu, cho người thực hiện các đoàn đi đưa dâu, và cho người tiến hành các vụ cưới hỏi.

[424] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ trước đây (chồng) làm nghề thầy bói có cô con gái đẹp dáng, đáng nhìn, khả ái. Các đệ tử đạo lõa thể ở ngôi làng khác đã đi đến và nói với bà vợ người thầy bói ấy rằng:

– Thưa bà, hãy gả cô con gái này cho con trai của chúng tôi.

Bà ấy đã nói như vầy:

– Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.

Dân chúng đã nói với các đệ tử đạo lõa thể ấy điều này:

– Thưa các ông, vì sao các ông đã đi đến?

– Thưa các ông, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ta đã nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.”

– Thưa các ông, vì sao các ông lại xin bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái? Sao không nói với ngài đại đức Udāyi, ngài đại đức Udāyi sẽ bảo người ta gả cho?

Khi ấy, các đệ tử đạo lõa thể ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, ở đây chúng tôi đã xin bà vợ người thầy bói kia gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi, bà ta đã nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.” Thưa ngài, tốt thay ngài đại đức hãy bảo bà vợ người thầy bói ấy gả cô con gái cho người con trai của chúng tôi.

Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp bà vợ người thầy bói ấy, sau khi đến đã nói với bà vợ người thầy bói ấy điều này:

– Sao bà lại không gả cô con gái cho những người này?

– Thưa ngài đại đức, quả thật tôi không biết các người này: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Và đây là đứa con gái duy nhất của tôi, không thể đi đến ngôi làng khác. Tôi sẽ không gả.

– Hãy gả cho những người này. Tôi biết những người này.

– Thưa ngài, nếu ngài đại đức biết thì tôi sẽ gả.

Sau đó, bà vợ người thầy bói ấy đã gả cô con gái cho các người đệ tử ngoại đạo ấy. Khi ấy, các người đệ tử ngoại đạo ấy đã dẫn người con gái ấy đi và đã đối xử như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái.

[425] Sau đó, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng):

– Vì bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.

Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp các người đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các người đệ tử ngoại đạo ấy điều này:

– Thưa các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.

Các người ấy đã nói như vầy:

– Chúng tôi không có cưới hỏi gì với bà; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với vị sa-môn thôi. Bà hãy đi đi, chúng tôi không biết bà.

Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy bị trách mắng bởi những người đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthi.

Đến lần thứ nhì, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng):

– Vì bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.

Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: “Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.”

Sau đó, đại đức Udāyi đã đi đến gặp các người đệ tử ngoại đạo ấy, sau khi đến đã nói với các người đệ tử ngoại đạo ấy điều này:

– Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.

Các người ấy đã nói như vầy:

– Chúng tôi không có cưới hỏi gì với ngài; chúng tôi chỉ có cưới hỏi với bà vợ người thầy bói thôi. Vị sa-môn không nên can thiệp vào. Là sa-môn thì nên là vị sa-môn tốt. Ngài hãy đi đi, chúng tôi không biết ngài.

Khi ấy, đại đức Udāyi bị trách mắng bởi những người đệ tử ngoại đạo ấy nên đã quay trở về lại thành Sāvatthi.

Đến lần thứ ba, cô con gái ấy đã phái người đưa tin đi đến gặp người mẹ (nhắn rằng):

– Vì bị đọa đày nên con phải chịu khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử con như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Mẹ của con hãy đến và hãy dẫn con đi.

Đến lần thứ nhì, bà vợ người thầy bói ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, nghe nói người con gái ấy bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn. Họ đã đối xử cô ấy như là con dâu chỉ trong một tháng rồi từ đó về sau sử dụng như là đứa tớ gái. Thưa ngài, ngài nên nói rằng: “Này các ông, chớ có sử dụng người con gái này như là đứa tớ gái, hãy đối xử người con gái này như là con dâu vậy.”

– Lần trước, tôi đã bị những người đệ tử ngoại đạo ấy trách mắng. Bà hãy đi đi, tôi sẽ không đi.

[426] Khi ấy, bà vợ người thầy bói ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Ngài đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như người con gái của tôi đã bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn với bà gia ác độc, với ông gia ác độc, với người chồng ác độc.

Và người con gái ấy cũng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Ngài đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như tôi đã bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn với bà gia ác độc, với ông gia ác độc, với người chồng ác độc.

Những người đàn bà khác không được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, những người ấy nguyền rủa như vầy:

– Ngài đại đức Udāyi hãy bị đọa đày như vầy! Ngài đại đức Udāyi hãy bị khổ sở như vầy! Ngài đại đức Udāyi chớ được yên ổn như vầy, giống như chúng tôi đã bị đọa đày, phải chịu khổ sở, không được yên ổn với các bà gia ác độc, với các ông gia ác độc, với những người chồng ác độc.

Trái lại, những người đàn bà nào được thuận thảo với các bà gia, hoặc với các ông gia, hoặc với những người chồng, những người ấy cầu khẩn như vầy:

– Ngài đại đức Udāyi hãy được yên ổn như vầy! Ngài đại đức Udāyi hãy được chiều chuộng như vầy! Ngài đại đức Udāyi hãy đạt được sự an lạc như vầy, giống như chúng tôi được yên ổn, được chiều chuộng, và đạt được sự an lạc với các bà gia hiền hậu, với các ông gia hiền hậu, với những người chồng hiền hậu.

[427] Các tỳ khưu đã nghe được một số người đàn bà thì đang nguyền rủa, một số người đàn bà thì đang cầu khẩn. Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

– Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm! Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối ý định của người nam đến người nữ, hoặc ý định của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành nhân tình, thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).” Và điều học này đã được đức Thế Tôn quy định cho các tỳ khưu như thế.

[438] Vào lúc bấy giờ, có nhiều kẻ vô lại trong khi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô gái điếm nọ (nói rằng):

– Hãy đi đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.

Cô ấy đã nói như vầy:

– Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và ngoại thành là không nên đi. Tôi sẽ không đi.

Sau đó, người đưa tin ấy đã kể lại sự việc ấy cho những kẻ vô lại ấy. Khi được nói như thế, có người đàn ông nọ đã nói với những kẻ vô lại ấy điều này:

– Này các ông, tại sao các ông lại phải nài nỉ cô gái điếm ấy? Sao không nói với ngài đại đức Udāyi, ngài đại đức Udāyi sẽ bảo người ta ưng thuận?

Khi được nói như thế, có nam cư sĩ nọ đã nói với người đàn ông ấy điều này:

– Thưa ông, chớ có nói như thế. Các sa-môn Thích tử không được phép làm việc như thế. Ngài đại đức Udāyi sẽ không làm việc như thế đâu.

Khi được nói như thế, họ đã đánh cá với nhau: “Vị ấy sẽ làm! Vị ấy sẽ không làm!”

Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã đi đến gặp đại đức Udāyi, sau khi đến đã nói với đại đức Udāyi điều này:

– Thưa ngài, trường hợp chúng tôi khi đang đi dạo chơi ở vườn hoa đã phái người đưa tin đi đến gặp cô gái điếm kia (nói rằng): “Hãy đi đến, chúng ta sẽ dạo chơi ở vườn hoa.” Cô ấy đã nói như vầy: “Thưa các ông, quả thật tôi không biết các ông: ‘Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?’ Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và ngoại thành là không nên đi. Tôi sẽ không đi.” Thưa ngài, tốt thay xin ngài đại đức hãy bảo cô gái điếm ấy ưng thuận.

Khi ấy, đại đức Udāyi đã đi đến gặp cô gái điếm ấy, sau khi đến đã nói với cô gái điếm ấy điều này:

– Vì sao cô không đi cho những người này?

– Thưa ngài đại đức, quả thật tôi không biết những người này: “Những người này là ai hoặc là (con cháu) của ai?” Vả lại, tôi có nhiều đồ đạc, có nhiều vật dụng, và ngoại thành là không nên đi. Tôi sẽ không đi.

– Cô hãy đi cho những người này đi. Tôi biết những người này.

– Thưa ngài, nếu ngài đại đức biết thì tôi sẽ đi.

Sau đó, những kẻ vô lại ấy đã dắt cô gái điếm ấy đi đến vườn hoa. Khi ấy, nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Tại sao ngài đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình trong chốt lát?

Các tỳ khưu đã nghe được nam cư sĩ ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Udāyi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình trong chốt lát?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Udāyi rằng:

– Này Udāyi, nghe nói ngươi tiến hành việc mai mối cho cuộc tình trong chốt lát, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, không hợp lẽ, …(như trên)… Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại tiến hành việc mai mối cho cuộc tình trong chốt lát vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào tiến hành việc mai mối hoặc là ý định của người nam đến người nữ, hoặc là ý định của người nữ đến người nam trong việc trở thành vợ chồng, hoặc trong việc trở thành nhân tình, thậm chí chỉ là cuộc tình trong chốt lát thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[429] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Tiến hành việc mai mối: Hoặc là đi đến gặp người nam do người nữ phái đi, hoặc là đi đến gặp người nữ do người nam phái đi.

Hoặc là ý định của người nam đến người nữ: Hoặc là thông báo ý định của người nam đến người nữ.

Hoặc là ý định của người nữ đến người nam: Hoặc là thông báo ý định của người nữ đến người nam.

Hoặc trong việc trở thành vợ chồng: Cô sẽ trở thành người vợ.

Hoặc trong việc trở thành nhân tình: Cô sẽ trở thành nhân tình.

Cho dầu chỉ là cuộc tình trong chốt lát: Cô sẽ là người vợ trong chốt lát.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[430] Có mười hạng người nữ: hạng được mẹ bảo hộ, hạng được cha bảo hộ, hạng được cha mẹ bảo hộ, hạng được anh (em) trai bảo hộ, hạng được chị (em) gái bảo hộ, hạng được thân quyến bảo hộ, hạng được dòng họ bảo hộ, hạng được luân lý bảo hộ, hạng có sự gìn giữ, hạng bị quy định hình phạt.

[431] Có mười hạng vợ: hạng được mua bằng của cải, hạng sống chung do sự tự nguyện, hạng sống chung vì tài vật, hạng sống chung vì y phục, hạng được cưới theo nghi thức,[3] hạng có vật lót ở đầu được đặt xuống, hạng nữ tỳ là vợ, hạng người làm công là vợ, hạng được đem lại dưới lá cờ, hạng chỉ trong chốt lát.

[432] Hạng được mẹ bảo hộ (māturakkhitā) nghĩa là có mẹ bảo hộ,[4] canh giữ,[5] thể hiện sự lãnh đạo,[6] vận hành sự quản lý.[7]

Hạng được cha bảo hộ (piturakkhitā) nghĩa là có cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được mẹ cha bảo hộ (mātāpiturakkhitā) nghĩa là có mẹ cha bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được anh (em) trai bảo hộ (bhāturakkhitā) nghĩa là có anh (em) trai bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được chị (em) gái bảo hộ (bhaginīrakkhitā) nghĩa là có chị (em) gái bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được thân quyến bảo hộ (ñātirakkhitā) nghĩa là có thân quyến bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được dòng họ bảo hộ (gottarakkhitā) nghĩa là có dòng họ bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng được luân lý bảo hộ (dhammarakkhitā) nghĩa là có các đồng đạo bảo hộ, canh giữ, thể hiện sự lãnh đạo, vận hành sự quản lý.

Hạng có sự gìn giữ (sārakkhā) nghĩa là được giữ lại ngay ở trong phòng: “Cô ấy là của ta;” thậm chí còn được đặt quanh bằng các bó hoa.[8]

Hạng bị quy định hình phạt (saparidaṇḍā) nghĩa là có người nào đó quy định hình phạt rằng: “Ai đến với người đàn bà tên như vầy phải chịu phạt tới mức này.”

[433] Hạng được mua bằng của cải (dhanakkītā) nghĩa là sau khi mua bằng của cải, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).

Hạng sống chung do sự tự nguyện (chandavāsinī) nghĩa là người yêu giữ người yêu sống chung.

Hạng sống chung vì tài vật (bhogavāsinī) nghĩa là sau khi biếu xén tài vật, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).

Hạng sống chung vì y phục (paṭavāsinī) nghĩa là sau khi biếu xén y phục, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[9]

Hạng được cưới theo nghi thức (odapattakinī) nghĩa là nghĩa là sau khi chạm vào bát nước, (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[10]

Hạng có vật lót ở đầu được đặt xuống (obhatacumbaṭā) nghĩa là sau khi lấy xuống tấm đệm lót ở đầu (để mang vác), (người đàn ông) giữ (nàng) sống chung (như là vợ).[11]

Hạng nữ tỳ (dāsī ca bhariyā ca) nghĩa là vừa là nữ tỳ vừa là vợ.

Hạng người làm công (kammakārī ca bhariyā ca) nghĩa là vừa là người làm công vừa là vợ.[12]

Hạng được đem lại dưới lá cờ (dhajāhaṭā) nghĩa là (nàng) được đem lại như là tù binh.[13]

Hạng chỉ trong chốt lát (muhuttikā) nghĩa là đề cập đến cuộc tình chỉ trong chốc lát.

[434] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Nghe nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: …(như trên)… người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng … người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng … người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng … người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng … người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng … người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng … người nữ có sự gìn giữ nói rằng … người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Nghe nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[435] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: …(như trên)… người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[436] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

[437] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được mẹ cha bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ nhì.

[438] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ được anh (em) trai bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ ba.

[439] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ được chị (em) gái bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ tư.

[440] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được thân quyến bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ năm.

[441] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được dòng họ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ sáu.

[442] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được luân lý bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ bảy.

[443] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ có sự gìn giữ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được cha bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ có sự gìn giữ và người nữ được luân lý bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ tám.

[444] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng thứ chín.

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

[445] Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[446] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt sự xoay vòng của “Hạng được mua bằng của cải.”

[447] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: …(như trên)… người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng … người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng … người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng … người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng … người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng … người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng … người nữ có sự gìn giữ nói rằng … người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[448] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: …(như trên)… người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[449] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ cha bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ có sự gìn giữ … người nữ được cha bảo hộ và người nữ bị quy định hình phạt … người nữ được cha bảo hộ và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[450] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được cha bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được mẹ cha bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được anh (em) trai bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được chị (em) gái bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được thân quyến bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được dòng họ bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ được luân lý bảo hộ … người nữ bị quy định hình phạt và người nữ có sự gìn giữ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

[451] Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[452] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt sự xoay vòng của “Hạng chỉ trong chốt lát.”

[453] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). …(như trên)…

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[454] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần phân tích theo sự xoay vòng.

[455] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật …(như trên)… (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[456] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải … (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

[457] Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[458] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[459] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: …(như trên)… người nữ được mẹ cha bảo hộ nói rằng … người nữ được anh (em) trai bảo hộ nói rằng … người nữ được chị (em) gái bảo hộ nói rằng … người nữ được thân quyến bảo hộ nói rằng … người nữ được dòng họ bảo hộ nói rằng … người nữ được luân lý bảo hộ nói rằng … người nữ có sự gìn giữ nói rằng … người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ … (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[460] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[461] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật …(như trên)… (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[462] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải … (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

[463] Phần liên quan đến hai nhân tố, phần liên quan đến ba nhân tố, phần liên quan đến bốn nhân tố, phần liên quan đến năm nhân tố, phần liên quan đến sáu nhân tố, phần liên quan đến bảy nhân tố, phần liên quan đến tám nhân tố, phần liên quan đến chín nhân tố nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[464] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[465] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ và người nữ được cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, và người nữ được mẹ cha bảo hộ tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói cô hãy là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, và (hạng) sống chung vì tài vật của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

(Phần tổng hợp của hai nhân tố nên được thực hiện như thế).

Đây là phần có liên quan đến tất cả các nhân tố.

[466] Người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người nữ được mẹ bảo hộ, người nữ được cha bảo hộ, người nữ được mẹ cha bảo hộ, người nữ được anh (em) trai bảo hộ, người nữ được chị (em) gái bảo hộ, người nữ được thân quyến bảo hộ, người nữ được dòng họ bảo hộ, người nữ được luân lý bảo hộ, người nữ có sự gìn giữ, và người nữ bị quy định hình phạt có tên như vầy nói rằng: ‘Họ nói các cô hãy là những người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần tổng hợp của hai nhân tố.

[467] Người mẹ của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Cha của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Mẹ cha của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Anh (em) trai của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Chị (em) gái của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Thân quyến của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Dòng họ của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Các đồng đạo của người đàn ông phái vị tỳ khưu đi (Sự trùng lặp về người đàn ông nên được giải thích chi tiết. Phần tổng hợp của hai nhân tố nên được giải thích chi tiết giống như cách thức về người đàn ông).

[468] Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[469] Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[470] Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[471] Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải …(như trên)… (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Phần liên quan đến hai nhân tố cho đến phần liên quan đến chín nhân tố được thực hiện như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[472] Người mẹ của người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (con gái tôi) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[473] Người cha của người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Mẹ cha của người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Anh (em) trai của người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Chị (em) gái của người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Thân quyến của người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Dòng họ của người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi …(như trên)… Các đồng đạo của người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Sở hữu chủ của người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi … Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[474] Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[475] Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[476] Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải …(như trên)… (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Phần liên quan đến hai nhân tố cho đến phần liên quan đến chín nhân tố được thực hiện như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[477] Người quy định về hình phạt đối với người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy nhận (cô ta) là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[478] Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[479] Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[480] Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[481] Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải …(như trên)… (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Các phần liên quan đến hai nhân tố, v.v… nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[482] Người nữ được mẹ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[483] Người nữ được cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được mẹ cha bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được anh (em) trai bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được chị (em) gái bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được thân quyến bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được dòng họ bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ được luân lý bảo hộ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ có sự gìn giữ phái vị tỳ khưu đi … Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải … (hạng) sống chung do sự tự nguyện … (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung vì y phục … (hạng) được cưới theo nghi thức … (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống … (hạng) nữ tỳ là vợ … (hạng) người làm công là vợ … (hạng) được đem lại dưới lá cờ … (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Các phần tóm lược.

[484] Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) sống chung do sự tự nguyện …(như trên)… (hạng) được mua bằng của cải và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần phân tích theo sự xoay vòng.

[485] Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) sống chung vì tài vật … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) chỉ trong chốt lát … (hạng) sống chung do sự tự nguyện và (hạng) được mua bằng của cải của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Phần tổng hợp theo sự xoay vòng.

Phần nhân tố được tóm tắt.

[486] Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được mua bằng của cải …(như trên)… (hạng) chỉ trong chốt lát và (hạng) được đem lại dưới lá cờ của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt phần liên quan đến một nhân tố.

Các phần liên quan đến hai nhân tố. v.v… nên được thực hiện y như thế.

Đây là phần có liên quan đến mười nhân tố.

[487] Người nữ bị quy định hình phạt phái vị tỳ khưu đi (nói rằng): “Thưa ngài, hãy đi đến người có tên như vầy nói rằng: ‘Hãy chấp nhận tôi là người vợ (hạng) được mua bằng của cải, (hạng) sống chung do sự tự nguyện, (hạng) sống chung vì tài vật, (hạng) sống chung vì y phục, (hạng) được cưới theo nghi thức, (hạng) có vật lót ở đầu được đặt xuống, (hạng) nữ tỳ là vợ, (hạng) người làm công là vợ, (hạng) được đem lại dưới lá cờ, và (hạng) chỉ trong chốt lát của người tên như vầy.’” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Dứt tất cả các phần trùng lặp theo sự xoay vòng.

[488] Nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Nhận lời, không thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Nhận lời, không thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Không nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Không nhận lời, thông báo, không đem lại (hồi báo) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Không nhận lời, không thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Không nhận lời, không thông báo, không đem lại (hồi báo) thì vô tội.

[489] Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, tất cả đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, tất cả thông báo, rồi bảo một vị đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, tất cả đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo nhiều vị tỳ khưu rằng: “Thưa các ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Tất cả nhận lời, rồi bảo một vị thông báo, và bảo một vị đem lại (hồi báo) thì tất cả phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị nhận lời, thông báo, bảo người học trò đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy nhận lời, bảo người học trò thông báo, đích thân đem lại (hồi báo) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Người đàn ông bảo vị tỳ khưu rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy nhận lời, bảo người học trò thông báo, người học trò sau khi thông báo, đứng ở bên ngoài rồi đem lại (hồi báo) thì cả hai phạm tội thullaccaya (trọng tội).[14]

[490] Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm trái lời dặn thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Khi đi làm hoàn tất, khi trở về làm hoàn tất thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Khi đi làm trái lời dặn, khi trở về làm trái lời dặn thì vô tội.

[491] Vị đi vì công việc cần thiết của hội chúng hoặc của bảo tháp hoặc của người bệnh, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

[492]

Ngủ, đã chết, đi khỏi,
không phải là người nữ,
là người nữ vô căn,
gây gỗ, vị khuyên giải,
và việc làm mai mối
cho hạng người vô căn.

[493] Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

– Cô tên như vầy ở đâu?

– Thưa ngài, cô ta ngủ.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: “Phải chăng ta đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng)?” Vị ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn.

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

– Cô tên như vầy ở đâu?

– Thưa ngài, cô ta đã chết.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc: …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vào lúc bấy giờ, có người đàn ông nọ bảo vị tỳ khưu nọ rằng: “Thưa ngài, xin hãy đi và thông báo cho người nữ tên như vầy.” Vị ấy đã đi và đã hỏi mọi người rằng:

– Cô tên như vầy ở đâu?

– Thưa ngài, cô ta đã đi khỏi.

…(như trên)…

– Thưa ngài, cô ta không phải là người nữ.

…(như trên)…

– Thưa ngài, cô ta là người nữ vô căn.

Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[494] Vào lúc bấy giờ, có người đàn bà nọ sau khi gây gỗ với chồng đã đi về nhà mẹ. Có vị tỳ khưu nọ đã làm công việc khuyên giải. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, cô ta đã bị chồng bỏ (alaṃvacanīyā)?[15]

– Bạch Thế Tôn, cô ta không bị chồng bỏ.

– Này tỳ khưu, trường hợp không bị chồng bỏ thì vô tội.

[495] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã làm mai mối cho người vô căn. Vị ấy đã có nỗi nghi hoặc. …(như trên)…

– Này tỳ khưu, ngươi không phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) mà phạm tội thullaccaya (trọng tội).

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ năm.

*******

[1] Là đường tiêu và đường tiểu. Từ “magga” có nghĩa thông thường là “đường đi, con đường.” Trong văn cảnh này được dịch là khiếu, đường khiếu (trong điều pārājika thứ nhất có đề cập đường khiếu khác nữa là miệng).

[2] Trường hợp này vị tỳ khưu bị phạm tội thullaccaya (trọng tội) vì đã ám chỉ “đường khiếu” khi sử dụng từ “magga” nhưng người nữ du sĩ hiểu theo nghĩa thông thường là “con đường.” Nếu cô ấy hiểu được ý thô tục thì vị tỳ khưu ấy đã phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[3] Được dịch theo ý. Dịch sát từ là: Người nữ mang bát nước (odapattakinī ).

[4] Không cho phép đi đến bất cứ nơi đâu (theo ngài Buddhaghosa).

[5] Giữ nàng ở nơi kín đáo, không để các người khác nhìn thấy (theo ngài Buddhaghosa).

[6] Cấm đoán nàng sống ở chỗ theo ý thích (theo ngài Buddhaghosa).

[7] Nói rằng: “Hãy làm điều này, chớ có làm điều kia” (theo ngài Buddhaghosa).

[8] Ṭīkā (Sớ giải) giải thích là “sasāmikā” nghĩa là cô ấy đã có chồng, đã có sở hữu chủ.

[9] Đề cập đến người đàn bà nghèo trở thành vợ sau khi nhận lấy y phục cho dầu chỉ là tấm áo choàng (theo ngài Buddhaghosa).

[10] Sau khi cả hai người nhúng hai tay vào trong một bát nước nói rằng: “Hãy gắn bó như là nước này, đừng có chia lìa” thì nàng được chấp nhận là vợ theo phong tục (theo ngài Buddhaghosa).

[11] Nàng là người kiếm củi, v.v… Sau khi lấy xuống từ đầu của nàng tấm đệm lót để đội vật nặng rồi đem về sống ở trong nhà (theo ngài Buddhaghosa).

[12] Nàng được thuê làm việc trong nhà. Người đàn ông không hài lòng với vợ của mình rồi san sẽ cuộc sống gia đình với nàng (theo ngài Buddhaghosa).

[13] Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: Khi đoàn quân dương cờ đi đến chiếm cứ một khu vực và nàng bị bắt đem lại, một người nào đó nhận nàng làm vợ nên được gọi là “dhajāhaṭā” (được đem lại dưới lá cờ).

[14] Người học trò khi quay trở về không báo cho thầy biết (đứng ở bên ngoài) và đích thân đem lại hồi báo cho người đàn ông. Người thầy bản thân nhận lời và bản thân bảo học trò thông báo nên phạm tội thullaccaya (trọng tội) vì hai phần ấy; còn người học trò bản thân thông báo và bản thân đem lại (hồi báo) nên phạm tội thullaccaya (trọng tội) vì hai phần ấy (theo ngài Buddhaghosa).

[15] Ngài Buddhaghosa giải thích “alaṃvacanīyā” là “pariccattā = bị từ bỏ.” Theo như trong một số quốc độ người đàn bà bị mất đi tính chất làm vợ thì gọi là “alaṃvacanīyā.” (alaṃ = vừa đủ, xứng đáng; vacanīya = nên được nói, cần phải nói. Alaṃvacanīyā = được nói đủ rồi, hết nước nói, không còn gì để nói).

-ooOoo-

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ SÁU:

[496] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu ở thành Āḷavī tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các vị ấy sống có nhiều sự van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.” Dân chúng bực mình vì sự van xin, bực mình vì sự yêu cầu, khi thấy các tỳ khưu thì hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại; ngay cả khi thấy con bò cái họ (lầm) tưởng rằng: “Là vị tỳ khưu” rồi cũng tránh đi.

[497] Khi ấy, đại đức Mahākassapa, trải qua mùa (an cư) mưa ở thành Rājagaha, đã ra đi về phía thành Āḷavī, trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Āḷavī. Tại nơi ấy trong thành Āḷavī, đại đức Mahākassapa ngụ tại tháp thờ Aggāḷava. Sau đó vào buổi sáng, đại đức Mahākassapa đã mặc y, cầm y bát, đi vào thành Āḷavī để khất thực. Dân chúng khi nhìn thấy đại đức Mahākassapa cũng trở nên hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại. Sau đó, khi đã đi khất thực trong thành Āḷavī, đại đức Mahākassapa khi đang đi khất thực trở về sau bữa ăn đã bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các đại đức, thành Āḷavī này trước đây vật thực dồi dào, đồ khất thực nhận được mau chóng, và dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Hiện nay, thành Āḷavī này quả thật có sự khó khăn về vật thực, đồ khất thực nhận được khó khăn, và không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực. Này các đại đức, do nhân gì, do duyên gì khiến thành Āḷavī này lại có sự khó khăn về vật thực, đồ khất thực nhận được khó khăn, và không dễ dàng sinh sống bằng sự ra sức khất thực?

Khi ấy, các vị tỳ khưu ấy đã kể lại sự việc ấy cho đại đức Mahākassapa.

[498] Khi ấy, đức Thế Tôn sau khi ngự tại thành Rājagaha theo như ý thích đã ra đi du hành về phía thành Āḷavī, trong khi tuần tự du hành đã ngự đến thành Āḷavī. Tại nơi ấy trong thành Āḷavī, đức Thế Tôn ngụ tại tháp thờ Aggāḷava. Sau đó, đại đức Mahākassapa đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Mahākassapa đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các vị tỳ khưu ở thành Āḷavī rằng:

– Này các tỳ khưu , nghe nói các ngươi tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các ngươi đây sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.” Dân chúng bực mình vì sự van xin, bực mình vì sự yêu cầu, khi thấy các tỳ khưu thì hốt hoảng, lo sợ, tránh né, bỏ đi đường khác, quay mặt hướng khác, đóng cửa lại; ngay cả khi thấy con bò cái họ (lầm) tưởng rằng: “Là vị tỳ khưu” rồi cũng tránh đi, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này những kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)…, không nên làm! Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng các cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân, không theo kích thước, và các cốc liêu ấy chưa đạt được sự hoàn tất. Các ngươi đây sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu: “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét” vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

Sau đó, khi đã khiển trách các tỳ khưu ở thành Āḷavī bằng nhiều phương thức, …(như trên)… đức Thế Tôn đã đã thuyết Pháp thoại thích đáng và phù hợp cho các tỳ khưu rồi đã bảo các tỳ khưu rằng:

[499] – Này các tỳ khưu, vào thời trước đây có hai anh em ẩn sĩ đã sống nương tựa vào giòng sông Gaṅgā. Này các tỳ khưu, khi ấy rồng chúa Maṇikaṇṭha [1] đã vượt qua giòng sông Gaṅgā và đi đến gặp vị ẩn sĩ trẻ tuổi, sau khi đến đã dùng các phần thân thể quấn quanh vị ẩn sĩ trẻ tuổi bảy vòng rồi phồng lớn mang ở trên đầu (vị ấy) và giữ nguyên. Này các tỳ khưu, rồi do sự khiếp sợ con rồng ấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ lớn tuổi đã nhìn thấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi bị ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân, sau khi nhìn thấy đã nói với vị ẩn sĩ trẻ tuổi điều này:

– Này đệ, vì sao đệ lại trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân vậy?

– Thưa huynh, trường hợp của đệ là con rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua giòng sông Gaṅgā và đi đến gặp đệ, sau khi đến đã dùng các phần thân thể quấn quanh đệ bảy vòng rồi phồng lớn mang ở trên đầu (đệ) và giữ nguyên. Thưa huynh, do sự khiếp sợ con rồng ấy đệ đã trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân.

– Này đệ, vậy đệ có muốn con rồng ấy không đến nữa?

– Thưa huynh, đệ muốn con rồng ấy không đến nữa.

– Này đệ, vậy đệ thấy con rồng ấy có vật gì?

– Thưa huynh, đệ thấy viên ngọc ma-ni là vật trang điểm ở cổ của nó.

– Này đệ, như thế thì đệ hãy xin con rồng ấy viên ngọc ma-ni (nói rằng): “Rồng ơi, hãy cho ta viên ngọc ma-ni, ta cần viên ngọc ma-ni.”

Này các tỳ khưu, rồi con rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua giòng sông Gaṅgā và đi đến gặp vị ẩn sĩ trẻ tuổi, sau khi đến đã đứng ở một bên. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nói với con rồng chúa Maṇikaṇṭha đang đứng một bên điều này:

– Rồng ơi, hãy cho ta viên ngọc ma-ni, ta cần viên ngọc ma-ni.

Này các tỳ khưu, khi ấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): “Vị tỳ khưu xin viên ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần viên ngọc ma-ni” rồi đã bỏ đi ngay lập tức.

Này các tỳ khưu, đến lần thứ nhì con rồng chúa Maṇikaṇṭha đã vượt qua giòng sông Gaṅgā và đi đến gặp vị ẩn sĩ trẻ tuổi. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nhìn thấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha từ ở đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã nói với con rồng chúa Maṇikaṇṭha điều này:

– Rồng ơi, hãy cho ta viên ngọc ma-ni, ta cần viên ngọc ma-ni.

Này các tỳ khưu, khi ấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): “Vị tỳ khưu xin viên ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần viên ngọc ma-ni” rồi ngay từ nơi ấy quay trở lui.

Này các tỳ khưu, đến lần thứ ba con rồng chúa Maṇikaṇṭha đang vượt qua giòng sông Gaṅgā. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ trẻ tuổi đã nhìn thấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha đang vượt qua giòng sông Gaṅgā, sau khi nhìn thấy đã nói với con rồng chúa Maṇikaṇṭha điều này:

– Rồng ơi, hãy cho ta viên ngọc ma-ni, ta cần viên ngọc ma-ni.

Này các tỳ khưu, khi ấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha đã thốt lên với vị ẩn sĩ trẻ tuổi bằng những lời kệ này:

Cơm và nước của ta
được dồi dào, tuyệt hảo
sanh lên do nhân của
viên ngọc ma-ni này.
Ngươi kẻ xin quá lố,
ta không cho vật ấy,
và ta sẽ không đến
khu ẩn cư ngươi nữa.
Như là những đứa trẻ
tay cầm dao mài bén,
ngươi làm ta run rẩy
khi cầu xin viên ngọc.
Ngươi kẻ xin quá lố,
ta không cho vật ấy,
và ta sẽ không đến
khu ẩn cư ngươi nữa.

Này các tỳ khưu, khi ấy con rồng chúa Maṇikaṇṭha (nghĩ rằng): “Vị tỳ khưu xin viên ngọc ma-ni, vị tỳ khưu cần viên ngọc ma-ni” rồi bỏ đi, trong khi bỏ đi như thế rồi đã không quay trở lại nữa.

Này các tỳ khưu, sau đó vị ẩn sĩ trẻ tuổi do việc không còn nhìn thấy con rồng chúa xinh xắn ấy nữa càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa. Này các tỳ khưu, vị ẩn sĩ lớn tuổi đã nhìn thấy vị ẩn sĩ trẻ tuổi càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa; sau khi nhìn thấy đã nói với vị ẩn sĩ trẻ tuổi điều này:

– Này đệ, vì sao đệ lại càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa vậy?

– Thưa huynh, đệ càng trở nên ốm o, cằn cỗi, xuống sắc, có vẻ xanh xao, thân hình nổi đầy gân thêm hơn nữa là do việc không còn nhìn thấy con rồng chúa xinh xắn ấy nữa. Này các tỳ khưu, khi ấy vị ẩn sĩ lớn tuổi đã thốt lên với vị ẩn sĩ trẻ tuổi bằng lời kệ này:

Chớ xin dầu mong được
vật yêu quý của người,
do cầu xin quá đáng
trở thành bị ghét bỏ.
Bà-la-môn cầu xin
rồng chúa ngọc ma-ni
không được nhìn thấy nữa,
bởi rồng đã bỏ đi.

Này các tỳ khưu, bởi vì việc van xin còn không được hoan hỷ, việc yêu cầu còn không được hoan hỷ đối với những chúng sanh là các loài thú ấy, thì sẽ là điều gì đối với loài người?

[500] Này các tỳ khưu, vào thời trước đây có vị tỳ khưu nọ sống trong khu rừng rậm nọ ở sườn núi của dãy Hi-mã-lạp-sơn. Này các tỳ khưu, không xa khu rừng rậm ấy có đầm nước lớn và sâu thẳm. Này các tỳ khưu, có bầy chim lớn vào ban ngày đi kiếm ăn ở trong đầm nước ấy và ban đêm đi đến nương náu ở khu rừng rậm ấy. Này các tỳ khưu, khi ấy vị tỳ khưu ấy bị quấy rầy bởi tiếng động của bầy chim ấy đã đi đến gặp ta, sau khi đến đã đảnh lễ ta rồi ngồi xuống ở một bên. Này các tỳ khưu, rồi ta đã nói với vị tỳ khưu ấy đang ngồi một bên điều này:

– Này tỳ khưu, sức khoẻ có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đi đến?

– Bạch Thế Tôn, sức khoẻ khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc được tốt đẹp. Và bạch ngài, con đi đến đường xa ít mệt nhọc. Bạch ngài, có khu rừng rậm lớn ở sườn núi của dãy Hi-mã-lạp-sơn. Bạch ngài, không xa khu rừng rậm ấy có đầm nước lớn và sâu thẳm. Bạch ngài, rồi có bầy chim lớn vào ban ngày đi kiếm ăn ở trong đầm nước ấy và ban đêm đến nương náu ở khu rừng rậm ấy. Bạch Thế Tôn, con từ nơi đó đi đến vì bị quấy rầy bởi tiếng động của bầy chim ấy.

– Này tỳ khưu, vậy ngươi có muốn bầy chim ấy không đến nữa?

– Bạch ngài, con muốn bầy chim ấy không đến nữa.

– Này tỳ khưu, như thế thì ngươi hãy về lại nơi ấy và đi vào trong khu rừng rậm ấy rồi vào canh đầu của đêm hãy nói lớn lời này ba lần: “Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến nương náu ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.” Rồi vào canh giữa của đêm …(như trên)… Rồi vào canh cuối của đêm hãy nói lớn lời này ba lần: “Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến nương náu ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.”

Này các tỳ khưu, sau đó vị tỳ khưu ấy đã về lại nơi ấy và đi vào trong khu rừng rậm ấy, rồi vào canh đầu của đêm đã nói lớn lời này ba lần: “Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến nương náu ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.” Rồi vào canh giữa của đêm …(như trên)… Rồi vào canh cuối của đêm đã nói lớn lời này ba lần: “Hỡi toàn bộ các ngài chim đã đến nương náu ở khu rừng rậm này, xin hãy lắng nghe tôi. Tôi cần lông chim. Hỡi các ngài, hãy cho tôi mỗi một ngài một lông chim.”

Này các tỳ khưu, khi ấy bầy chim ấy (nghĩ rằng): “Vị tỳ khưu xin lông chim, vị tỳ khưu cần lông chim” nên đã rời bỏ khu rừng rậm ấy, trong khi bỏ đi như thế rồi đã không quay trở lại nữa.

Này các tỳ khưu, bởi vì việc van xin còn không được hoan hỷ, việc yêu cầu còn không được hoan hỷ đối với những chúng sanh là các loài thú ấy, thì sẽ là điều gì đối với loài người?

[501] Này các tỳ khưu, vào thời trước đây người cha của Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá đã thốt lên với Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá bằng lời kệ này:

Này Raṭṭhapāla,
có rất là nhiều người
dầu ta không biết họ
họ vẫn đi đến gặp
rồi lại cầu xin ta,
sao con không xin ta?

(Vị Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá đáp lại rằng):

Kẻ xin không ai thích,
được xin lại không cho
cũng không được ưa thích;
chính vì lý do ấy,
tôi không cầu xin ông
chớ có ghét bỏ tôi.

Này các tỳ khưu, chính Raṭṭhapāla con trai nhà danh giá ấy còn nói với cha của mình như thế, thì người với người sẽ còn nói điều gì nữa?

[502] Này các tỳ khưu, đối với người tại gia các tài sản kiếm được khó khăn, các vật tích lũy được gìn giữ một cách khó nhọc. Này những kẻ rồ dại, thế mà ở nơi ấy các ngươi lại sống có nhiều van xin, có nhiều sự yêu cầu đối với các tài sản kiếm được khó khăn, các vật tích lũy được gìn giữ một cách khó nhọc như thế (nói rằng): “Các người hãy bố thí người nam, hãy bố thí nhân công, hãy bố thí bò, hãy bố thí xe kéo, hãy bố thí rìu, hãy bố thí búa, hãy bố thí cuốc, hãy bố thí xẻng, hãy bố thí lưỡi đục, hãy bố thí dây leo, hãy bố thí tre, hãy bố thí cỏ muñja, hãy bố thí cỏ pabbaja, hãy bố thí cỏ tiṇa, hãy bố thí đất sét.” Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu tự xin (vật liệu) rồi trong khi cho xây dựng cốc liêu không có thí chủ, dành cho bản thân thì nên cho làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài mười hai gang theo gang tay của đức Thiện Thệ,[2] chiều ngang bảy gang ở bên trong, và nên dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất. Các vị tỳ khưu ấy nên xác định khu đất là không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Nếu vị tỳ khưu tự xin (vật liệu) rồi cho xây dựng cốc liêu dành cho bản thân ở khu đất có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, hoặc không dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất, hoặc vượt quá kích thước thì tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[503] Tự xin (vật liệu) nghĩa là sau khi tự mình yêu cầu người nam, nhân công, bò, xe kéo, rìu, búa, cuốc, xẻng, lưỡi đục, …(như trên)… cỏ tiṇa, đất sét.

Cốc liêu nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.

Trong khi cho xây dựng: là (tự mình) đang làm hoặc đang bảo người làm.

Không có thí chủ: không có người nào khác là sở hữu chủ: hoặc là người nữ, hoặc người nam, hoặc người tại gia, hoặc vị xuất gia.

Dành cho bản thân: vì nhu cầu của bản thân.

Nên cho làm theo kích thước. Ở đây, kích thước này là chiều dài mười hai gang theo gang tay của đức Thiện thệ: theo cách đo ở bên ngoài.

Chiều ngang bảy gang ở bên trong: theo cách đo ở bên trong.

[504] Nên dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất: Vị tỳ khưu là người làm cốc liêu ấy nên cho dọn sạch khu đất làm cốc liêu, nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:

– Bạch các ngài, tôi có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu.

Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba.

Nếu toàn thể hội chúng có khả năng đi xem xét khu đất làm cốc liêu thì (khu đất) nên được xem xét bởi toàn thể hội chúng. Nếu toàn thể hội chúng không có khả năng đi xem xét khu đất làm cốc liêu thì tại nơi ấy, các tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực để biết được có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có khoảng trống hay không có khoảng trống, các vị ấy nên được thỉnh cầu và nên được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm cốc liêu. Hội chúng chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc chỉ định các vị tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để xem xét khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[505] Các vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đi đến nơi đó nên xem xét khu đất làm cốc liêu và nên nhận biết là có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có khoảng trống hay không có khoảng trống. Nếu có điều chướng ngại và không có khoảng trống xung quanh thì nên nói rằng: “Chớ làm ở đây.” Nếu không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh thì nên thông báo với hội chúng rằng: “Không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.”

Vị tỳ khưu là người làm cốc liêu nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:

– Bạch các ngài, tôi có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu.

Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba.

Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm cốc liêu do tự mình xin (vật liệu), không có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm cốc liêu. Hội chúng xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc xác định khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Khu đất làm cốc liêu của vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng xác định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[506] Có điều chướng ngại nghĩa là có tổ kiến, hoặc là có tổ mối, hoặc là có ổ chuột, hoặc là có ổ rắn, hoặc là có ổ bọ cạp, hoặc là có ổ rết, hoặc là chỗ ở của bầy voi, hoặc là chỗ ở của bầy ngựa, hoặc là chỗ ở của bầy sư tử, hoặc là chỗ ở của bầy cọp, hoặc là chỗ ở của bầy beo, hoặc là chỗ ở của bầy gấu, hoặc là chỗ ở của bầy chó sói, hoặc là chỗ ở của bất cứ các loài thú hoặc các loài sinh vật nào, hoặc kề cận ruộng trồng thóc lúa, hoặc kề cận ruộng trồng rau cải, hoặc kề cận nơi tra trấn, hoặc kề cận nơi xử trảm, hoặc kề cận mộ địa, hoặc kề cận vườn hoa, hoặc kề cận đất của đức vua, hoặc kề cận chuồng voi, hoặc kề cận chuồng ngựa, hoặc kề cận trại giam, hoặc kề cận quán rượu, hoặc kề cận nhà đồ tể, hoặc kề cận đường vận chuyển, hoặc kề cận giao lộ, hoặc kề cận nơi hội họp, hoặc kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là có điều chướng ngại.

[507] Không có khoảng trống xung quanh nghĩa là không thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (không thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là không có khoảng trống xung quanh.

[508] Không có điều chướng ngại nghĩa là không có tổ kiến, hoặc là không có tổ mối, hoặc là không có ổ chuột, hoặc là không có ổ rắn, hoặc là không có ổ bọ cạp, hoặc là không có ổ rết, …(như trên)… hoặc không kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là không có điều chướng ngại.

[509] Có khoảng trống xung quanh nghĩa là có thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (có thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là có khoảng trống xung quanh.

[510] Tự xin (vật liệu) nghĩa là sau khi tự mình yêu cầu về người nam, nhân công, …(như trên)…, lưỡi đục.

Cốc liêu nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.

Cho xây dựng: là (tự) làm hoặc bảo người làm.

Hoặc không dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất, hoặc vượt quá kích thước: hoặc là sau khi không cho xác định khu đất làm cốc liêu bằng hành sự với lời thông báo đến lần thứ nhì, hoặc là sau khi vượt quá chiều dài hoặc chiều rộng cho dù chỉ bằng sợi tóc rồi (tự) làm hay bảo người làm thì tội dukkaṭa (tác ác) cho mỗi thao tác. Còn cục (vữa tô) cuối cùng thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[511] Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[512] Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu theo kích thước, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[513] Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[514] Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm cốc liêu ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[515] Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì (vị ấy) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì (vị ấy) phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[516] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì (vị ấy) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[517] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định và không có điều chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định và có khoảng trống xung quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) không có điều chướng ngại.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) có khoảng trống xung quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[518] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy theo đúng kích thước và không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy theo đúng kích thước và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy theo đúng kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy theo đúng kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta theo đúng kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy (là) không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy (là) có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, và không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định và theo đúng kích thước.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo đúng kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói cốc liêu được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, theo đúng kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy (là) không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy (là) có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… thì vô tội.

[519] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm bốn tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, theo đúng kích thước, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[520] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất không được xác định, vượt quá kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm hai tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm hai tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm cốc liêu cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm cốc liêu cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, theo kích thước, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho cốc liêu ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì vô tội.

[521] Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[522] Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở,[3] vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ sáu.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ BẢY:

[523] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, tu viện Ghosita.[4] Vào lúc bấy giờ, người gia chủ hộ độ đại đức Channa[5] đã nói với đại đức Channa điều này:

– Thưa ngài, hãy tìm kiếm khu đất của trú xá. Tôi muốn cho xây dựng trú xá cho ngài đại đức.

Sau đó, trong khi dọn sạch khu đất của trú xá, đại đức Channa đã cho người đốn cội cây nọ vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các sa-môn Thích tử lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính? Các sa-môn Thích tử làm hại cuộc sống của loài có một giác quan?[6]

Các tỳ khưu đã nghe được dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao đại đức Channa lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, …(như trên)…, được lãnh thổ tôn kính?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…

– Này Channa, nghe nói ngươi cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, …(như trên)…, được lãnh thổ tôn kính, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– …(như trên)… Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại cho chặt cội cây vốn là nơi thờ phượng được làng mạc tôn kính, được thị trấn tôn kính, được thành phố tôn kính, được xứ sở tôn kính, được lãnh thổ tôn kính vậy? Này kẻ rồ dại, bởi vì có những chúng sanh có tâm thức là những hạng người ở trên cây cối. Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu trong khi cho xây dựng trú xá lớn có thí chủ, dành cho bản thân, nên dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất. Các vị tỳ khưu ấy nên xác định khu đất là không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh. Nếu vị tỳ khưu cho xây dựng trú xá lớn dành cho bản thân ở khu đất có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh, hoặc không dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[524] Trú xá lớn nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.

Trú xá nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.

Trong khi cho xây dựng: là (tự mình) đang làm hoặc đang bảo người làm.

Có thí chủ: có người nào khác là sở hữu chủ: hoặc là người nữ, hoặc người nam, hoặc người tại gia, hoặc vị xuất gia.

Dành cho bản thân: vì nhu cầu của bản thân.

[525] Nên dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất: Vị tỳ khưu là người làm trú xá nên cho dọn sạch khu đất làm trú xá, nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:

– Bạch các ngài, tôi có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá.

Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba.

Nếu toàn thể hội chúng có khả năng đi xem xét khu đất làm trú xá thì (khu đất) nên được xem xét bởi toàn thể hội chúng. Nếu toàn thể hội chúng không có khả năng đi xem xét khu đất làm trú xá thì tại nơi ấy, các vị tỳ khưu nào có kinh nghiệm, đủ năng lực để biết được có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có khoảng trống hay không có khoảng trống, các vị ấy nên được thỉnh cầu và nên được chỉ định. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy:

Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xem xét khu đất làm trú xá. Hội chúng chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc chỉ định các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng chỉ định để xem xét khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[526] Các vị tỳ khưu đã được chỉ định ấy sau khi đi đến nơi ấy nên xem xét khu đất làm trú xá và nên nhận biết là có điều chướng ngại hoặc không có điều chướng ngại, có khoảng trống hay không có khoảng trống. Nếu có điều chướng ngại và không có khoảng trống xung quanh thì nên nói rằng: “Chớ làm ở đây.” Nếu không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh thì nên thông báo với hội chúng rằng: “Không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.”

Vị tỳ khưu là người làm trú xá nên đi đến nơi hội chúng, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ ở chân các tỳ khưu trưởng thượng, ngồi chồm hổm, chắp tay lên, và nên nói như vầy:

– Bạch các ngài, tôi có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Bạch các ngài, tôi đây thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá.

Nên được thỉnh cầu lần thứ nhì. Nên được thỉnh cầu lần thứ ba.

Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) có ý định làm trú xá lớn, có thí chủ, dành cho bản thân. Vị ấy thỉnh cầu hội chúng việc xác định khu đất làm trú xá. Hội chúng xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy). Đại đức nào đồng ý việc xác định khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Khu đất làm trú xá của vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng xác định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[527] Có điều chướng ngại nghĩa là có tổ kiến, hoặc là có tổ mối, hoặc là có ổ chuột, hoặc là có ổ rắn, hoặc là có ổ bọ cạp, hoặc là có ổ rết, hoặc là chỗ ở của bầy voi, hoặc là chỗ ở của bầy ngựa, hoặc là chỗ ở của bầy sư tử, hoặc là chỗ ở của bầy cọp, hoặc là chỗ ở của bầy beo, hoặc là chỗ ở của bầy gấu, hoặc là chỗ ở của bầy chó sói, hoặc là chỗ ở của của bất cứ các loài thú hoặc các loài sinh vật nào, hoặc kề cận ruộng trồng thóc lúa, hoặc kề cận ruộng trồng rau cải, hoặc kề cận nơi tra trấn, hoặc kề cận nơi xử trảm, hoặc kề cận mộ địa, hoặc kề cận vườn hoa, hoặc kề cận đất của đức vua, hoặc kề cận chuồng voi, hoặc kề cận chuồng ngựa, hoặc kề cận trại giam, hoặc kề cận quán rượu, hoặc kề cận nhà đồ tể, hoặc kề cận đường vận chuyển, hoặc kề cận giao lộ, hoặc kề cận nơi hội họp, hoặc kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là có điều chướng ngại.

[528] Không có khoảng trống xung quanh nghĩa là không thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (không thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là không có khoảng trống xung quanh.

[529] Không có điều chướng ngại nghĩa là không có tổ kiến, …(như trên)… hoặc không kề cận chỗ qua lại; điều này nghĩa là không có điều chướng ngại.

[530] Có khoảng trống xung quanh nghĩa là có thể đi vòng với chiếc xe hàng được móc vào hoặc (có thể) đi vòng xung quanh với cái thang; điều này nghĩa là có khoảng trống xung quanh.

[531] Trú xá lớn nghĩa là có thí chủ được đề cập đến.

Trú xá nghĩa là được tô ở bên trong, hoặc được tô ở bên ngoài, hoặc được tô bên trong lẫn bên ngoài.

Cho xây dựng: là (tự mình) làm hoặc bảo người làm.

Hoặc không dẫn các vị tỳ khưu đến để xác định khu đất: sau khi không cho xác định khu đất làm trú xá bằng hành sự với lời đề nghị và lời thông báo rồi (tự) làm hoặc bảo người làm thì tội dukkaṭa (tác ác) cho mỗi thao tác. Còn cục (vữa tô) cuối cùng thì phạm tội thullaccaya (trọng tội). Khi cục (vữa tô) ấy đã được đặt vào thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[532] Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất không được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu làm trú xá ở khu đất đã được xác định, không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[533] Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[534] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và không có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[535] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói trú xá được làm cho ta ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định và không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy là khu đất được xác định.” Nếu không đích thân đi hoặc phái người đưa tin thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Vị ấy nghe rằng: “Nghe nói trú xá được làm cho ta ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh.” Vị tỳ khưu ấy nên đích thân đi hoặc phái người đưa tin rằng: “Hãy (là) không có điều chướng ngại và có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… “Hãy (là) không có điều chướng ngại.” …(như trên)… “Hãy (là) có khoảng trống xung quanh.” …(như trên)… thì vô tội.

[536] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm ba tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi và có chỉ thị rằng: “Hãy là khu đất được xác định, không có điều chướng ngại, và có khoảng trống xung quanh.” Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh thì các vị xây dựng phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[537] Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất không được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa và tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội saṅghādisesa.

Vị tỳ khưu sau khi chỉ thị rằng: “Hãy làm trú xá cho tôi” rồi ra đi. Các vị làm trú xá cho vị ấy ở khu đất đã được xác định, có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh. Nếu vị ấy trở về lúc làm chưa xong, thì vị tỳ khưu ấy nên cho trú xá ấy đến vị khác hoặc nên phá đi rồi cho làm lại. Nếu không cho đến vị khác hoặc không phá đi rồi cho làm lại thì vị ấy phạm hai tội dukkaṭa (tác ác). …(như trên)… có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, không có khoảng trống xung quanh … thì phạm tội dukkaṭa. …(như trên)… không có điều chướng ngại, có khoảng trống xung quanh thì vô tội.

[538] Vị tự mình hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị bảo những người khác hoàn tất phần vị ấy chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị tự mình hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị bảo những người khác hoàn tất phần những người khác chưa làm xong thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

[539] Vô tội trong trường hợp hang núi, hang nhân tạo, chòi cỏ, vì nhu cầu của vị khác, trong mọi trường hợp ngoại trừ nhà ở, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ bảy.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ TÁM:

[540] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, phẩm vị A-la-hán đã được đại đức Dabba Mallaputta[7] chứng đạt vào lúc bảy tuổi. Vị ấy đã thành đạt tất cả những gì vị đệ tử cần phải chứng đạt. Và đối với vị ấy, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm (các việc) đã làm.

[541] Khi ấy, đại đức Dabba Mallaputta trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng đạt vào lúc bảy tuổi. Ta đã thành đạt tất cả những gì vị đệ tử cần phải chứng đạt. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm (các việc) đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?” Rồi điều này đã khởi đến cho đại đức Dabba Mallaputta: “Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?”

Sau đó vào buổi tối, đại đức Dabba Mallaputta đã xuất khỏi thiền tịnh và đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đại đức Dabba Mallaputta đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, trường hợp con trong lúc thiền tịnh ở nơi thanh vắng có ý nghĩ suy tầm như vầy đã sanh khởi: “Phẩm vị A-la-hán đã được ta chứng đạt vào lúc bảy tuổi. Ta đã thành đạt tất cả những gì vị đệ tử cần phải chứng đạt. Và đối với ta, không có bất cứ việc gì cao thượng hơn cần phải làm hoặc sự tích lũy thêm (các việc) đã làm. Vậy ta nên thực hiện việc phục vụ gì cho hội chúng?” Bạch ngài, rồi điều này đã khởi đến cho con: “Hay là ta nên phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng?” Bạch ngài, con muốn phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.

– Này Dabba, tốt lắm, tốt lắm! Chính vì điều ấy ngươi hãy phân bố chỗ cư ngụ và sắp xếp các bữa ăn cho hội chúng.

– Bạch ngài, xin vâng. Đại đức Dabba Mallaputta đã đáp lại đức Thế Tôn.

[542] Sau đó, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã thuyết Pháp thoại rồi bảo các vị tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, chính vì điều ấy hội chúng hãy chỉ định Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Và này các tỳ khưu, nên chỉ định như vầy: Trước hết, Dabba cần được yêu cầu. Sau khi yêu cầu, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Hội chúng chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Đại đức nào đồng ý việc chỉ định đại đức Dabba Mallaputta là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Đại đức Dabba Mallaputta đã được hội chúng chỉ định là vị phân bố chỗ trú ngụ và là vị sắp xếp các bữa ăn. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[543] Và khi đã được chỉ định, đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu có cùng sở hành. Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên về Kinh (nghĩ rằng): “Các vị sẽ tụng đọc Kinh với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu rành rẽ về Luật (nghĩ rằng): “Các vị sẽ xác định về Luật với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên giảng Pháp (nghĩ rằng): “Các vị sẽ thảo luận về Pháp với nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên thiền định (nghĩ rằng): “Các vị sẽ không quấy rầy lẫn nhau.” Vị ấy phân bố chỗ trú ngụ chung một khu vực cho các tỳ khưu chuyên nói chuyện thế tục, sinh hoạt có nhiều sự năng động về thân (nghĩ rằng): “Các đại đức này cũng sẽ yên ổn với thú vui ấy.” Còn các tỳ khưu đi đến vào buổi tối, vị ấy nhập thiền đề mục ánh sáng và phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy bằng chính ánh sáng ấy. Cho nên, các tỳ khưu cố ý đi đến vào buổi tối (nghĩ rằng): “Chúng ta sẽ chứng kiến sự kỳ diệu về thần thông của đại đức Dabba Mallaputta.” Sau khi đi đến gặp đại đức Dabba Mallaputta, các vị ấy nói như vầy:

– Này đại đức Dabba, hãy phân bố chỗ trú ngụ cho chúng tôi.

Đại đức Dabba Mallaputta nói với các vị ấy như vầy:

– Các đại đức thích chỗ nào? Tôi sẽ phân bố chỗ nào?

Các vị ấy cố ý đề cập các chỗ ở xa xôi:

– Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở khe núi Kẻ Cướp. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở sườn núi Isigili, chỗ tảng đá Đen. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở sườn núi Vebhāra, hang Sattapaṇṇa (Thất Diệp). Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở Sītavana (Hàn Lâm), động Sappasoṇḍika. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Gomaṭa. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Tiṇḍuka. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở hẽm núi Kapota. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở khu vườn Tapoda. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở vườn xoài của Jīvaka. Này đại đức Dabba, hãy phân bố cho chúng tôi chỗ trú ngụ ở Maddakucchi, nơi vườn nai.

Đối với các vị ấy, đại đức Dabba Mallaputta đã nhập thiền đề mục ánh sáng và đi ở phía trước với ngón tay được thắp sáng. Chính nhờ ánh sáng ấy, các vị ấy đi theo sát ở phía sau đại đức Dabba Mallaputta. Đại đức Dabba Mallaputta phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy như vầy:

– Đây là giường, đây là ghế, đây là nệm, đây là gối, đây là chỗ tiêu, đây là chỗ tiểu, đây là nước uống, đây là nước rửa, đây là gậy chống, đây là qui định của hội chúng: “Giờ này có thể đi vào. Giờ này có thể đi ra.”

Sau khi đã phân bố chỗ trú ngụ cho các vị ấy như thế, đại đức Daba Mallaputta quay trở về lại Veḷuvana.

[544] Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka[8] chỉ là các vị mới tu và phước báu ít ỏi. Các vị ấy thường nhận được những chỗ trú ngụ kém thuộc về hội chúng và những bữa ăn tồi. Vào lúc bấy giờ, dân chúng ở Rājagaha mong muốn cúng dường đến các tỳ khưu trưởng lão thức ăn được chuẩn bị hoàn hảo gồm có bơ lỏng, dầu ăn, phần ăn ngon, và thường dâng đến các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua. Các vị ấy khi đi thọ thực về sau bữa ăn thường hỏi các tỳ khưu trưởng lão rằng:

– Này các đại đức, trong nhà ăn các vị đã có thức gì? Các vị đã không có thức gì?

Một số trưởng lão trả lời như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi có bơ lỏng, có dầu ăn, có phần ăn ngon.

Các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka nói như vầy:

– Này các đại đức, chúng tôi đã không được gì cả, chỉ là vật bình thường theo khả năng gồm có cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.

[545] Vào lúc bấy giờ, có vị gia chủ là người có bữa ăn ngon thường cúng dường đến hội chúng bữa ăn gồm bốn phần là bữa ăn thường lệ. Vị ấy cùng vợ và các con thường hiện diện và phục vụ ở nhà ăn. Họ dâng các vị này cơm, dâng các vị kia canh, dâng các vị nọ dầu ăn, và dâng các vị khác phần ăn ngon.

Vào lúc bấy giờ, bữa ăn vào ngày hôm sau của vị gia chủ có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Hôm ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện bởi công việc cần làm nào đó. Vị ấy đã đi đến đại đức Dabba Mallaputta, sau khi đến đã đảnh lễ đại đức Dabba Mallaputta rồi ngồi xuống ở một bên. Đại đức Dabba Mallaputta đã chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi cho vị gia chủ có bữa ăn ngon đang ngồi một bên bằng bài Pháp thoại. Sau đó, khi đã được đại đức Dabba Mallaputta chỉ dạy, thức tỉnh, khuyến khích, và tạo niềm phấn khởi bằng bài Pháp thoại, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã nói với đại đức Dabba Mallaputta điều này:

– Thưa ngài, bữa ăn vào ngày mai ở nhà chúng tôi đã được sắp xếp cho vị nào?

– Này gia chủ, bữa ăn vào ngày mai ở nhà gia chủ đã được sắp xếp cho các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka.

Khi ấy, vị gia chủ có bữa ăn ngon đã không được hài lòng (nghĩ rằng): “Tại sao các tỳ khưu tồi lại thọ thực ở nhà của chúng ta?” rồi đã đi về nhà và dặn dò người tớ gái rằng:

– Này con, hãy xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho cho các vị đến thọ thực vào ngày mai và dâng cho họ cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.

– Thưa chủ nhân, xin vâng. Người tớ gái ấy đã đáp lại vị gia chủ có bữa ăn ngon.

Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, hôm qua bữa ăn của vị gia chủ là người có bữa ăn ngon đã được sắp xếp cho chúng ta. Vào ngày mai, vị gia chủ có bữa ăn ngon cùng vợ và các con sẽ hiện diện và phục vụ chúng ta. Họ sẽ dâng các vị này cơm, sẽ dâng các vị kia canh, sẽ dâng các vị nọ dầu ăn, và sẽ dâng các vị khác phần ăn ngon.” Do chính tâm vui mừng ấy, ban đêm các vị đã không ngủ được như ý.

Sau đó vào buổi sáng, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã mặc y, cầm y bát, đi đến nhà của vị gia chủ có bữa ăn ngon. Cô tớ gái ấy đã nhìn thấy các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka từ đàng xa đang đi lại, sau khi thấy đã xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho và nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:

­- Thưa các ngài, xin hãy ngồi.

Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka khởi ý điều này: “Chắn hẳn đến giờ này bữa ăn vẫn chưa hoàn tất nên chúng ta mới được cho ngồi ở nhà kho như thế này!” Sau đó, cô tớ gái ấy đã trở lại với cơm tấm và món thứ hai là cháo chua (nói rằng):

– Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.

– Này chị gái, chúng tôi là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ.

– Tôi biết các ngài đại đức là các vị thọ nhận bữa ăn thường lệ. Tuy nhiên, chính ngày hôm qua tôi đã được gia chủ dặn dò rằng: “Hãy xếp đặt chỗ ngồi ở nhà kho cho các vị đến thọ thực vào ngày mai và dâng cho họ cơm tấm và món thứ hai là cháo chua.” Thưa các ngài, xin hãy thọ thực.

Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka (bàn bạc rằng): “Này các đại đức, hôm qua vị gia chủ có bữa ăn ngon đã đi đến tu viện gặp Dabba Mallaputta. Chắc chắn rằng chúng ta đã bị Dabba Mallaputta ly gián với vị gia chủ!” Chính vì tâm bực bội ấy, các vị ấy đã không thọ thực được như ý. Sau đó, khi trở về từ chỗ thọ thực sau bữa ăn, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến tu viện, bỏ rơi y bát, rồi ngồi xuống ôm đầu gối bằng y hai lớp (saṅghāṭipallatthikāya) ở phía bên ngoài cổng ra vào của tu viện, im lặng, xấu hổ, rút vai lại, mặt cúi xuống, trầm ngâm, không nói năng.

[546] Khi ấy, tỳ khưu ni Mettiyā đã đi đến gặp các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka, sau khi đến đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:

– Tôi xin chào các ngài đại đức.

Khi được nói như thế, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.

Đến lần thứ nhì, …(như trên)…

Đến lần thứ ba, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka điều này:

– Tôi xin chào các ngài đại đức.

Đến lần thứ ba, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã không đáp lại.

– Có phải tôi làm phật lòng các ngài đại đức? Tại sao các ngài đại đức không nói chuyện với tôi?

– Này cô ni, bởi vì cô vẫn dửng dưng như thế trong khi chúng tôi bị Dabba Mallaputta làm tổn hại.

– Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì?

– Này cô ni, nếu cô chịu làm thì ngay trong ngày hôm nay đức Thế Tôn có thể trục xuất Dabba Mallaputta.

– Thưa các ngài đại đức, tôi làm được điều gì? Tôi có thể làm điều gì?

– Này cô ni, cô hãy đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến hãy nói với đức Thế Tôn như vầy: “Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.”

– Thưa các ngài đại đức, xin vâng.

Rồi tỳ khưu ni Mettiyā nghe theo các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi đứng ở một bên. Khi đã đứng một bên, tỳ khưu ni Mettiyā đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, điều này là không đúng đắn, không hợp lý. Bạch ngài, chính ở quốc độ nào không có sự sợ hãi, không có tai họa, không có sầu khổ thì chính ở quốc độ ấy có sự sợ hãi, có tai họa, và có sầu khổ. Từ nơi nào gió lặng đi thì từ nơi ấy có bão tố. Con nghĩ rằng nước đã bùng cháy lên rồi; con đã bị ô nhục bởi ngài đại đức Dabba Mallaputta.

[547] Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:

– Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa nói không?

– Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.

Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn …(như trên)…

Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:

– Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã làm việc như thế, giống như điều tỳ khưu ni này vừa nói không?

– Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.

– Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: “Có làm;” nếu ngươi không làm, hãy nói: “Không làm.”

– Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.

Khi ấy, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, chính vì việc ấy các ngươi hãy trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā và hãy tra hỏi các tỳ khưu này.

Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.

Sau đó, các tỳ khưu ấy đã trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā. Khi ấy, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka đã nói với các tỳ khưu ấy điều này:

– Này các đại đức, chớ có trục xuất tỳ khưu ni Mettiyā, cô ta không làm sai điều gì.Vì chúng tôi nổi giận, không hài lòng, có ý định loại trừ nên xúi giục cô ta thôi.

– Này các đại đức, có phải các vị bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika (bất cộng trụ) không có nguyên cớ?

– Này các đại đức, đúng vậy.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka rằng:

– Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika không có nguyên cớ vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu (khác) rồi bôi nhọ về tội pārājika không có nguyên cớ (nghĩ rằng): ‘Chắc là ta có thể loại vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi và sự tranh tụng ấy thật sự không có nguyên cớ, vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm (cũng) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[548] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Vị tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.

Xấu xa, sân hận: bị nổi giận, không được hài lòng, không được thỏa mãn, có tâm giận dữ, sanh khởi lòng cay cú.

Bị bất bình: là bị bất bình do sự nổi giận ấy, do sự sân hận ấy, do sự không được hài lòng ấy, do sự không được thỏa mãn ấy.

Không có nguyên cớ nghĩa là không được thấy, không được nghe, không bị nghi ngờ.

Về tội pārājika: về bất cứ điều nào thuộc về bốn điều.

Bôi nhọ: hoặc là buộc tội, hoặc là bảo người buộc tội.

Chắc là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này: Ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp sa-môn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.

[549] Sau đó vào lúc khác: đã bôi nhọ trong giây phút nào thì trải qua vào giây phút ấy, vào khoảng thời gian ấy, vào thời điểm ấy.

Được hỏi: đã bôi nhọ với sự việc nào thì được hỏi về sự việc ấy.

Không được hỏi: không được bất cứ ai đề cập đến.

[550] Sự tranh tụng nghĩa là có bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.

[551] Và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm: Tôi đã nói điều rỗng không, tôi đã nói điều dối trá, tôi đã nói điều không thật, tôi đã nói điều tôi không biết.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[552] Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[553] Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy, đã nghe, và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe, đã nghi ngờ, và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[554] Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[555] Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã thấy và đã nghe …(như trên)… Ta đã thấy và đã nghi ngờ …(như trên)… Ta đã thấy, đã nghe, và đã nghi ngờ ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…

Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghe và đã nghi ngờ …(như trên)… Ta đã nghe và đã thấy …(như trên)… Ta đã nghe, đã nghi ngờ, và đã thấy ngươi phạm tội pārājika, …(như trên)…

Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu buộc tội vị ấy rằng: “Ta đã nghi ngờ và đã thấy …(như trên)… Ta đã nghi ngờ và đã nghe …(như trên)… Ta đã nghi ngờ, đã thấy, và đã nghe ngươi phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[556] Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[557] Đối với vị đã không thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe …(như trên)… Ngươi đã bị thấy và đã bị nghi ngờ …(như trên)… Ngươi đã bị thấy, đã bị nghe, và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ …(như trên)… Ngươi đã bị nghe và đã bị thấy …(như trên)… Ngươi đã bị nghe, đã bị nghi ngờ, và đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã không nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy …(như trên)… Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe …(như trên)… Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[558] Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, …(như trên)… Ngươi đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, …(như trên)… Ngươi đã bị nghe và đã bị nghi ngờ là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã nghe rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ …(như trên)…” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy …(như trên)…” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Đối với vị đã nghi ngờ rằng: “Vị (tỳ khưu ấy) đã phạm tội pārājika,” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghe …(như trên)…” nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị thấy và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, …(như trên)…” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[559] Đối với vị đã thấy vị (tỳ khưu) đang phạm tội pārājika, (nhưng) hoài nghi về việc đã thấy, không tin việc đã thấy, không nhớ việc đã thấy, quên đi việc đã thấy; …(như trên)… (nhưng) hoài nghi về việc đã nghe, không tin việc đã nghe, không nhớ việc đã nghe, quên đi việc đã nghe; …(như trên)… (nhưng) hoài nghi về việc đã nghi ngờ, không tin việc đã nghi ngờ, không nhớ việc đã nghi ngờ, quên đi việc đã nghi ngờ, nếu cho người buộc tội vị ấy rằng: “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị thấy …(như trên)…” “Ngươi đã bị nghi ngờ và đã bị nghe …(như trên)…” “Ngươi đã bị nghi ngờ, đã bị thấy, và đã bị nghe là đã phạm tội pārājika, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng với ngươi nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[560] Sự ghi nhận là trong sạch trong khi là không trong sạch.

Sự ghi nhận là không trong sạch trong khi là trong sạch.

Sự ghi nhận là không trong sạch trong khi là không trong sạch.

Sự ghi nhận là trong sạch trong khi là trong sạch.

[561] Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc[9] và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

[562] Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội.

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

[563] Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì vô tội.

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị không trong sạch là người đã vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là không trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

[564] Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định loại trừ, rồi nói lời (buộc tội) thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi chưa thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc và tội dukkaṭa (tác ác).

Vị trong sạch là người không vi phạm bất cứ tội pārājika nào. Nếu (nguyên cáo) có sự ghi nhận vị ấy là trong sạch, khi đã thỉnh ý (để buộc tội), có ý định lăng mạ, rồi nói lời (mắng nhiếc) thì phạm tội nói lời mắng nhiếc.

[565] Vị có sự ghi nhận là không trong sạch đối với vị trong sạch, vị có sự ghi nhận là không trong sạch đối với vị không trong sạch, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ tám.

*******

[1] Maṇikaṇṭha nghĩa là “cổ có ngọc ma-ni.” Ngài Buddhaghosa giải thích rằng: “Nghe nói con rồng chúa ấy khi đi có trang điểm ở cổ một viên ngọc ma-ni lớn vĩ đại (có thể) ban cho tất cả các điều mong ước; vì thế được biết đến với tên ‘Maṇikaṇṭha,’”

[2] Sugatavidatthi (gang tay của đức Thiện Thệ): được ngài Buddhaghosa giải thích bằng ba lần gang tay của người bậc trung. Cũng vậy, HT Bửu Chơn ghi rằng 1 gang của người bậc trung là 0,25 mét và tính ra diện tích là 9,00 mét x 5,20 mét (Tứ Thanh Tịnh Giới, trang 33, ở phần chú thích). Trong tài liệu Vinayamukha, ngài Mahāsamaṇa Chao đề nghị rằng sugatavidatthi, tức là gang tay của đức Thiện Thệ, nên được tính theo kích thước trung bình là 0,25 mét; như vậy diện tích sẽ là 3,00 mét x 1,75 mét. Vì đây là “kuṭi” nên chúng tôi nghĩ rằng kích thước thứ hai hợp lý hơn.

[3] Ngoại trừ nhà ở cho mục đích trú ngụ của vị ấy (thì phạm tội). Nếu vị ấy cho xây dựng bảo rằng: “Sẽ là nhà làm lễ Uposatha, nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa khác nữa,” trong mọi trường hợp thì vô tội. Tuy nhiên, nếu vị ấy nghĩ rằng: “Sẽ là nhà làm lễ Uposatha và ta sẽ trú ngụ,” “Sẽ là nhà tắm hơi, nhà ăn, nhà đốt lửa và ta sẽ trú ngụ,” trong khi được cho làm thì vị ấy phạm tội (theo lời giải thích của ngài Buddhaghosa).

[4] Theo ngài Buddhaghosa, tu viện này được cho xây dựng bởi người phú hộ tên Ghosita.

[5] Channa: (Xa-nặc của Hán tạng) là người hầu cận của thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta) về sau trở thành đức Phật.

[6] Chỉ có giác quan “thân” (kāyindriyaṃ) để nhận biết sự xúc chạm. (theo ngài Buddhaghosa).

[7] Ngài Dabba là con trai của vua xứ Malla (theo ngài Buddhaghosa).

[8] Theo ngài Buddhaghosa, hai vị này là các vị đứng đầu trong nhóm Lục Sư. Thứ tự được ngài trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở thành Sāvatthi, hai vị Mettiya và Bhummajaka ở thành Rājagaha, hai vị Assaji và Punabbasuka ở vùng núi Kīṭā.

[9] Là tội pācittiya (ưng đối trị) thứ nhì.

-ooOoo-

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ CHÍN

[566] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Veḷuvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka trong lúc đang đi xuống từ núi Gijjhakūṭa đã nhìn thấy con dê đực đang tình tự với con dê cái, sau khi nhìn thấy đã nói như vầy:

– Này các đại đức, giờ chúng ta đặt tên con dê đực này là Dabba Mallaputta và đặt tên con dê cái này là tỳ khưu ni Mettiyā, rồi chúng ta sẽ phát biểu như vầy: “Này các đại đức, trước đây chúng tôi nói về Dabba Mallaputta do đã được nghe; bây giờ chúng tôi đã thấy được đương sự đang tình tự với tỳ khưu ni Mettiyā.” Các vị ấy đã đặt tên con dê đực ấy là Dabba Mallaputta và đã đặt tên con dê cái ấy là tỳ khưu ni Mettiyā. Các vị ấy đã kể lại cho các tỳ khưu rằng:

– Này các đại đức, trước đây chúng tôi nói về Dabba Mallaputta do đã được nghe; bây giờ chúng tôi đã thấy được đương sự đang tình tự với tỳ khưu ni Mettiyā.

Các tỳ khưu đã nói như vầy:

– Này các đại đức, chớ có nói như thế. Đại đức Dabba Mallaputta sẽ không làm như thế.

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:

– Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như điều các tỳ khưu này vừa nói không?

– Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.

Đến lần thứ nhì, đức Thế Tôn …(như trên)…

Đến lần thứ ba, đức Thế Tôn đã hỏi đại đức Dabba Mallaputta rằng:

– Này Dabba, ngươi có nhớ ngươi là kẻ đã hành động giống như điều các tỳ khưu này vừa nói không?

– Bạch ngài, con như thế nào đức Thế Tôn biết rõ mà.

– Này Dabba, các vị (dòng dõi) Dabba không phủ nhận như thế. Nếu ngươi có làm, hãy nói: “Có làm;” nếu ngươi không làm, hãy nói: “Không làm.”

– Bạch ngài, từ khi con được sanh ra, con không bao giờ thấy mình là kẻ tầm cầu việc đôi lứa ngay cả trong lúc ngủ mơ, huống gì là tỉnh thức.

Sau đó, đức Thế Tôn đã bảo các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, như vậy thì các ngươi hãy tra hỏi các tỳ khưu này.

Nói xong điều ấy, đức Thế Tôn đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào trú xá.

Sau đó, các tỳ khưu ấy đã tra hỏi các vị tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka. Trong khi bị tra hỏi bởi các tỳ khưu ấy, các vị ấy đã kể lại sự việc ấy cho các tỳ khưu.

– Này các đại đức, có phải các vị nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika?

– Này các đại đức, đúng vậy.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các tỳ khưu nhóm Mettiya và Bhummajaka lại nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ đại đức Dabba Mallaputta về tội pārājika?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. …(như trên)…

– Này các tỳ khưu, nghe nói các ngươi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này những kẻ rồ dại, vì sao các ngươi lại nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt rồi bôi nhọ Dabba Mallaputta về tội pārājika vậy? Này những kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào xấu xa, sân hận, bất bình vị tỳ khưu (khác) rồi nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt và bôi nhọ về tội pārājika (nghĩ rằng): ‘Chắc là ta có thể loại vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này.’ Sau đó vào lúc khác, dầu được hỏi hay không được hỏi, và cuộc tranh tụng ấy là có quan hệ khác biệt hẳn, sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được nắm lấy, và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm (cũng) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[567] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Vị tỳ khưu: là vị tỳ khưu khác.

Xấu xa, sân hận: bị nổi giận, không được hài lòng, không được thỏa mãn, có tâm giận dữ, sanh khởi lòng cay cú.

Bất bình: là bị bất bình do sự nổi giận ấy, do sự sân hận ấy, do sự không được hài lòng ấy, do sự không được thỏa mãn ấy.

[568] Thuộc về cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt: hoặc là có quan hệ khác biệt về tội hoặc là có quan hệ khác biệt về tranh tụng.

[569] Thế nào là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt (aññabhāgiyaṃ) đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng liên quan đến tội là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách, đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội. Như thế là cuộc tranh tụng có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng.

[570] Thế nào là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ (tabbhāgiyaṃ) đối với cuộc tranh tụng? Cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tranh cãi. Cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến khiển trách. Cuộc tranh tụng liên quan đến tội có thể là có cùng quan hệ, có thể là có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.

Thế nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội pārājika về việc đôi lứa là có quan hệ khác biệt đối với tội pārājika về trộm cắp, đối với tội pārājika về giết người, đối với tội pārājika về pháp thượng nhân. Tội pārājika về trộm cắp là có quan hệ khác biệt đối với tội pārājika về giết người, đối với tội pārājika về pháp thượng nhân, đối với tội pārājika về việc đôi lứa. Tội pārājika về giết người là có quan hệ khác biệt đối với tội pārājika về pháp thượng nhân, đối với tội pārājika về việc đôi lứa, đối với tội pārājika về trộm cắp. Tội pārājika về pháp thượng nhân là có quan hệ khác biệt đối với tội pārājika về việc đôi lứa, đối với tội pārājika về trộm cắp, đối với tội pārājika về giết người. Như thế là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có quan hệ khác biệt đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.

Thế nào là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội? Tội pārājika về việc đôi lứa là có cùng quan hệ đối với tội pārājika về việc đôi lứa. Tội pārājika về trộm cắp là có cùng quan hệ đối với tội pārājika về trộm cắp. Tội pārājika về giết người là có cùng quan hệ đối với tội pārājika về giết người. Tội pārājika về pháp thượng nhân là có cùng quan hệ đối với tội pārājika về pháp thượng nhân. Như thế là cuộc tranh tụng liên quan đến tội có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến tội.

Cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ là có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.

Như thế là cuộc tranh tụng có cùng quan hệ đối với cuộc tranh tụng.

[571] Nắm lấy sự kiện nhỏ nhặt nào đó: điều nhỏ nhặt nghĩa là có mười điều nhỏ nhặt: điều nhỏ nhặt về sự xuất thân, điều nhỏ nhặt về tên gọi, điều nhỏ nhặt về dòng họ, điều nhỏ nhặt về đặc điểm, điều nhỏ nhặt về tội vi phạm, điều nhỏ nhặt về bình bát, điều nhỏ nhặt về y phục, điều nhỏ nhặt về thầy tế độ, điều nhỏ nhặt về thầy dạy học, điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ.

[572] Điều nhỏ nhặt về sự xuất thân nghĩa là có vị (xuất thân) sát-đế-lỵ (khattiya) được thấy đang phạm tội pārājika, rồi khi nhìn thấy vị (xuất thân) sát-đế-lỵ khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) sát-đế-lỵ phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Có vị (xuất thân) bà-la-môn được thấy …(như trên)… Có vị (xuất thân) thương buôn được thấy …(như trên)… Có vị (xuất thân) hạng cùng đinh được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị (xuất thân) hạng cùng đinh khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (xuất thân) cùng đinh phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[573] Điều nhỏ nhặt về tên gọi nghĩa là có vị (tên) Buddharakkhita được thấy …(như trên)… Có vị (tên) Dhammarakkhita được thấy …(như trên)… Có vị (tên) Saṅgharakkhita được thấy đang phạm tội pārājika, sau khi nhìn thấy vị (tên) Saṅgharakkhita khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (tên) Saṅgharakkhita phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[574] Điều nhỏ nhặt về dòng họ nghĩa là có vị (họ) Gotama được thấy …(như trên)… Có vị (họ) Moggallāna được thấy …(như trên)… Có vị (họ) Kaccāyana được thấy …(như trên)… Có vị (họ) Vāsiṭṭha được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị (họ) Vāsiṭṭha khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị (họ) Vāsiṭṭha phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[575] Điều nhỏ nhặt về đặc điểm nghĩa là có vị cao được thấy …(như trên)… Có vị lùn được thấy …(như trên)… Có vị đen được thấy …(như trên)… Có vị trắng được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị trắng khác lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị trắng phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[576] Điều nhỏ nhặt về tội vi phạm nghĩa là có vị đang vi phạm tội nhẹ được thấy rồi buộc tội vị ấy về tội pārājika rằng: “Ngươi phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[577] Điều nhỏ nhặt về bình bát nghĩa là có vị mang bình bát đồng được thấy …(như trên)… Có vị mang bình bát đất được thấy …(như trên)… Có vị mang bình bát tráng men (sāṭakapatta) được thấy …(như trên)… Có vị mang bình bát đất loại bình thường (sumbhakapatta) được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị khác (cũng) mang bình bát đất loại bình thường lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mang bình bát đất loại bình thường phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[578] Điều nhỏ nhặt về y phục nghĩa là có vị mặc y paṃsukūla được thấy …(như trên)… Có vị mặc y của gia chủ được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị khác (cũng) mặc y của gia chủ lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị mặc y của gia chủ phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[579] Điều nhỏ nhặt về thầy tế độ nghĩa là có người đệ tử của vị tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy người đệ tử khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là người đệ tử của vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[580] Điều nhỏ nhặt về thầy dạy học nghĩa là có người học trò của vị tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy người học trò khác của vị tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là người học trò của vị tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[581] Điều nhỏ nhặt về chỗ trú ngụ nghĩa là có vị ngụ ở chỗ trú ngụ tên (như vầy) được thấy đang phạm tội pārājika rồi khi nhìn thấy vị khác (cũng) ngụ ở chỗ trú ngụ tên (như vầy) lại buộc tội rằng: “Ngươi là vị ngụ ở chỗ trú ngụ tên (như vầy) phạm tội pārājika đã bị ta thấy, ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa” thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[582] Về tội pārājika: về bất cứ điều nào thuộc về bốn điều.

Bôi nhọ: hoặc là buộc tội, hoặc là cho người buộc tội.

Chắc là ta có thể loại trừ vị ấy ra khỏi Phạm hạnh này: Ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi trạng thái tỳ khưu, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi pháp sa-môn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi giới uẩn, ta có thể loại trừ (vị ấy) ra khỏi đức tính khắc khổ.

[583] Sau đó vào lúc khác: đã bôi nhọ trong giây phút nào thì trải qua vào giây phút ấy, vào khoảng thời gian ấy, vào thời điểm ấy.

Được hỏi: đã bôi nhọ với sự việc nào thì được hỏi về sự việc ấy.

Không được hỏi: không được bất cứ ai đề cập đến.

[584] Sự tranh tụng nghĩa là có bốn sự tranh tụng: Sự tranh tụng liên quan đến tranh cãi, sự tranh tụng liên quan đến khiển trách, sự tranh tụng liên quan đến tội, sự tranh tụng liên quan đến nhiệm vụ.

[585] Sự kiện nhỏ nhặt nào đó đã được nắm lấy: điều nhỏ nhặt nào đó trong mười điều nhỏ nhặt ấy đã được nắm lấy.

[586] Và vị tỳ khưu (dầu có) thú nhận lỗi lầm: Tôi đã nói điều rỗng không, tôi đã nói điều dối trá, tôi đã nói điều không thật, tôi đã nói điều tôi không biết.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[587] Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya (trọng tội) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[588] Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya (trọng tội) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa (tăng tàng) trên (cơ sở) tội thullaccaya, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn…(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội pācittiya (ưng đối trị) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội dukkaṭa (tác ác) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) đã được thấy …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội dubbhāsita trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội pācittiya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội dukkaṭa trên (cơ sở) tội dubbhāsita, nếu buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Sau khi đã thực hiện theo mỗi một nhân tố, sự xoay vòng nên được thành lập.

[589] Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya (trọng tội) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa. …(như trên)… và có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu) trên (cơ sở) tội saṅghādisesa, nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, …(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[590] Vị tỳ khưu đang phạm tội thullaccaya (trọng tội) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pācittiya (ưng đối trị) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dukkaṭa (tác ác) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dubbhāsita (ác khẩu) trên (cơ sở) tội thullaccaya. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội thullaccaya, nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn…(như trên)…, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

Vị tỳ khưu đang phạm tội pācittiya (ưng đối trị) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội pāṭidesanīya (ưng phát lộ) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội dukkaṭa (tác ác) đã được thấy …(như trên)… Vị tỳ khưu đang phạm tội dubbhāsita (ác khẩu) đã được thấy. (Nguyên cáo) có sự ghi nhận là tội dubbhāsita trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội saṅghādisesa trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội thullaccaya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pācittiya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội pāṭidesanīya trên (cơ sở) tội dubbhāsita. …(như trên)… có sự ghi nhận là tội dukkaṭa trên (cơ sở) tội dubbhāsita, nếu cho người buộc tội vị ấy với tội pārājika (nói rằng): “Ngươi không phải là sa-môn, ngươi không phải là Thích tử, với ngươi không còn lễ Uposatha, lễ Pavāraṇā, hay là hành sự của hội chúng nữa.” Như vậy là có quan hệ khác biệt về tội và điều nhỏ nhặt đã được nắm lấy; (nguyên cáo) phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng) theo từng lời nói.

[591] Vị buộc tội hoặc bảo (người khác) buộc tội theo như sự nhận biết, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ chín.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI:

[592] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta đã đi đến gặp Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto; đến rồi đã nói với Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto điều này:

– Này các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo.

Khi được nói như thế, Kokālika đã nói với Devadatta điều này:

– Này đại đức, Sa-môn Gotama thật sự có đại thần lực, có đại oai lực. Làm thế nào chúng ta sẽ tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo được?

– Này các đại đức, hãy đi. Chúng ta sẽ đi đến gặp Sa-môn Gotama và yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.” Sa-môn Gotama sẽ không cho phép năm sự việc này. Và chúng ta đây sẽ công bố cho dân chúng biết về năm sự việc này.

– Này đại đức, với năm sự việc này thì có thể tiến hành việc chia rẽ hội chúng của Sa-môn Gotama, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Này đại đức, bởi vì dân chúng có niềm tin với khổ hạnh.

[593] Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi đến gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Devadatta đã nói với đức Thế Tôn điều này:

– Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.

– Này Devadatta, thôi đi. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị sống ở rừng; vị nào muốn thì cứ cư ngụ ở trong làng. Vị nào muốn thì hãy trở thành vị khất thực; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ việc thỉnh mời. Vị nào muốn thì hãy là vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ; vị nào muốn thì cứ hoan hỷ y của gia chủ. Này Devadatta, ta cho phép chỗ trú ngụ là gốc cây trong tám tháng. Cá thịt là thanh tịnh với ba điều kiện là: “Không thấy, không nghe, và không nghi ngờ.”

[594] Khi ấy, Devadatta (biết rằng): “Đức Thế Tôn không cho phép năm sự việc này,” nên mừng rỡ, phấn chấn cùng phe cánh từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

Sau đó, Devadatta cùng phe cánh đã đi vào thành Rājagaha công bố cho dân chúng biết về năm sự việc:

– Này các đạo hữu, chúng tôi đã đi đến gặp Sa-môn Gotama và đã yêu cầu năm sự việc: “Bạch ngài, đức Thế Tôn là người khen ngợi sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, đây là năm sự việc đưa đến sự ít ham muốn, sự tự biết đủ, sự đoạn trừ, sự từ bỏ, sự hoan hỷ, sự giảm thiểu, sự ra sức nỗ lực bằng nhiều phương thức. Bạch ngài, lành thay các tỳ khưu nên là các vị sống ở rừng cho đến trọn đời; vị nào cư ngụ trong làng thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị khất thực; vị nào hoan hỷ sự thỉnh mời thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị mặc y (may bằng) vải bị quăng bỏ, vị nào hoan hỷ y của gia chủ thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời là các vị sống ở gốc cây; vị nào đi đến mái che thì vị ấy phạm tội. Cho đến trọn đời không ăn cá thịt; vị nào ăn cá thịt thì vị ấy phạm tội.” Sa-môn Gotama không cho phép năm sự việc này. Còn chúng tôi sẽ thọ trì và thực hành năm sự việc này.

[595] Ở nơi ấy, những người nào không có đức tin, không mộ đạo, kém sáng suốt, những người ấy đã nói như vầy:

– Các sa-môn Thích tử này đúng là có sự từ bỏ, có sở hành đoạn trừ; còn Sa-môn Gotama là kẻ xa hoa nên nghĩ đến việc xa hoa.

Còn những người nào có đức tin, mộ đạo, sáng suốt, những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Tại sao Devadatta lại ra sức việc chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?

Các tỳ khưu đã nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng của đức Thế Tôn, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi Devadatta rằng:

– Này Devadatta, nghe nói ngươi ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)… Này kẻ rồ dại, vì sao ngươi lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy? Này kẻ rồ dại, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Vị tỳ khưu nào ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc [1] thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[596] Vị nào: là bất cứ vị nào …(như trên)…

Tỳ khưu: …(như trên)… Vị này là “vị tỳ khưu” được đề cập trong ý nghĩa này.

Hội chúng hợp nhất nghĩa là có sự đồng cộng trú được thiết lập trong cùng ranh giới (sīmā).

Ra sức chia rẽ: vị (nghĩ rằng): “Làm thế nào để những người này trở thành khác biệt, trở thành tách biệt, trở thành phe nhóm?” rồi tầm cầu phe cánh, kết hợp nhóm bọn.

Hoặc là cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ: là mười tám sự việc làm chia rẽ.[2]

Nắm lấy: là chọn lấy.

Loan truyền: là khơi lên.

Chấp giữ: là không chịu từ bỏ.

[597] Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu chia rẽ hội chúng.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu ấy nên được kéo[3] đến giữa hội chúng rồi nên được nói rằng: “Đại đức chớ có ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất, hoặc nắm lấy cuộc tranh tụng đưa đến chia rẽ, rồi loan truyền, chấp giữ. Đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[598] Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: …(như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) ra sức chia rẽ hội chúng hợp nhất. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[599] Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya (trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).[4] Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[600] Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[601] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên,[5] vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI MỘT:

[602] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Rājagaha, Vel,uvana, nơi nuôi dưỡng các con sóc. Vào lúc bấy giờ, Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo. Các tỳ khưu đã nói như vầy:

– Devadatta là người nói sai Pháp, Devadatta là người nói sai Luật. Vì sao Devadatta lại ra sức chia rẽ hội chúng, tức là việc phân chia quyền lãnh đạo vậy?

Khi được nói như thế, Kokālika, Kaṭamorakatissaka con trai của Khaṇḍadevī, và Samuddadatto đã nói với các vị tỳ khưu ấy như vầy:

– Các đại đức chớ có nói như thế. Devadatta là người nói đúng Pháp. Devadatta là người nói đúng Luật. Devadatta nắm được và phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỳ khưu lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, nghe nói trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, các tỳ khưu lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, . .(như trên)… Này các tỳ khưu, vì sao trong khi Devadatta ra sức chia rẽ hội chúng, những kẻ rồ dại ấy lại là những kẻ ủng hộ tức là những kẻ tuyên bố ly khai vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Các tỳ khưu là những kẻ ủng hộ của chính vị tỳ khưu ấy tức là những kẻ tuyên bố ly khai dầu là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.’ Các vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà các vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì các vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[603] Của chính vị ấy: là của chính vị tỳ khưu chia rẽ hội chúng.

Các tỳ khưu là: Các vị tỳ khưu khác là.

Những kẻ ủng hộ: (Vị chia rẽ hội chúng) có quan điểm gì, có điều mong mỏi gì, có sự thích ý gì thì các vị ấy cũng có quan điểm ấy, có điều mong mỏi ấy, có sự thích ý ấy.

Những kẻ tuyên bố ly khai: là những vị đứng trong phe, trong nhóm của vị ấy.

Một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị: là một vị, hoặc hai vị, hoặc ba vị, và các vị ấy nói như vầy: “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì về vị tỳ khưu này. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này là người nói đúng Luật. Vị tỳ khưu này nắm được rồi phát biểu về ước muốn và điều thích ý của chúng tôi, vị ấy hiểu và nói cho chúng tôi; hơn nữa điều ấy hợp ý chúng tôi.”

[604] Các vị tỳ khưu ấy: các vị tỳ khưu là những kẻ ủng hộ.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Các vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Các đại đức chớ có nói như thế. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Pháp. Vị tỳ khưu này không phải là người nói đúng Luật. Các đại đức chớ có thích ý về việc chia rẽ hội chúng. Các đại đức hãy hòa nhập cùng hội chúng vì hội chúng hợp nhất, thân thiện, không cãi cọ, chung một nguyên tắc, thì sống được an lạc.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (các vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[605] Các vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Các vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: …(như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) là những kẻ ủng hộ của tỳ khưu tên (như vầy) đang ra sức chia rẽ hội chúng, tức là những kẻ tuyên bố ly khai. Hội chúng nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Các tỳ khưu tên (như vầy) và tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[606] Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya (trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). Đối với các vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực. Hai ba vị nên được nhắc nhở chung (một lượt), không nên nhắc nhở nhiều hơn số lượng đó.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[607] Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, các vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[608] Các vị chưa được nhắc nhở, các vị dứt bỏ, các vị có tâm bị rối loạn, các vị bị thọ khổ hành hạ, các vị bị điên, các vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười một.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI HAI:

[609] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Kosambī, ở tu viện Ghosita. Vào lúc bấy giờ, đại đức Channa hành xử sai nguyên tắc.

Các tỳ khưu đã nói như vầy:

– Này đại đức Channa, chớ có làm điều như vậy. Việc ấy không được phép.

Vị ấy đã nói như vầy:

– Này các đại đức, điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần được dạy bảo? Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng ta, Giáo Pháp là của chúng ta, Giáo Pháp đã được chứng đạt bởi ngài thái tử của chúng ta. Cũng giống như cơn gió mạnh thổi qua thì gom tụ cỏ, cành khô, lá rụng đó đây chung lại thành đống; hoặc cũng giống như dòng sông phát xuất từ ngọn núi thì gom tụ các loại rong rêu chung lại thành đống; tương tợ như thế, các ngươi có tên khác nhau, có họ khác nhau, có dòng dõi khác nhau, có gia tộc khác nhau đã được xuất gia và quy tụ chung lại. Điều gì khiến các ngươi nghĩ là ta cần được dạy bảo? Chính ta mới nên dạy bảo các ngươi. Đức Phật là của chúng ta, Giáo Pháp là của chúng ta, Giáo Pháp đã được chứng đạt bởi ngài thái tử của chúng ta.

Các tỳ khưu ít ham muốn, tự biết đủ, khiêm tốn, có hối hận, ưa thích sự học tập, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, đại đức Channa lại tỏ ra ương ngạnh?

Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi đại đức Channa rằng:

– Này Channa, nghe nói trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này kẻ rồ dại, thật không đúng đắn, . .(như trên)… không nên làm. Này kẻ rồ dại, vì sao trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp, ngươi lại tỏ ra ương ngạnh vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy: “Ngay cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy,[6] trong khi được dạy bảo bởi các tỳ khưu về các điều học thuộc về giới bổn lại tỏ ra ương ngạnh: ‘Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.’ Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.’ Và khi được nói như vậy bởi các tỳ khưu mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[610] Ngay cả vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy: là vị khó dạy, là hội đủ các đức tính làm cho vị ấy trở thành khó dạy, không nhẫn nhịn, không nghiêm chỉnh thọ nhận sự giáo huấn.

Về các điều học thuộc về giới bổn: về các điều học thuộc về giới bổn Pātimokkha.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác.

Đúng theo Pháp nghĩa là điều học nào đã được đức Thế Tôn quy định, điều ấy nghĩa là đúng theo Pháp. Khi được dạy bảo với điều ấy, lại tỏ ra ương ngạnh: “Các đại đức chớ có nói bất cứ điều gì đến tôi dầu là tốt hay là xấu; tôi cũng sẽ không nói bất cứ điều gì đến các đại đức dầu là tốt hay là xấu. Các đại đức hãy kềm chế lại việc đề cập đến tôi.”

[611] Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu có bản tánh khó dạy.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ tỏ ra ương ngạnh, đại đức hãy tỏ ra là người dễ dạy. Đại đức hãy dạy bảo các tỳ khưu đúng theo Pháp, các tỳ khưu cũng sẽ dạy bảo đại đức đúng theo Pháp; bởi vì như vậy hội chúng của đức Thế Tôn ấy được phát triển, tức là với sự dạy bảo lẫn nhau, với sự khích lệ lẫn nhau.” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[612] Vị tỳ khưu ấy nên được nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: …(như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) trong khi được các tỳ khưu dạy bảo đúng theo Pháp lại tỏ ra ương ngạnh. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[613] Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya (trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): …(như trên)… vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[614] Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[615] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười hai.

*******

ĐIỀU SAṄGHĀDISESA (TĂNG TÀNG) THỨ MƯỜI BA:

[616] Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Vào lúc bấy giờ, các vị nhóm Assaji và Punabbasuka[7] thường trú[8] tại vùng Kiṭāgiri (núi Kiṭā) là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách.

[617] Vào lúc bấy giờ, có vị tỳ khưu nọ đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kiṭāgiri. Khi ấy vào buổi sáng, vị tỳ khưu ấy đã mặc y, cầm y bát, và đi vào vùng Kiṭāgiri để khất thực. Vị ấy có phong cách chững chạc, mắt nhìn xuống, với vẻ chăm chú khi đi tới bước lui, lúc nhìn ngắm, khi cử động co duổi. Dân chúng sau khi nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đã nói như vầy:

– Người này là ai mà trông giống như kẻ ngu trong nhóm người ngu, giống như kẻ khờ trong nhóm người khờ, giống như kẻ ngớ ngẩn trong nhóm người ngớ ngẩn vậy? Khi gã đi đến, ai mà chịu bố thí đồ ăn đây? Trong khi các ngài thuộc nhóm Assaji và Punabbasuka của chúng ta thì lịch thiệp, thân thiện, nói năng hòa nhã, luôn cười xã giao, luôn mời mọc đến thăm viếng, không có hợm hĩnh, khuôn mặt lại rạng rỡ, luôn mở đầu câu chuyện; chính vì thế, đồ ăn khất thực nên được cúng dường đến các ngài.

Có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy vị tỳ khưu ấy đang đi khất thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần vị tỳ khưu ấy, sau khi đến đã đảnh lễ vị tỳ khưu ấy và đã nói điều này:

– Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?

– Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.

– Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.

Khi ấy, nam cư sĩ ấy đã dẫn vị tỳ khưu ấy về nhà, dâng thức ăn, và đã nói điều này:

– Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?

– Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.

– Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, …(như trên)… Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kiṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể tồn tại.”

– Này đạo hữu, được rồi.

Vị tỳ khưu ấy sau khi lắng nghe nam cư sĩ ấy đã ra đi về hướng thành Sāvatthi. Tuần tự, vị ấy đã đến thành Sāvatthi, Jetavana, tu viện của ông Anāthapiṇḍika gặp đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên.

[618] Điều này đã trở thành thông lệ của chư Phật Thế Tôn là niềm nở đối với các tỳ khưu đi đến. Khi ấy, đức Thế Tôn đã nói với vị tỳ khưu ấy điều này:

– Này tỳ khưu, sức khỏe có khá không? Mọi việc có được tốt đẹp không? Ngươi đi đến đường xa có được ít mệt nhọc không? Và này tỳ khưu, ngươi từ đâu đến vậy?

– Bạch Thế Tôn, sức khỏe khá. Bạch Thế Tôn, mọi việc tốt đẹp. Bạch ngài, con đi đường xa không mệt lắm. Bạch ngài, con đây đã trải qua mùa (an cư) mưa ở xứ Kāsi, trong khi đi đến thành Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn, đã trú tại vùng Kiṭāgiri. Bạch ngài, khi ấy vào buổi sáng con đã mặc y, cầm y bát, đi vào vùng Kiṭāgiri để khất thực. Bạch ngài, có nam cư sĩ nọ đã nhìn thấy con đang đi khất thực ở vùng Kiṭāgiri, sau khi thấy đã đi đến gần con, sau khi đến đã đảnh lễ con và đã nói điều này: “Thưa ngài, đồ khất thực có nhận được chưa vậy?” “Này đạo hữu, đồ khất thực chưa có nhận được.” “Thưa ngài, xin thỉnh. Chúng ta sẽ đi về nhà.” Bạch ngài, khi ấy nam cư sĩ ấy đã dẫn con về nhà, dâng thức ăn, rồi đã nói điều này: “Thưa ngài, ngài sẽ đi đâu?” “Này đạo hữu, giờ ta sẽ đi Sāvatthi để diện kiến đức Thế Tôn.” “Thưa ngài, như thế thì xin ngài đê đầu đảnh lễ ở chân của đức Thế Tôn với lời thăm hỏi của con và xin ngài hãy thưa như vầy: “Bạch ngài, sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri đã bị hủ hóa. Các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, …(như trên)… Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Bạch ngài, những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Bạch ngài, lành thay nếu đức Thế Tôn có thể phái các tỳ khưu đến vùng Kiṭāgiri, như vậy sự sinh sống ở vùng Kiṭāgiri có thể tồn tại.” Bạch Thế Tôn, con từ xứ đó đi đến.

[619] Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, nghe nói các vị nhóm Assaji và Punabbasuka thường trú tại vùng Kiṭāgiri là những tỳ khưu tồi, không biết hổ thẹn. Họ hành xử sai nguyên tắc có hình thức như vầy: Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. … (như trên) … . Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, … (như trên) … Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy lại hành xử sai nguyên tắc có hình thức như thế? Họ trồng bông hoa hoặc bảo kẻ khác trồng, họ tưới hoặc bảo kẻ khác tưới, họ hái hoặc bảo kẻ khác hái, họ kết lại hoặc bảo kẻ khác kết lại, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết một mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm tràng hoa kết hai mặt, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm thảm hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đội đầu, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa đeo tai, họ làm hoặc bảo kẻ khác làm vòng hoa che ngực. Họ đem tặng hoặc bảo kẻ khác đem tặng tràng hoa kết một mặt, tràng hoa kết hai mặt, thảm hoa, vòng hoa, vòng hoa đội đầu, vòng hoa đeo tai, vòng hoa che ngực cho những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình. Họ cùng với những nữ gia chủ, các cô tiểu thơ, những cô gái trẻ, các cô dâu, những cô tớ gái của các gia đình ăn chung trong một đĩa, uống chung trong một cốc, ngồi chung trên một chỗ ngồi, nằm chung trên một giường, nằm chung một tấm trải, nằm chung một tấm đắp, nằm chung một tấm trải và tấm đắp. Họ ăn sái giờ, họ uống rượu, họ đeo dây chuyền, xức nước hoa và phấn thơm, họ nhảy múa, họ ca hát, họ tấu đàn, họ vui đùa. Họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang nhảy múa; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang ca hát; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang tấu đàn; họ lại còn nhảy múa, ca hát, tấu đàn, vui đùa cùng với người nữ đang vui đùa. Họ còn tiêu khiển cờ tám ô vuông, cờ mười ô vuông, họ chơi với bàn cờ tưởng tượng ở trên không, họ chơi lối sắp vòng tròn, họ chơi lối rút quân cờ, họ chơi ném xúc xắc, họ chơi đánh gậy, họ chơi trò vẽ bằng tay, họ chơi trò sấp ngữa, họ chơi trò thổi kèn bằng lá cây, họ chơi trò uốn dẻo, họ chơi trò nhào lộn, họ chơi trò dùng lá cọ giả làm cối xay gió, họ chơi trò đo lường, họ chơi trò đua xe, họ thi bắn cung, họ chơi trò đố chữ, họ chơi trò đoán ý, họ chơi trò nhái điệu bộ, họ tập cỡi voi, họ tập cỡi ngựa, họ tập điều khiển xe, họ tập bắn cung, họ tập đao kiếm, họ chạy phía trước voi, họ chạy phía trước ngựa, họ chạy đi chạy lại phía trước xe; họ huýt sáo, họ vỗ tay, họ vật lộn, họ dùng tay đánh nhau. Họ trải y ca-sa hai lớp ở giữa nhà rồi mời cô vũ nữ rằng: “Này cô em, hãy nhảy ở đây này,” họ còn vỗ tay tán thưởng. Họ hành xử sai nguyên tắc theo nhiều cách. Những người trước đây mộ đạo, có niềm tin, bây giờ không còn mộ đạo, mất niềm tin. Những tập quán cúng dường đến hội chúng trước đây giờ cũng đã bị gián đoạn. Các tỳ khưu tốt ra đi, còn các tỳ khưu tồi cư ngụ. Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… và làm thay đổi (niềm tin) của một số người đã có đức tin.

[620] Sau đó, khi đã khiển trách các vị tỳ khưu Assaji và Punabbasuka bằng nhiều phương thức, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp thoại rồi bảo Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên) rằng:

– Này Sāriputta và Moggallāna, hai ngươi hãy đi đến vùng Kiṭāgiri rồi hãy thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka, các vị này là những đệ tử của hai ngươi.[9]

– Bạch ngài, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka thì dữ tợn và thô lỗ, làm thế nào chúng con thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu ấy được?

– Này Sāriputta và Moggallāna, chính vì điều ấy hai ngươi hãy đi cùng với nhiều vị tỳ khưu.

– Bạch ngài, xin vâng. Sāriputta và Moggallāna đã trả lời đức Thế Tôn.

[621] – Và này các tỳ khưu, nên thực thi như vầy: Trước hết, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka cần được quở trách; sau khi quở trách cần được nhắc nhở; sau khi nhắc nhở cần xác định tội; sau khi xác định tội, hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.’ Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: …(như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka này là những kẻ làm hư hỏng các gia đình và có các hành động sai trái. Những hành động sai trái của các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì các vị này không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Hội chúng thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.’ Đại đức nào đồng ý việc thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: ‘Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri’ đã được hội chúng thực thi. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[622] Sau đó, hội chúng tỳ khưu dẫn đầu là Sāriputta và Moggallāna đã đi đến vùng Kiṭāgiri và đã thực thi hành sự xua đuổi ra khỏi vùng Kiṭāgiri đối với các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka rằng: “Các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không được cư ngụ tại vùng Kiṭāgiri.” Khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các vị ấy không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh,[10] không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ hoàn tục.

Các tỳ khưu ít ham muốn, …(như trên)…, các vị ấy phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:

– Vì sao các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ lại mắng chửi, họ lại nói xấu, họ lại bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ lại bỏ đi, họ lại hoàn tục?

[623] Sau đó, các vị tỳ khưu ấy đã trình bày sự việc ấy lên đức Thế Tôn. Khi ấy, đức Thế Tôn nhân lý do ấy nhân sự kiện ấy đã triệu tập hội chúng tỳ khưu lại và đã hỏi các tỳ khưu rằng:

– Này các tỳ khưu, nghe nói khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, các tỳ khưu nhóm Assaji và Punabbasuka không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, không trở nên thu thúc, không làm bổn phận để sửa đổi, không làm cho các tỳ khưu hài lòng, họ mắng chửi, họ nói xấu, họ bị sa đọa do có sự thiên vị vì thương do có sự thiên vị vì ghét do có sự thiên vị vì si mê do có sự thiên vị vì sợ hãi, họ bỏ đi, họ hoàn tục, có đúng không vậy?

– Bạch Thế Tôn, đúng vậy.

Đức Phật Thế Tôn đã khiển trách rằng:

– Này các tỳ khưu, thật không đúng đắn cho những kẻ rồ dại ấy, …(như trên)… Này các tỳ khưu, vì sao những kẻ rồ dại ấy khi được hội chúng thực thi hành sự xua đuổi, lại không làm bổn phận một cách nghiêm chỉnh, …(như trên)… lại hoàn tục vậy? Này các tỳ khưu, sự việc này không đem lại niềm tin cho những kẻ chưa có đức tin, …(như trên)… Và này các tỳ khưu, các ngươi nên phổ biến điều học này như vầy:

“Vị tỳ khưu sống nương tựa vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được nói như thế bởi các tỳ khưu, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: ‘Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau họ lại xua đuổi vị này, họ lại không xua đuổi vị kia.’ Vị tỳ khưu ấy nên được nói bởi các tỳ khưu như vầy: ‘Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!’ Và khi được các tỳ khưu nói như vậy mà vị tỳ khưu ấy vẫn chấp giữ y như thế, thì vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở đến lần thứ ba để dứt bỏ việc ấy. Nếu được nhắc nhở đến lần thứ ba mà dứt bỏ việc ấy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).”

[624] Vị tỳ khưu (sống nương tựa) vào ngôi làng hoặc thị trấn nọ: là ngôi làng, là thị trấn, là thành phố, là ngôi làng và luôn cả thị trấn.

Sống nương tựa: các vật dụng là y phục, đồ ăn khất thực, chỗ trú ngụ, và thuốc men chữa bịnh là phụ thuộc vào nơi ấy.

Gia đình nghĩa là có bốn loại gia đình: Gia đình sát-đế-lỵ, gia đình bà-la-môn, gia đình thương buôn, và gia đình hạng cùng đinh.

Kẻ làm hư hỏng các gia đình: là kẻ làm các gia đình trở thành hư hỏng với bông hoa, hoặc với trái cây, hoặc với bột tắm, hoặc với với đất sét, hoặc với gỗ chà răng, hoặc với tre, hoặc bằng cách thức chữa bệnh, hoặc bằng cách đi bộ đưa tin.

Có hành động sai trái: vị trồng bông hoa, vị bảo kẻ khác trồng, vị tưới bông hoa, vị bảo kẻ khác tưới, vị hái bông hoa, vị bảo kẻ khác hái, vị kết lại bông hoa, vị bảo kẻ khác kết lại.

[625] Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.

Các gia đình bị hư hỏng vì vị ấy: Trước kia họ mộ đạo, vì vị ấy họ trở nên không còn mộ đạo. Họ đã có niềm tin trở thành không có niềm tin.

Không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa: Những ai có mặt thì nhìn thấy, những ai vắng mặt thì nghe.

[626] Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu làm hư hỏng các gia đình.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Và khi được các tỳ khưu nói như thế, vị tỳ khưu ấy lại nói với các tỳ khưu ấy như vầy: “Các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi, cùng với tội như nhau các vị lại xua đuổi vị này, các vị lại không xua đuổi vị kia.”

[627] Vị tỳ khưu ấy: là vị tỳ khưu được thực thi hành sự.

Bởi các tỳ khưu: là bởi các vị tỳ khưu khác. Các vị nào thấy, các vị nào nghe, các vị ấy nên nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!”

Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác). Các vị sau khi nghe mà không nói thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Vị tỳ khưu ấy nên được kéo đến giữa hội chúng và nên được nói rằng: “Đại đức chớ có nói như thế. Các tỳ khưu không có sự thiên vị vì thương, không có sự thiên vị vì ghét, không có sự thiên vị vì si mê, không có sự thiên vị vì sợ hãi. Chính đại đức là kẻ làm hư hỏng các gia đình và có hành động sai trái. Những hành động sai trái của đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Các gia đình bị hư hỏng vì đại đức không những được nhìn thấy mà còn được nghe đồn nữa. Đại đức hãy rời khỏi trú xứ này, sự cư trú ở đây đối với đại đức đã đủ rồi!” Nên được nói đến lần thứ nhì. Nên được nói đến lần thứ ba. Nếu (vị ấy) dứt bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không dứt bỏ thì phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[628] Vị tỳ khưu ấy nên được các tỳ khưu nhắc nhở. Và này các tỳ khưu, nên được nhắc nhở như vầy: Hội chúng cần được thông báo bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực:

“Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng nên nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đây là lời đề nghị.

Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ nhì: …(như trên)…

Tôi xin thông báo sự việc này lần thứ ba: Bạch các ngài, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Vị tỳ khưu này tên (như vầy) khi được hội chúng thực thi hành phạt xua đuổi lại lên án các tỳ khưu có sự thiên vị vì thương, có sự thiên vị vì ghét, có sự thiên vị vì si mê, có sự thiên vị vì sợ hãi. Vị ấy không dứt bỏ sự việc ấy. Hội chúng nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy. Đại đức nào đồng ý việc nhắc nhở vị tỳ khưu tên (như vầy) để dứt bỏ sự việc ấy xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Vị tỳ khưu tên (như vầy) đã được hội chúng nhắc nhở để dứt bỏ sự việc ấy. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.”

[629] Tội dukkaṭa (tác ác) do lời đề nghị. Các tội thullaccaya (trọng tội) do hai lời thông báo của hành sự (dvīhi kammavācāhi). Khi chấm dứt tuyên ngôn hành sự thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng). Đối với vị vi phạm tội saṅghādisesa, thì tội dukkaṭa do lời đề nghị và các tội thullaccaya do hai lời thông báo của hành sự hết hiệu lực.

Tội saṅghādisesa (tăng tàng): Chỉ có hội chúng–không phải một số vị, không phải một cá nhân–ban cho hành phạt parivāsa của tội ấy, cho thực hành lại từ đầu, ban cho hành phạt mānatta, cho giải tội; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.” Là việc định danh, tức là việc đặt tên cho cả nhóm tội giống như tội ấy; vì thế được gọi là “tội saṅghādisesa.”

[630] Hành sự đúng Pháp, nhận biết là hành sự đúng Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, có sự hoài nghi, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự đúng Pháp, (lầm) tưởng là hành sự sai Pháp, vị không dứt bỏ thì phạm tội saṅghādisesa (tăng tàng).

Hành sự sai Pháp, (lầm) tưởng là hành sự đúng Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, có sự hoài nghi, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

Hành sự sai Pháp, nhận biết là hành sự sai Pháp, phạm tội dukkaṭa (tác ác).

[631] Vị chưa được nhắc nhở, vị dứt bỏ, vị bị điên, vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ,[11] vị vi phạm đầu tiên thì vô tội.

Dứt điều saṅghādisesa (tăng tàng) thứ mười ba.

*******

[632] Bạch chư đại đức, mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàng) đã được đọc tụng xong, chín điều bị phạm tội ngay lúc vừa mới vi phạm, bốn điều (khi được nhắc nhở) đến lần thứ ba. Vị tỳ khưu vi phạm điều nọ hoặc điều kia thuộc về các điều này và che giấu biết được bao nhiêu ngày thì vị tỳ khưu ấy phải chịu hành phạt parivāsa không theo ý muốn bấy nhiêu ngày. Vị tỳ khưu đã trải qua hành phạt parivāsa nên thực hành thêm sáu đêm mānatta dành cho tỳ khưu. Vị tỳ khưu có hành phạt mānatta đã được hoàn tất thì vị tỳ khưu ấy nên được giải tội tại nơi nào có hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị. Nếu hội chúng tỳ khưu nhóm hai mươi vị chỉ thiếu đi một mà giải tội cho vị tỳ khưu ấy thì vị tỳ khưu ấy chưa được giải tội và các tỳ khưu ấy bị khiển trách. Đây là điều đúng đắn trong trường hợp ấy.

Trong các điều ấy, tôi hỏi các đại đức rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Đến lần thứ nhì, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Đến lần thứ ba, tôi hỏi rằng: Chắc hẳn các vị được thanh tịnh trong vấn đề này?

Các đại đức được thanh tịnh nên mới im lặng. Tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.

Dứt Chương Mười Ba Pháp.

********

Tóm lược chương này:

Sự xuất ra (tinh dịch),
việc xúc chạm cơ thể,
(nói lên) lời dâm dật,
tình dục cho bản thân,
mai mối, và liêu cốc,
trú xá, không nguyên cớ,
điều nhỏ nhặt nào đó,
và chia rẽ (hội chúng),
kẻ ủng hộ vị ấy,
và (ương ngạnh) khó nói,
làm hư các gia đình,
là mười ba điều học
saṅghādisesa.

[1] Ekuddeso: chung sự đọc tụng giới bổn Pātimokkha đang được hiện hành (theo ngài Buddhaghosa).

[2] Xin xem Đại Phẩm – Mahāvagga, chương Kosambī thứ X.

[3] Ngài Buddhaghosa giải thích là “… nắm lấy các tay và các chân kéo đến giữa hội chúng …”

[4] Sở dĩ không đề cập đến tội thullaccaya thứ ba vì khi dứt câu: “Yassa nakkhamati so bhāseyya” ở chữ “yya” thì vị ấy phạm tội saṅghādisesa nên không thành lập tội thullaccaya thứ ba.

[5] Hai điều “vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ,” tạng Thái Lan có chú thích rằng: “Được thấy ở các sách khác.”

[6] Về vấn đề này, ngài Buddhaghosa đề cập đến bài kinh Anumānasutta thuộc Majjhimanikāya I (HT Minh Châu dịch là Kinh Tư Lượng số 15 của Kinh Trung Bộ 1).

[7] Theo ngài Buddhaghosa, hai vị này là các vị đứng đầu trong nhóm Lục Sư. Theo thứ tự được ngài trình bày là hai vị Paṇḍuka và Lohitaka ở thành Sāvatthi, hai vị khác đã được đề cập trước đây là Mettiya và Bhummajaka ở thành Rājagaha, và hai vị này ở vùng Kīṭāgiri.

[8] Được gọi là “āvāsika” nghĩa là trong trường hợp ấy chỗ trú ngụ (āvāso) tức là trú xá (vihāra) thuộc về vị ấy. Vị thường trú có trách nhiệm làm mới, sửa chữa những chỗ củ kỹ, v.v… được gọi là “āvāsika” còn vị chỉ thuần túy cư ngụ thôi thì gọi là “nevāsika” (Theo ngài Buddhaghosa).

[9] Ngài Buddhaghosa còn cho biết rằng hai tỳ khưu này (luôn cả sáu vị được gọi là Lục Sư) đều đã được xuất gia với hai vị Tối thượng Thinh Văn này, đã sống nương nhờ tròn đủ 5 năm, và có học thuộc lòng các đầu đề (mātikā).

[10] Theo ngài Buddhaghosa là 18 phận sự của vị bị thực thi hành sự xua đuổi (Xin xem Tiểu Phẩm – Cullavagga, chương I, [119]).

[11] Hai điều “vị có tâm bị rối loạn, vị bị thọ khổ hành hạ” tạng Thái Lan có chú thích rằng: “Không được thấy ở tạng Miến Điện.”

-ooOoo-



  • Leave a Comment