Sách Chuyển Pháp Luân Tứ Thánh Đế – Phần 1 Nhận thức Vô Minh – Chương 1 Tứ Thánh Đế

I. TỨ THÁNH ĐẾ

Tứ thánh đế hay còn gọi là tứ diệu đế, là bài pháp đầu tiên tại vườn Lộc Uyển của Đức Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Tứ thánh đế được hình thành, sau khi Ngài ngồi thiền tọa dưới gốc cây bồ đề, nhận ra con đường tu hành trung đạo và đạt đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi, chứng nhập vào trạng thái niết bàn tịch diệt. Lần đầu tiên, Đức Thế Tôn lựa chọn pháp môn Tứ diệu đế để chuyển pháp luân, vì năm anh em Kiều Trần Như mà giảng giải căn nguyên của khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế và những nguyên nhân dẫn tâm thức đến sinh tử luân hồi. Pháp Tứ diệu đế, gồm hai phần là tục đế và chân đế, tục đế bao gồm nhân quả của vô minh, của thế gian, của nhân quả luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, quả là khổ đế và nhân là tập đế. Chân đế bao gồm đạo đế và diệt đế, là quy luật nhân quả của pháp xuất thế gian hay nói cách khác, đạo đế là nhân duyên của sự giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi, còn diệt đế là quả báo của đạo đế, khi quả báo diệt đế thành đạt thì tâm thức được giải thoái giác ngộ khỏi sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, tâm thức được nhập vào cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịch.
Tứ diệu đế là bài kinh pháp khởi đầu thuyết pháp, vì người diễn nói của Đức Thế Tôn. Đây là bài pháp chuyển pháp luân đầu tiên của Ngài, là bài pháp quan trọng nhất sau khi Ngài tu hành được chứng đắc quả vị Phật Như Lai. Bài pháp Tứ diệu đế chứa đựng trong đó tất cả các thiện pháp trong thế gian và xuất thế gian, tục đế hay chân đế. Đây là bài pháp bao trùm có dung lượng hàm chứa tất cả tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, những nội dung được hình thành trong suốt bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, hoằng pháp phổ độ chúng sinh của Đức Thế Tôn. Bài pháp này phù hợp với tất cả căn cơ, căn tính của mọi người và chúng sinh trong mười pháp giới.
Tứ thánh đế được Đức Thế Tôn thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như được chia làm ba giai đoạn: thị chuyển, khuyến chuyển và chứng chuyển.

1. Thị chuyển Tứ thánh đế

Thị chuyển Tứ thánh đế tức là định nghĩa, mô tả về Tứ thánh đế.
1.1. Thị chuyển về khổ đế
Thị chuyển về khổ đế là sự thật về khổ.
Khổ do thân gây ra và khổ do tâm gây ra, được tổng hợp thành tám thứ khổ: sinh, lão, bệnh, tử, cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạch. Hoặc ba khổ là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.
1.2. Thị chuyển về tập đế
Thị chuyển về tập đế là giới thiệu các nguyên nhân dẫn đến các sự khổ đau.
Khổ chủ yếu xuất phát từ những nhân duyên như thọ, ái, thủ, hữu trong quy luật mười hai nhân duyên dẫn đến khổ đế. Tập đế trình bầy khái quát rõ ràng, minh bạch chân thật về những nguyên nhân dẫn đến đau khổ, buồn dầu của thân và tâm là do vô minh, do các hành, nghiệp thức dẫn đến con người bị tái sinh luân hồi. Quy luật sinh lão bệnh tử, luân hồi tiếp nối nhiều đời nhiều kiếp, điều đó khiến cho con người vướng mắc và vòng sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác nhiều buồn khổ.
1.3. Thị chuyển về diệt đế
Thị chuyển về diệt đế là sự thật về sự tu hành đạt được giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi, chứng nhập vào niết bàn tịch diệt.
Diệt đế nói về tâm giải thoát không còn chịu sự sinh diệt luân hồi khổ đau. Thân mạng của chúng ta là do tứ đại là đất, nước, gió, lửa hợp thành, nên nó có sinh ắt có diệt, có thành, trụ, hoại, không, các sự vật, sự việc, hiện tượng, nhân sinh. Tất cả các pháp đều là do nhân duyên hòa hợp mà sinh và cũng do các nhân duyên tàn hoại mà các pháp cũng bị diệt, tức là, cái này có mặt hiện hữu là do nhiều nhân tố tạo thành, thì cái kia cũng có, cái này do các nhân duyên không còn, nó bị tàn hoại, phân ly, thì cái kia cũng bị diệt, tàn hoại và tan biến. Nói cách khác, con người chúng ta, thân thể của chúng ta là do các nhân duyên hòa hợp như đất, nước, gió, lửa hòa hợp mà có mặt trên cuộc đời này và được phát triển, tồn tại cũng là nhờ vào những nhân tố đất, nước, gió, lửa, được chuyển hóa thành thức ăn, nước uống, không khí ô xi, độ ấm thân nhiệt. Nếu như thiếu những nhân tố trên, thì con người cũng sẽ không thể sống, tồn tại và hoạt động, sẽ bị diệt vong. Điều này cũng tức là nói thân thể của chúng ta là do nhân duyên sinh ra, hiện hữu và cũng do nhân duyên diệt, nó là vô thường sinh diệt, sinh lão bệnh tử, khổ đế, vô ngã hay vô tướng, vô tác, vô nguyện, tức là nói con người chúng ta không có tự tính riêng biệt. Vì chúng không có tự tính riêng biệt độc lập, chúng có mặt tồn tại và phát triển đều phụ thuộc vào các nhân duyên hòa hợp mà có mặt và tàn hoại, hủy diệt, do thiếu các nhân duyên nên bị diệt vong. Giống như thân thể con người của chúng ta thiếu đi sự nuôi dưỡng của thức ăn, nước uống, không khí ô-xi, thân nhiệt, từ bốn đại lượng là đất, nước, gió, lửa, thì sẽ bị tử vong.
1.4. Thị chuyển đạo đế
Thị chuyển đạo đế là sự thật về chân đế, là con đường Phật pháp đưa con người và mọi chúng sinh đến với sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi trong sáu cõi.
Đó là ba mươi bảy phương pháp tu hành giúp con người đến được sự giải thoát giác ngộ, như tứ niệm xứ, tứ chính cần, tứ như ý túc, ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát chính đạo, và sau này là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba mươi bảy phẩm trợ đạo.
Nước biển chỉ có một vị mặn, Phật pháp chỉ có một ý nghĩa là giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi. Đức Thế Tôn nói Phật pháp, Tứ diệu đế cho năm anh em Kiều Trần Như, nhưng đó cũng là nói với chúng ta. Khi Ngài tu hành khổ hạnh ép xác trong khu rừng trong suốt sáu năm, Ngài tu hành rất tinh tấn, dũng mãnh, quyết liệt đến mức thân tàn lực kiệt, đến cao độ nhất, mà vẫn không tìm thấy lẽ đạo, không tìm thấy sự giải thoát sinh tử luân hồi, không tìm thấy sự an lạc, thanh tịnh. Chính ngay lúc bên bờ mé của sự sinh tử đó, Ngài đã nhận thấy một sự thật là tu hành khổ hạnh ép xác, ép sáu căn tám thức, ép ba nghiệp thân, khẩu, ý, đến cùng cực sẽ không tìm được đạo lý giải thoát giác ngộ. Cũng tương tự như việc tu hành mà lại hưởng thụ, thỏa mãn sung sướng với ngũ dục lục trần, thì cũng không tìm thấy đạo lý giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Vì Ngài cũng từng là một vị thái tử con của đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia ở một vương quốc giàu có, quyền quý cao sang, không thiếu bất cứ thứ vật thực gì, của ngon vật lạ, thỏa mãn mọi sự ham muốn ở đời sống thế tục, nhưng trong đó không có đạo lý chân lý giải thoát giác ngộ.
Điều này có nghĩa, tu hành đi đến giác ngộ chân lý giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, thì việc tu thân mạng, tu sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức, lấy thân mạng, sáu căn tương tác, tạo tác ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm mục đích tu hành để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi là điều không thể một ai làm được. Vì thân thể con người là do các nhân duyên hòa hợp nương tựa vào nhau, của tứ đại đất, nước, gió, lửa, của thức ăn, nước uống, không khí ô xi, nhiệt độ thân nhiệt, mà tạo lên thân thể con người. Chúng duy trì sự tồn tại của thân thể con người chúng ta. Và khi các nhân duyên này không còn hoặc cơ thể bị bệnh không tiếp nhận được các nhân duyên đó được nữa, thì nó sẽ tàn hoại, diệt vong, tan biến trở về với nguyên thủy tứ đại đất, nước, gió, lửa nguyên thủy ban đầu. Từ đó tiếp tục quá trình nhân duyên mới, để hình thành lên những sự hiện hữu tiếp nối mới theo các quy luật, sinh lão bệnh tử, thành trụ hoại không, sinh trụ di diệt, sinh diệt biến đổi từ dạng này qua dạng khác không ngừng.
Đức Thế Tôn nói, có hai quan điểm về tu hành Phật pháp như vậy, là hoàn toàn sai lầm, hoàn toàn không tìm ra chân lý giải thoát giác ngộ ở đó. Con đường đưa đến sự giác ngộ chân lý giải thoát sinh tử luân hồi là con đường trung đạo, thân tâm, sáu căn tám thức, ba nghiệp thân, khẩu, ý giữ ở trung đạo, tức là không hưởng thụ năm dục sáu trần, phước báo nhân thiên, mà cũng không tu hành khổ hạnh ép xác, ép sáu căn, tám thức chịu kham khổ, đói, khát, ngột ngạt, nóng lạnh thất thường. Đó là tu hành giữ thân tâm ở trung đạo tịnh hóa thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh đạt đến tịnh viên cảnh trí. Tức là chúng ta tu hành chỉ cần có cơm để ăn, nước để uống, áo để mặc, không khí ô xi để thở, chỉ cần đủ no, đủ uống, đủ ấm, đủ thở, để cho cơ thể con người sống một cách bình thường khỏe mạnh, an lạc, thanh tịnh là đủ rồi.
Ít ham muốn thưởng thụ thỏa mãn về năm dục sáu trần, như mắt thấy sắc đẹp dẫn đến ưa thích, tai nghe âm thanh hay dẫn đến yêu thích, mũi ngửi hương thơm dẫn đến ham muốn thưởng thức, lưỡi nếm thức ăn, nước uống ngon ngọt, hợp khẩu vị thì thích thú khen ngợi, thân tiếp xúc với ái dục, mặc những bộ áo đẹp, đắp chăn ấm đệm êm thì sung sướng. Ý tiếp xúc với pháp trần hay, lôi cuốn hấp dẫn thì si mê, đắm say yêu thích vui sướng và ngược lại không được thỏa mãn thưởng thụ, thì chán ghét buồn khổ. Tất cả những cảm thọ về yêu thích, vui sướng, buổn khổ, chán ghét đó, về năm dục sáu trần, đều khiến cho thân tâm bị ràng buộc dày vò khó chịu, bức bách, bất tịnh. Điều đó không có lợi cho tâm thức của người tu hành, nó là vật cản trên con đường tu hành đi đến sự tịnh hóa thân tâm. Sáu căn tám thức thanh tịnh, tự do, tự tại, an lạc, giác ngộ chân lý, được giải thoát khỏi sinh tử luân hồi, trong sáu cõi ba đường ác chịu nhiều buồn khổ.
Tâm, thân trung đạo được xác lập trên cơ sở sáu căn tiếp xúc với sáu trần. Nếu sáu căn tiếp xúc với sáu trần đều là mong muốn hưởng thụ tham đắm vướng mắc vào những cảm thọ về năm dục sáu trần, thì sáu thức cũng là hưởng thụ dục lạc quá mức. Tâm thức này không đi đến sự giải thoát giác ngộ và ngược lại sáu căn tiếp xúc với sáu trần bằng sự khổ hạnh ép xác, khó nhịu, bức bách, sân hận, căng thẳng của sáu giác quan, thì sáu thức được sinh ra cũng thế. Đây là hai thái cực không đi đến lẽ đạo giải thoát giác ngộ sinh tử luân hồi. Như vậy, tâm trung đạo là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức ở trung đạo trạng thái thanh tịnh.
Tâm, thân trung đạo là con đường tốt nhất để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Nói cách khác, đạo đế giúp chúng ta nhận thức được con đường trung đạo để đi đến sự giác ngộ giải thoát sinh tử luân hồi. Đó chính là diệt đế, đó là sự vắng lặng, thanh tịnh tịch diệt của sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tịnh hóa thân tâm đi đến trạng thái niết bàn thường lạc ngã tịnh. Như vậy, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức có phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham vọng vào những sự thưởng thụ, thỏa mãn, những cảm thọ yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét. Hoặc chịu khổ ép xác, bức bách, sân hận về năm dục sáu trần, thì nó chính là vô minh. Nó là nhân duyên khiến cho tâm thức của chúng ta bị sinh tử luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Khi chúng ta nhận thức được nó, làm chủ được mười tám giới, tịnh hóa được nó, không vướng mắc vào nó nữa, thì khi đó diệt đế xuất hiện, niết bàn mở ra để đón tâm thức của mình đã được giải thoát, giác ngộ vào nơi an lạc thường tịnh tịch diệt. Chúng ta có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì còn có hai căn nữa là tống truyền thức căn và a lại gia thức căn. Khi mười tám giới thanh tịnh thì hai thức này cũng được thanh tịnh, quá khứ, hiện tại, tương lai cũng được tịnh hóa, thì đạt được trạng thái tâm thức tịnh viên cảnh trí.

2. Khuyến chuyển Tứ thánh đế

Khuyến chuyển Tứ thánh đế là giai đoạn khuyến khích động viên người tu hành tinh tấn, tập trung tinh thần nghe giảng pháp.
Tùy kinh văn nhập quán, thấy biết được những sự thật về khổ đế, sự thật về tập đế là nguyên nhân chắc thật dẫn đến khổ đau của con người. Sự thật về diệt đế là sự thật về sự giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thức, sáu căn tám thức tự do, tự tại, an lạc, thanh tịnh nhập vào niết bàn tịch diệt. Đạo đế là sự thật chắc thật, chính xác, là con đường chân chính đưa con người tu hành từ sự ràng buộc của tâm vô minh, sinh tử luân hồi, đạt được giải thoát giác ngộ chân lý, làm chủ tâm vô minh, nhận thức rõ được tâm vô minh, vượt qua được sinh tử luân hồi, đạt đến cứu cánh niết bàn thường lạc ngã tịnh.

3. Chứng chuyển pháp Tứ thánh đế

3.1. Chứng chuyển khổ đế
Chứng chuyển khổ đế là sự thật về khổ, đã được khổ chứng, chứng thực về khổ đau, khẳng định tại nơi thấy biết của thân tâm mình, không còn một chút nghi ngờ thắc mắc về sự thật khổ đế.
Sự có mặt của khổ đế là một quy luật tất yếu của cuộc sống con người, ai cũng phải trải qua những sự thật về khổ đế. Đức Thế Tôn giảng giải cho năm anh em Kiều Trần Như thấy được sự thật về khổ đế, mà chính Ngài đã khổ chứng được sự thật mầu nhiệm đó. Đây được xem là thân giáo, tâm giáo của Đức Thế Tôn, lấy chính mình làm mô phạm, làm nhân chứng, tâm chứng cho năm anh em Kiều Trần Như biết rõ ràng, tường tận sự thật về khổ đế, mà chính Ngài đã khổ chứng tu hành giác ngộ được chân lý vi diệu mầu nhiệm đó, một cách đúng sự thật, như những gì nó đang diễn ra xung quanh chúng ta, ở đây và tại thời điểm không gian này. Khổ đế là quả và tập đế là nhân, là quy luật nhân quả chân thật, chính xác.
3.2. Chứng chuyển tập đế
Chứng chuyển tập đế là sự thật về những nguyên nhân dẫn đến quả khổ đế, được Đức Thế Tôn giác ngộ phát hiện ra tập đế và Ngài đã đoạn trừ được hết nguyên nhân phát sinh ra khổ đau.
Đức Thế Tôn cũng đã tâm sự, thuyết giảng một cách rõ ràng, tường tận cho năm anh em Kiều Trần Như về quá trình tu hành, tư duy quán tưởng và thiền định đi đến sự giác ngộ chân lý mầu nhiệm chắc thật về tập đế. Đây là những nguyên nhân chắc thật dẫn đến quả báo khổ đế và cũng chính Ngài đã đoạn trừ tận gốc những nguyên nhân tập đế này, đoạn trừ giải thoát dứt điểm tận gốc rẽ những nguyên nhân tập đế, thì khổ đế không còn. Đây cũng là sự giải thoát giác ngộ vượt ra khỏi tục đế, vượt ra khỏi sự ràng buộc của nhân duyên quả báo thiện ác thế gian, ra khỏi tam giới, giải thoát tâm thức khỏi sinh tử luân hồi, thoát khỏi ba khổ, tám khổ, bước vào con đường chứng đắc tứ thánh quả diệt đế và đi đến tận cùng của sự thanh tịnh tịch diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.
3.3. Chứng chuyển diệt đế
Chứng chuyển diệt đế là sự thật về chân đế, là kết quả, quả báo của sự tu hành đạo đế, tức là từ việc tu hành bằng các phương pháp cách thức tư duy quán chiếu, đi đến nhận thức rõ về vô minh, về tất cả các pháp, các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan.
Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan đều do nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, tồn tại và phát triển, trụ ở thế gian sinh diệt tiếp nối nhau và cũng chính lại do các nhân duyên đó hết, phân tán, tàn hoại, diệt vong. Chúng ta nhìn sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan thông qua sáu giác quan tiếp xúc với sáu trần, tạo ra sáu thức (sáu căn, tám thức). Không nên chỉ nhìn vào bề ngoài phần thô hiện hữu tạm thời của nó, mà phải nhìn bằng tuệ nhãn, tuệ căn, tuệ tâm thức, suy xét cho đến tận cùng, thì mới thấy tất cả mọi sự vật, sự việc, hiện tượng nhân sinh quan, thế giới quan, cho đến thân thể, xác thân, tâm thức của chúng ta cũng đều là do nhân duyên hòa hợp mà có mặt và rồi cũng do nhân duyên tàn hoại mà diệt vong. Chúng đều là vô tướng, vô thường, sinh diệt, vô ngã, không có tự ngã, tự tính riêng biệt độc lập, mà do nhiều nhân tố nhân duyên hòa hợp liên kết mà tạo thành.
Nhân duyên tứ đại gồm đất, nước, gió, lửa, hay còn gọi là tính không, là không có tự ngã, tự tính riêng biệt đứng độc lập, vô chủ, do cái này có mặt thì cái kia có mặt, có hiện hữu và cái này diệt vong là do cái kia diệt vong. Các sự vật, sự việc, hiện tượng trong vũ trụ nhân sinh quan, thế giới quan đều tồn tại và duy trì đều nương nhờ vào nhau, như chính bản thân của chúng ta vậy. Thân thể chúng ta là do các nhân duyên hòa hợp mà có mặt trên cuộc đời này, mà tồn tại và phát triển. Các nhân duyên này đều nương nhờ vào nhau, nương nhờ vào các nhân duyên như đất, nước, gió, lửa được chuyển hóa thành, thức ăn, nước uống, không khí, nhiệt độ thân nhiệt. Đến khi các nhân duyên này không còn hoặc thân thể của chúng ta già bệnh không tiếp nhận được các nhân tố nhân duyên này nữa, tức là không ăn uống được, không hít thở, không giữ được thân nhiệt ổn định thích hợp cho sự sống nữa, thì đi đến diệt vong tàn hoại. Khi đó thân xác sẽ trở về với nguyên thủy đất, nước, gió, lửa, còn tâm thức thì tái sinh vào một thế giới mới theo nghiệp thức vô minh, trong sáu cõi luân hồi. Hoặc gặp được Phật pháp giác ngộ được chân lý giải thoát thì được chứng đắc Tứ thánh quả, là bậc tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán, hoặc tốt hơn là chứng nhập vào cảnh giới trạng thái tâm thức niết bàn thường lạc ngã tịnh, diệt đế mà Đức Thế Tôn đã thấy biết rõ ràng, tường tận, chân thật và thuyết giảng cho năm anh em Kiều Trần Như nghe.
Khi nghe được Đức Thế Tôn chứng chuyển pháp luân diệt đế, năm anh em Kiều Trần Như liền tin tưởng chắc thật về chân lý giải thoát diệt đế tịch diệt niết bàn. Đây cũng là nhờ vào sự tu hành cần mẫn, tinh tấn, thân cận với Đức Thế Tôn nhiều năm trong khu rừng khổ hạnh trong suốt sáu năm trời. Ngoài ra, do tự thân năm anh em cũng có đầy đủ sự tinh tấn, quyết tâm đi tìm con đường giác ngộ chân lý giải thoát để thoát khỏi sinh tử luân hồi. Họ đã có được nhiều nhân duyên thiện căn phước đức, nhân duyên tốt lành, tuệ căn lanh lợi, linh hoạt, nhậy bén, nhần nhuyễn dễ sử dụng, dễ tiếp thu tri kiến của Đức Thế Tôn. Họ đã cảm nhận chính xác, chắc thật về những điều mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng về Tứ diệu đế, là tam chuyển thập nhị hành. Cũng nhờ chính nhân duyên lành này, mà năm anh em Kiều Trần Như nghe xong bài thuyết pháp về bốn chân lý mầu nhiệm chắc thật, tứ diệu đế liền lĩnh hội được hết ý nghĩa đạo lý chân lý đó, liền tỏ ngộ tri kiến Phật, giải ngộ chân lý giải thoát, được minh tâm kiến tính, đắc đạo chứng đắc được quả vị tứ thánh. Đây là năm bậc thánh đệ tử đầu tiên của Đức Thế Tôn, tuy tâm thức chưa đạt đến được cảnh giới trạng thái thanh tịnh tịch diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh quang Phật, nhưng cũng đã đoạn diệt được hết phiền não trong tục đế, tâm thức không còn bị vướng mắc ràng buộc trong năm dục sáu trần. Các vị đã phá tan tâm vô minh, ko bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Các vị đã làm chủ được tâm vô minh, làm chủ được năm dục sáu trần, do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, nhận thức được nguyên nhân sinh ra khổ đế, và loại bỏ được hết nguyên nhân tập đế. Trong qua trình tiếp xúc của sáu căn, tám thức, của ba nghiệp thân, khẩu, ý, đều là những cảm thọ thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh được giác ngộ chân lý giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.
Niết bàn là trạng thái tâm thức thường lạc ngã tịnh, là nơi thanh tịnh tịch diệt, nơi chỉ có những tâm thức của người giác ngộ chân lý giải thoát như Đức Thế Tôn mới vào được cảnh giới niết bàn thường tịch diệt. Niết bàn không cho phép thân tứ đại của chúng ta, cũng như tâm thức vô minh, tâm thức còn bị năm dục sáu trần ràng buộc, vô minh làm chủ, che lấp chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, các pháp do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, thân tâm sáu căn tám thức bất tịnh, bất thiện thì không thể chứng nhập được vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, chỉ có một cách là lấy pháp đạo đế soi sáng vào tâm thức tăm tối vô minh của chúng ta, giúp cho chúng ta nhận thức được vô minh. Làm chủ vô minh không cho nó ràng buộc tâm thức, sáu căn tám thức của chúng ta nữa, thì con đường đi đến chứng nhập niết bàn đã được mở để đón mời chúng ta vào nơi tâm thức thanh tịnh tịch diệt, không sinh không diệt, không bẩn không sạch, không tăng không giảm, an vui tịch diệt niết bàn, tâm có được tam minh lục thông. Tam minh, là túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh. Lục thông, là thiên nhãn thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, biến hóa thông, lậu tận thông.
3.4. Chứng chuyển đạo đế
Chứng chuyển đạo đế là sự thật về đạo lý, chân lý giải thoát sinh tử luân hồi, là con đường của người tu hành đi đến bến bờ của sự giải thoát giác ngộ chân lý cuối cùng tịch diệt niết bàn thường tịnh.
Đức Thế Tôn thuyết giảng kể lại cho năm anh em Kiều Trần Như nghe về con đường tu hành, các phương pháp dựa vào các đạo lý, chân lý, nhận thức hiểu biết, chính tri kiến mà Ngài đã đạt được sự giác ngộ chân lý giải thoát tuyệt đối diệt đế, nhập diệt vào cảnh giới tâm thức ở trạng thái thường tịnh niết bàn. Ngài nói: Trong sáu năm trời Ta tu hành cùng các người trong khu rừng khổ hạnh ép xác, nhịn đói, nhịn khát, ngày đêm quên ăn quên ngủ, xa rời thế tục bên ngoài để tu hành, mong muốn tìm ra đạo lý giải thoát giác ngộ để thoát khỏi sự sống khổ, sinh lão bệnh tử. Mục đích tu hành để được giác ngộ giải thoát thì đúng, còn con đường tu hành thì sai lầm, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức mà được hưởng thụ thỏa mãn những dục lạc thế gian. Hưởng thụ năm dục sáu trần, thì chắc chắn không tìm ra lẽ đạo, nó chỉ mang đến sự đau khổ, phiền não, nhàm chán, hư hoại mê si. Và con đường tu hành khổ hạnh ép xác, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức bị thiếu thốn đủ thứ, như cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, áo không đủ ấm, vừa đói khát, nóng, lạnh thất thường làm cho thân thể bất an, khó chịu, khổ sở, phiền não, bức bách, đau yếu, suy nhược cơ thể. Đến sự sống còn không giữ được, thì làm sao mà trong đó có thể tìm ra đạo lý chân lý giải thoát sinh tử luân hồi.
Điều đó nghĩa là phương pháp tu hành như thế là sai, tư tưởng nhận thức con đường đi sai. Khi Ngài đang bên bờ mé của sự sinh tử, giữa sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc, tận cùng của sự sinh tử, Đức Thế Tôn đã tỏ ngộ, giải ngộ, giác ngộ con đường giải thoát. Ngài đã nhận ra con đường tu hành chân chính chắc thật để đi đến giác ngộ chân lý giải thoát, không phải là hai con đường kia mà ngài đã đi sai, mà là con đường trung đạo, là con đường tịnh hóa thân tâm, tức là sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức, tám ý thức, thân tâm thanh tịnh mới đi đến giác ngộ chân lý giải thoát nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.
Còn tất cả các con đường khác do sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức hay tám ý thức cho dù là có tinh thông, có thần thông như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không đi đến sự giác ngộ chân lý giải thoát nhập diệt niết bàn thường tịnh. Tức là sáu căn thanh tịnh dẫn đến thân thanh tịnh, mạc đa thức, a lại gia thức thanh tịnh, tịnh viên cảnh trí, thì chắc chắn chân thật đưa tâm thức đến con đường giải thoát giác ngộ chân lý nhập diệt niết bàn thường tịnh. Thân trung đạo được thể hiện qua việc thọ nhận thức ăn, nước uống, các đồ vật vừa đủ, bình thường hợp lý hợp tình, an toàn vệ sinh thực phẩm, giúp cho thân tâm hoạt động bình thường, sáu căn tiếp xúc với sáu trần tạo ra sáu thức không để lại những ấn tượng, cảm thọ lưu luyến, ràng buộc, tưởng nhớ đến sự hưởng thụ, thỏa mãn về năm dục sáu trần, mà thân tâm, sáu căn tám thức cảm thọ thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí xuất hiện, đây là cửa ngõ cánh cửa đầu tiên để bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ sinh trí tuệ bát nhã nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.
Đức Thế Tôn khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát, trải qua bốn mươi chín ngày đêm tu hành thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh trí tuệ bát nhã, chính trí kiến của chư Phật Như Lai, tại gốc cây bồ đề. Ngài đã chứng đắc được tam minh, lục thông, tức là chứng được túc mạng minh, nhìn thấy rõ được tất cả đời sống nhân quả sinh diệt mà Ngài đã trải qua trong quá khứ, hiện tại, tương lai. Ngài chứng được thiên nhãn minh, nhìn thấy rõ tất cả dòng nhân quả sinh diệt của mọi người, chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Ngài chứng được lậu tận minh, hiểu biết được mọi thứ, mọi sự việc, hiện tượng, nhân sinh quan, thế giới vũ trụ quan, hiểu được chân tướng sự thật của các pháp là do nhân duyên hòa hợp, liên kết mà hiện hữu, có mặt sinh ra trụ thế, và cũng chính do nhân duyên tàn hoại, tan dã mà diệt vong. Biết được các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, biết được tất cả mọi việc trong quá khứ, hiện tại, tương lai, biết được vô lượng thế giới chúng sinh, Ngài có đầy đủ tri kiến bát nhã là bậc toàn năng, toàn giác.
Khi Ngài vừa giác ngộ chân lý giải thoát đạt được cảnh giới thiền định nhập diệt được vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì tâm thức của Ngài rất là vui sướng hoan hỷ đến tận cùng. Tâm thức được thanh tịnh giải thoát khỏi tất cả sự ràng buộc của năm dục sáu trần, phá tan được tâm vô minh. Hơn nữa đối với một người tu hành chân chính thì sự khao khát giác ngộ chân lý giải thoát chứng nhập niết bàn là điều cao thượng nhất, tốt đẹp nhất, quan trọng nhất, giá trị bậc nhất, duy tuệ thị nghiệp. Khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát chắc thật, thì Ngài liền có ý định, dự định, khao khát nhập diệt vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, và để thân xác thế tục lại trần gian, thân mạng do tứ đại hợp thành.
Đối với người giác ngộ chân lý giải thoát, tâm chứng đắc cảnh giới thiền định nhập vào trạng thái thường tịnh niết bàn, thì đều có tư tưởng, ý tưởng, dự định như Ngài. Họ biết được thân xác này là do nhân duyên hòa hợp mà sinh, chúng có hiện hữu và rồi sẽ tan biến, diệt vong, theo quy luật sinh lão bệnh tử. Thân người là do đất, nước, gió, lửa, tạo thành nhận chịu nhiều sự tác động của nhân duyên, khiến cho thân tâm bất tịnh, bất thiện, thân của ngũ uẩn, của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thân chúng ta rất bất tịnh, chúng bị những cảm thọ về năm dục sáu trần chi phối ràng buộc, bị nhiều nguyên nhân tập đế chi phối, để rồi phải nhận chịu quả khổ đế. Khi người giác ngộ chân lý giải thoát, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh, có được chính tri kiến của chư Phât Như Lai, thì nhìn bằng tuệ giác, thiên nhãn minh quan sát con người chỉ thấy phần tâm thức là thiện, là ác, là vướng mắc bất tịnh hay là giải thoát thường tịnh, là tâm thức của người còn bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác, hay là tâm thức, sáu căn tám thức thanh tịnh của người giác ngộ chân lý giải thoát, tâm thoát khỏi sinh tử luân hồi, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn.
Khi Đức Thế Tôn giác ngộ giải thoát chứng nhập vào niết bàn, thì tâm thức đã là bậc toàn giác có được tam minh, lục thông, thấy biết được tất cả mọi sự vật, sự việc, hiện tượng trong thế giới vũ trụ nhân sinh quan này, trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Ngài thấy biết được sáu cõi luân hồi của con người, trong đó con người thường phải gánh chịu nhiều đau khổ, ba khổ, tám khổ. Khi đó, chư thiên ở ba cõi trời, là trời dục giới, trời sắc giới và cõi trời vô sắc giới, những vị chư thiên này cũng là những người tu hành có đạo hạnh, có được ngũ thông, lục thông, thần thông hơn con người. Chính vì thế mà các vị chư thiên này biết được ở thế gian loài người có Đức Thế Tôn, là bậc giác ngộ chân lý giải thoát đã xuất hiện, liền đến để đảnh lễ, thỉnh giáo cầu đạo. Biết được ý tưởng, tâm tưởng của Đức Thế Tôn muốn nhập vào niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì các vị chư thiên liền cầu xin Đức Thế Tôn trụ lại ở thế gian, trụ lại ở trong thân xác con người, để giảng kinh thuyết pháp vì mọi người, mọi chúng sinh, diễn nói các pháp, hoằng pháp lợi sinh, phổ độ chúng sinh giác ngộ chân lý giải thoát chứng nhập niết bàn thường tịnh.
Đức Thế Tôn với lòng từ bi thương sót, Ngài nhìn thấy con người, chư thiên và những chúng sinh trong lục đạo luân hồi bị tâm vô minh làm chủ, năm dục sáu trần chi phối, ràng buộc thân tâm trong những cảm thọ về yêu thích, vui buồn, sướng khổ, chán ghét, khiến cho chúng sinh bị ràng buộc, bị kẹt trong vòng nhân quả luân hồi thiện ác, sinh diệt nối tiếp trong lục đạo ba đường ác, là nguyên nhân tập đế sinh ra khổ đế. Vì thế, Đức Thế Tôn đồng ý trụ lại thân xác con người ở thế gian cõi người, để giảng kinh thuyết pháp. Ngài diễn nói tất cả các pháp, mô tả về chân lý giải thoát giác ngộ, ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai.
Bài pháp chuyển pháp luân đầu tiên là bài pháp Tứ diệu đế hay còn gọi là Tứ thánh đế, thuyết giảng về bốn chân lý, bốn sự thật về khổ, tập, diệt, đạo, cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn lộc uyển. Thời gian tiếp theo Ngài giảng nhiều bộ kinh trong hơn bốn mươi năm hoằng truyền Phật pháp, nói ra vô lượng pháp tạng kinh điển. Sau này các đệ tử của Ngài đã trùng tuyên kết tập lại cho đến ngày này, là ba đại tạng kinh, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, giúp cho con người, mọi chúng sinh nương vào đó, để soi sáng đêm tối vô minh, nhận thức vô minh, đoạn diệt tâm vô minh, để ngộ nhập tri kiến Phật, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.
Ngài tạm thời lưu lại thế gian trong bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp, kể từ khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát, có được thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, nhập vào cảnh giới thiền định, minh tâm kiến tính, đạt đến trạng thái tâm thức thường lạc ngã tịnh niết bàn. Ngài bỏ lại thân xác tứ đại hợp thành, nhân duyên đất, nước, gió, lửa, tương ứng là thức ăn, nước uống, không khí ô xi, thân nhiệt. Chúng là do nhân duyên sinh và do nhân duyên diệt, chúng là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Tâm thức của Đức Thế Tôn ở trạng thái cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịnh, không sinh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giản, thường tri kiến Phật. Ngài đã giảng kinh thuyết pháp tại rất nhiều nơi trên đất nước Ấn Độ ngày nay, rất nhiều những thánh tích còn lưu lại. Ngài giảng nói nhiều pháp môn, nhiều đạo lý chân lý phù hợp với nhiều căn cơ trình độ hiểu biết tri kiến của con người, của chúng sinh, là các phương tiện giúp cho mọi người nhận thức được chân lý giải thoát giác ngộ, thân tâm thanh tịnh, sáu căn tám thức thanh tịnh, không bị ràng buộc trong năm dục sáu trần. Nhờ đó, con người sẽ ngộ nhập tri kiến Phật Như Lai, Đức Thế Tôn, phá tan được tâm vô minh ngăn che chân tướng sự thật về các pháp do nhân duyên sinh, do nhân duyên diệt. Các pháp là vô thường, vô ngã, tính không, giúp cho tâm thức thoát khỏi sinh tử luân hồi, trong sáu cõi ba đường ác, chứng đắc tứ thánh quả, nhập diệt niết bàn thường tịnh.
Phật pháp giống như một con thuyền vượt qua biển khổ đế, tập đế, biển vô minh, biển sinh tử luân hồi, đưa chúng ta đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, an vui, tịch diệt niết bàn, có được đức năng tam minh, lục thông. Khi đến bến bờ giải thoát rồi thì chúng ta cần bỏ lại con thuyền Phật pháp đạo đế, bỏ lại xác thân bất tịnh do tứ đại hợp thành, để tâm thức chứng nhập vào cảnh giới niết bàn thường lạc ngã tịnh. Đức Thế Tôn hiện nay tâm của Ngài đang ở cảnh giới niết bàn thường định tịnh, nhưng Ngài vẫn quan sát được tất cả các thế giới tận hư không. Những điều mà Đức Thế Tôn năm xưa Ngài đã thuyết giảng trong ba đại tạng kinh, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, vẫn còn nguyên giá trị hiệu lực đến tận ngày nay và trong tương lai.
Như vậy, cho dù Đức Thế Tôn vì lòng từ bi cứu giúp chúng sinh mà thọ thân con người trụ lại ở thế gian, thì những điều Ngài nói ra cũng giống như bốn mươi chín năm trước cách đây khoảng 2550 năm, sau khi Ngài giác ngộ chân lý giải thoát dưới cội gốc cây bồ đề, đã thuyết giảng, đã giải nghi ngờ thắc mắc cho nhiều người có căn cơ tri kiến hiểu biết khác nhau, cho nhiều học giả, hành giả, triết gia, tôn giáo, giờ Ngài cũng chỉ là trùng tuyên thuyết giảng lại những đạo lý chân lý giải thoát giác ngộ đó. Ngài dùng pháp phương tiện trong Phật pháp để dẫn dụ, lôi kéo chúng sinh ra khỏi sự ràng buộc của năm dục sáu trần, tâm vô minh làm chủ. Trạng thái thiền định, bát nhã, niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì không thể giải thích bằng ngôn ngữ hết được. Bằng tri kiến của con người của chúng sinh trong lục đạo luân hồi, thì không thể hiểu hết được tri kiến của chư Phật Như Lai. Cảnh giới đó là không thể nghĩ bàn, không thể đo lường, nhận thức bằng sáu căn tám thức, mà phải thân tâm, sáu căn, tám thức đạt đến cảnh giới thanh tịnh tịch diệt, tịnh viên cảnh trí, thì mới nhập vào cảnh giới thiền định, bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh, thì mới biết được cảnh giới đó. Cho dù có mô tả chân lý giải thoát giác ngộ cảnh giới đó được bằng ngôn ngữ, thì với khả năng, năng lực hiểu biết của con người và chúng sinh trong lục đạo luân hồi, chưa giác ngộ chân lý giải thoát, thì cũng không thể hiểu được và cũng không thể chứng ngộ được chân lý giải thoát đó, mà muốn hiểu được, chứng ngộ được phải bằng việc tu hành tịnh hóa sáu căn, tám thức, thực chứng giác ngộ chân lý, có đủ tam minh, lục thông mới hiểu thấu biết rõ được chân lý giải thoát giác ngộ chứng nhập Niết bàn thường lạc ngã tịnh.
Lần đầu tiên Đức Thế Tôn quan sát căn cơ cảnh giới của tri kiến hiểu biết, thiện căn, phước đức, nhân duyên của năm anh em Kiều Trần Như, Ngài đã nói pháp Tứ diệu đế hiểu được, chứng được tứ thánh quả là tu đà hoàn, tư đà hoàn, a la hàm, a la hán. Nhưng về sau khi Ngài giảng cho các thánh đệ tử của Ngài, đã được chứng ngộ tứ thánh quả, chứng tiểu thừa thanh văn, những đạo quả cao hơn, như giáo pháp nhị thừa, duyên giác, Ngài giảng mười hai nhân duyên. Bồ tát thừa, Ngài giảng các bộ kinh đại thừa, nói về các pháp tu hành của bồ tát, như Lục độ ba la mật, các hạnh nguyện của các chư vị bồ tát, như trong bộ kinh vô lượng thọ, Phổ hiền bộ tát hạnh nguyện, và rất nhiều kinh điển khác, như kinh đại bát niết bàn, Bát nhã ba la mật tâm kinh, và cuối cùng là Phật thừa. Ngài giảng cho các chư vị bồ tát các thánh đệ tử của Ngài đã chứng ngộ tứ thánh quả, chứng đắc được các pháp đại thừa thì mới đủ nhận thức, tri kiến, trí tuệ bát nhã, mới hiểu được pháp Phật thừa, tri kiến Phật, Phật tính.
Phật pháp là pháp phương tiện bình đẳng, từ bi hỷ xả, tùy duyên đối với tất cả mọi người. Chúng sinh tùy theo căn cơ, nhân duyên, thiện căn, phước báo, trí tuệ mà được bình đẳng học pháp tam thừa, ngũ thừa, tu hành được bình đẳng chứng đắc các quả vị tứ thánh quả, đó là nhân thiên thừa, thanh văn thừa, duyên giác thừa, bồ tát thừa, Phật thừa. Chính vì vậy mà ngày nay, chúng ta là bốn chúng đệ tử Phật, tại gia và xuất gia nên nương tựa vào Phật pháp, nương vào tam tạng kinh điển, mười hai giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng. Chúng ta hãy bám sát không dời bỏ, lấy Phật pháp đạo đế soi sáng vào tâm thức vô minh của mình, mà tự thanh tịnh thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh bước vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, cho đến khi được giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi, khỏi tất cả những sự ràng buộc của năm dục sáu trần, của tâm vô minh. Khi đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, nhập diệt vào niết bàn thường tịnh, thì mới buông bỏ các pháp phương tiện, tâm thức đến cảnh giới niết bàn, gặp được đức Thế Tồn thỉnh giáo, đảnh lễ, cầu đạo tiếp với Ngài, để ngộ nhập tri kiến của chư Phật Như Lai.
Ngài A Nan là một đệ tử thường xuyên thân cận nhất với Đức Thế Tôn, Ngài được bầu làm thị giả, giống như người thu nhận những thông tin thuyết giảng giáo huấn của Đức Thế Tôn. Sau đó Ngài A Nan lại trùng tuyên thuyết lại cho đại chúng và những người đồng đạo, cùng là thánh đệ tử xuất gia, tại gia của Đức Thế Tôn nghe. Họ tiếp nhận lời trùng tuyên từ thị giả của Đức Thế Tôn là Ngài A Nan, và để nương tựa vào chính tri kiến đó mà tu hành, hoằng dương Phật pháp lan chuyền đi muôn nơi làm lợi lạc cho chúng sinh. Cũng giống như việc tiếp nhận lời giáo huấn, ghi tâm khắc cốt những lời thuyết giảng trong suốt bốn chín năm đó, và cũng tiếp thu rất nhiều nguồn thông tin từ các thánh đệ tử xuất gia và đệ tử tục gia, cũng như các hành giả, học giả của các học thuyết tôn giáo triết học ở khắp mọi nơi đến tham vấn, thỉnh giáo, cầu đạo, hỏi giải đáp những vấn đề thắc mắc về giáo lý, về phương pháp tu hành, về những điều thấy biết trong cuộc sống tri kiến con người. Ngài A Nan tiếp thu những ý kiến, thắc mắc đó để truyền tin tức, ý tứ đó để hỏi lời giải đáp của Đức Thế Tôn. Về tất cả những thông tin đó, thời gian, địa điểm, đối tượng, bối cảnh tiếp xúc đó Ngài A Nan đều lưu lại trong ký ức, bộ nhớ a lại gia thức.
Chính vì điều đó mà Ngài A Nan đến khi Đức Thế Tôn nhập diệt vào niết bàn thường tịnh, thì Ngài A Nan mới chỉ đắc quả tu đà hoàn, là một trong tứ thánh quả đầu tiên, sơ quả bất thoái chuyển, không còn bị luân hồi trong sáu cõi ba đường ác. Nhưng đây chỉ là cảnh giới thấp nhất trong tứ thánh quả. Quả này còn có sự phân biệt, chấp trước, vọng tưởng tham đắm vào Phật pháp, vào pháp phương tiện đạo đế, cho nên thân tâm, sáu căn tám thức chưa đạt đến cảnh giới thanh tịnh tịch diệt, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, sinh tri kiến Phật, bát nhã, tâm chưa nhập diệt vào cảnh giới niết bàn thường tịnh. Tức là sáu căn của Ngài tiếp xúc với sáu trần cảnh, tạo ra sáu thức, hay tám thức là thức thứ bảy, mạc gia thức, thức thứ tám là a lại gia thức, còn vướng mắc. Ngài A Nan còn lưu giữ đạo đế pháp phương tiện, pháp do nhân duyên sinh, pháp do nhân duyên diệt, các pháp là vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không. Đạo đế là nhân, còn diệt đế là quả. Nhân của pháp vô thường sinh diệt, vô ngã, tính không còn, thì quả diệt đế làm sao mà có được sự thanh tịnh tịch diệt, cho nên Ngài A Nan chưa chứng đắc được quả vị cao nhất trong tứ thánh quả là a la hán, và các quả vị chứng đắc cao hơn nữa, như quả duyên giác, bích chi Phật, bồ tát quả, Phật quả.
Ngài A Nan là một người thông minh trí tuệ bậc nhất, hầu như tất cả những ý nghĩa trong giáo lý mà Đức Thế Tôn thuyết giảng giáo huấn cho mọi người, thì Ngài đều hiểu thấu, cho đến những đạo lý giải thoát giác ngộ. Tục đế, chân đế Ngài cũng hiểu hết biết rõ, nhưng do lòng từ bi thương nỗi sống khổ của con người và biết được những lợi ích vô cùng to lớn mà Phật pháp, giáo lý mà Đức Thế Tôn thuyết giảng đối với sự giải thoát giác ngộ chân lý, mang lại sự an vui thanh tịnh của con người và của chúng sinh muôn loài trong lục đạo luân hồi ba đường ác, mà Ngài A Nan đã hy sinh thân mạng, tâm mạng, tuệ mạng và tâm đạo, từ bỏ tất cả lợi ích của bản thân để lưu giữ truyền trao Phật pháp, để lại tam tạng kinh điển, mười hai phần giáo, ba bảy phẩm trợ đạo, cho các thế hệ tứ chúng đệ tử Phật, chúng sinh hậu thế mai sau. Ngài A Nan vừa là thị giả của Đức Phật Thế Tôn, vừa là một vị hiền hộ Phật pháp, công đức vô lượng.
Phật pháp là tùy duyên không bắt ép ai, không bạo động, tất cả đều là tự nguyện, tự lựa chọn tu hành theo Phật pháp, dựa vào tam bảo, tự đốt đuốc lên mà đi đến bến bờ giải thoát giác ngộ chân lý, thân tâm, sáu căn tám thức thanh tịnh nhập vào thiền định. Niệm Phật đạt được nhất tâm bất loạn, vô niệm, vô trụ, sinh ra trí tuệ bát nhã, ngộ nhập tri kiến Phật, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.
Kết tập kinh điển lần đầu tiên là do Ngài A Nan được bầu làm người thuyết giảng trùng tuyên lại tất cả những bài thuyết pháp giáo huấn của Đức Thế Tôn, trước sự tham gia, có mặt khoảng 1250 vị thánh đệ tử của Đức Thế Tôn, đều là người đã chứng đắc tứ thánh quả đạt được quả vị cao nhất là a la hán. Lần tập kết trùng tuyên lại những giáo lý, đạo lý, chân lý giải thoát giác ngộ thành công viên mãn, Ngài A Nan đã trút được gánh nặng Phật pháp đạo đế ở trong tâm. Ngài đã hoàn thành trách nhiệm, nghĩa vụ đối với anh em huynh đệ đồng đạo, đồng tu, đối với chúng sinh, nhân loại từ quá khứ, hiện tại và hậu thế mai sau, trên đền bốn ơn nặng dưới cứu khổ ba đường, nhiệm vụ của Ngài đã hoàn thành. Ngài đã buông bỏ được hòn đá tảng, pháp phương tiện trong lòng xuống, nhân của tục đế, chân đế đã xa lìa, con thuyền đạo đế, bát nhã đã đưa Ngài đến bến bờ giác ngộ chân lý giải thoát. Ngài đã để lại tảng đá lớn, để lại con thuyền đạo đế đã đi cùng Ngài suốt cả cuộc đời đến nay, nó đã được cập bến giải thoát giác ngộ chân lý, chứng đắc được quả vị cao nhất trong tứ thánh quả, bậc a la hán, thân tâm, sáu căn, tám thức thanh tịnh tịch diệt, nhập vào cảnh giới thiền định, thiền tuệ, bát nhã, nhập diệt niết bàn thường lạc ngã tịnh.



  • Leave a Comment