[T1459] Căn Bổn Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da Tụng

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ NẠI DA TỤNG

Nguyên tác: Tôn giả Tỳ xá khư
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh đời Đường
Việt dịch: Ban phiên dịch chùa Pháp Bảo, HT Thích Tịnh Hạnh giám tu- năm 2005
Hiệu đính và nhuận văn: NS Thích nữ Như Lộc tại chùa Phổ Minh – năm 2010.

QUYỂN THƯỢNG

A. VIỆC THỌ CẬN VIÊN VÀ YẾU HẠNH CỦA BÍ-SÔ:

Mở bày pháp điều phục,
Nói rõ nghĩa điều phục,
Trụ vững trong điều phục,
Bỏ pháp phi điều phục.
Xin kính lễ Đại sư,
Pháp và các Thánh chúng,
Con nay theo chỗ hiểu,
Nhiếp tụng Tỳ nại da,
Người lười biếng thiếu huệ,
Thường sợ văn giải rộng,
Người siêng cũng không thích,
Vào biển điều phục này.
Muốn cho những người kia,
Không phải mệt nhọc nhiều,
Kết tụng theo thứ lớp,
Bậc thiện nhân thấy bờ,
Khen là được viên mãn,
Sanh Phạm cung thù thắng,
Tam ma địa, niết bàn,
Đều nhờ giới mà được,
Lìa Tỳ nại da này,
Thảy đều không thanh tịnh.
Như giặt y thật sạch,
Phải giặt trong nước sạch.
Cũng như vầng trăng khuyết,
Ban đêm không chiếu sáng,
Xuất gia trong Phật giáo,
Thi la khuyết cũng vậy.
Thế nên bỏ lười biếng,
Ưa thích giới trang nghiêm,
Muốn biết làm, không làm,
Phải siêng nghe Luật giáo.
Bí sô nên tác ý,
Cầu hiểu Tỳ nại da,
Cốt soi sáng mình trước,
Sau mới dạy cho người,
Hay ở trong bốn chúng,
Được cung kính tôn trọng.
Chư Phật trong ba đời,
Đều thọ trì tạng này,
Siêng cầu chánh pháp trụ,
Và lợi ích hữu tình.
Từ phòng ngừa giới uẩn,
Khéo giữ chớ khuyết phạm.
Nếu người khác có phạm,
Có nghi đến thỉnh hỏi,
Ở trong nghĩa dứt nghi,
Đạt đến chỗ thiện xảo,
Oán xứ được hàng phục.
Biết pháp cùng pháp câu,
Thường không bị người khinh,
Trong đại chúng không sợ.
Nếu ở nơi biên địa,
Có người hiểu luật giáo,
Phật nói ta không lo,
Do kia phát quang huy.
Phật Mâu ni nói rằng:
Luật đức khó nghĩ bàn,
Cho nên phải siêng cầu,
Thọ trì luật tạng này.
Bí sô đủ mười hạ,
Tự khéo giữ luật nghi,
Hiểu rõ các pháp thức,
Xuất gia thọ Cận viên,
Giới kinh và Quảng thích,
Văn nghĩa đều tinh diệu,
Làm y chỉ cho người,
Và làm Giáo thọ sư,
Không chỉ hiểu chút nghĩa.
Biết cạn, việc nhiều nghi,
Phải phân tích rõ ràng,
Lời của Đại sư nói,
Rộng giải thích Giới bổn.
Người ngu không hiểu được,
Dù sáu mươi tuổi hạ,
Phải y chỉ người khác,
Nếu không có người già,
Nên y chỉ người trẻ,
Chỉ trừ không lễ bái,
Các việc khác nên làm.
Người nào muốn xuất gia,
Tùy ý đến một thầy,
Thầy nên hỏi nạn sự,
Không chướng pháp nên độ,
Nếu gây tội Vô gián,
Và là kẻ Tặc trụ,
Phi nhân biến hóa hình,
Ngoại đạo, người mù điếc,
Hoặc năm hạng Huỳnh môn,
Ô nhục Bí sô ni,
Như ruộng bị nhiễm mặn,
Không sanh hột giống giới.
Hoặc người phạm biên tội,
Mắc nợ và có bịnh,
Đại thần, tướng của vua,
Đại tặc và đầy tớ.
Người thân thể tật nguyền,
Mười ngón dính với nhau,
Tay chân bị lệch què,
Xương sống cong, mũi tẹt,
Bị người làm tổn thương,
Thân lớn mà đầu nhỏ,
Răng sún hơn phân nửa,
Mắt loạn nhìn không rõ,
Mắt lớn nhỏ, hoặc vàng,
Cho đến hồng hay đỏ…
Không đoan nghiêm như vậy,
Đều không cho xuất gia.
Tóm lại việc nên ngăn,
Cốt yếu có ba loại:
Sắc, hình và dòng họ,
Làm nhơ uế chúng tăng.
Sắc là như tóc đỏ…
Hình là đầu mặt xấu,
Đầu, tai giống như lừa,
Hoặc không có tóc tai,
Tướng voi, ngựa và khỉ,
Hểnh mũi, chỉ một mắt,
Không mắt, răng bò ngựa,
Cho đến không có răng.
Dòng họ: Chiên đà la,
Thợ tre, người hốt phân…
Đều bị luật ngăn cấm.
Nếu có người tịnh tín,
Nói là không có lỗi,
Hỏi biết không chướng pháp,
Nhiếp thủ qua tám ngày,
Để ý xem xét kỹ,
Nếu trước đã xem xét,
Không cần qua một ngày,
Liền cho thọ Tam quy,
Và thọ năm học xứ,
Nên mặc y phục trắng,
Đứng ở trước chúng tăng,
Xin Tăng già chấp thuận,
Cho nương pháp xuất gia,
Trước thỉnh Thân giáo sư,
Truyền trao mười học xứ,
Thọ pháp Cầu tịch rồi,
Tất cả chúng tục lữ,
Nên khen ngợi, kính lễ,
Do lìa tục trói buộc,
Phá trừ lưới lậu hoặc,
Mặc y phục Đại tiên.
Vì người này ngời sáng,
Như mặt trời mới mọc,
Như trời Tam thập tam,
Người thọ đắc Cận viên,
Các tội đều tiêu trừ.
Ở trung phương đủ mười,
Bí sô thiếu không cho.
Người biên phương thọ cụ,
Năm hay hơn tùy ý.
Phương Đông – Bôn đồ bạt đạt na,
Phương này có cây tên Sa la.
Phương Bắc – núi tên Ôn thi la,
Chùa tên Đáp ma sa bạn na.
Phương Tây – thôn tên Tốt thổ nô,
Phương Nam – thành tên
Nhiếp phạt la, Phật nói trong giới này – Trung phương,
Ngoài giới này gọi là biên phương.
Bí sô giới thanh tịnh,
Được truyền thọ Cận viên,
Cận viên có năm nhân:
Chúng đủ, trong giới đồng,
Người thanh tịnh bỉnh pháp,
Không chướng (pháp), yết ma thiện.
Luận Tỳ bà sa nói,
Mười loại đắc Cận viên:
Thế tôn Nhất thiết trí,
Gọi là Tự giác thọ;
Kiều trần như thượng thủ,
Năm người đắc định đạo;
Hiền bộ… tâm thanh tịnh,
Đều từ quy y đắc;
Pháp Dữ do Sứ đắc;
Thiện lai thành Bí sô,
Riêng Đại Ca Diếp ba,
Do kính thầy – đắc giới,
Đồng tử Ô đà di,
Khéo qua việc hỏi đáp,
Rất vừa ý Đại sư,
Nên được thành Cận viên;
Trung phương đủ mười người;
Biên phương chỉ năm người,
Hoặc là hơn năm người,
Người bỉnh nên biết pháp;
Lại nhân Cù Đàm di,
Đại thế chủ thỉnh Phật,
Phật nói tám kỉnh pháp,
Nên mới đắc Cận viên;
Những người khác nếu thọ,
Đều bạch tứ yết ma.
Vừa thọ Cận viên xong,
Nên nói năm thời tiết:
Đông, xuân, hạ mùa mưa,
Cuối mưa và Hạ dài,
Đo theo bóng người tính.
Đông bốn: nửa tháng chín,
Cho đến nửa tháng giêng;
Xuân bốn: nửa tháng giêng,
Cho đến nửa tháng năm;
Mùa mưa: nửa tháng năm,
Cho đến nửa tháng sáu;
Cuối mưa – một ngày đêm,
Là mười sáu tháng sáu;
Sáng mười bảy – Hạ dài,
Cho đến nửa tháng chín,
Ba tháng thiếu một ngày,
Gọi là năm thời tiết.
Cuối mưa thọ Cận viên,
Trong đồng hạ – nhỏ nhất,
Hạ dài – sáng sớm thọ,
Trong đồng hạ – lớn nhất.
Thọ cụ theo Bí sô,
Nửa tháng thỉnh giáo thọ,
Kiết hạ gần Bí sô,
Trong hai chúng – Tùy ý,
Không mắng nhiếc Bí sô,
Không gạn hỏi phá giới,
Ni nếu phạm Tăng tàn,
Trong hai chúng – Ý hỉ,
Ni tuy trăm tuổi hạ,
Nên ân cần kính lễ,
Bí sô mới thọ giới,
Đây là tám kỉnh pháp.
Nữ làm tướng nam tử,
Trượng phu làm tướng nữ,
Tục nhân và huỳnh môn,
Không được làm thân giáo.
Giặc và thân tàn tật,
Tuy là thiện cũng ngăn,
Nếu truyền trao Cận viên,
Chúng tăng đều phạm tội.
Không thích, không Viên cụ,
Nếu không rõ năm sanh,
Nên xem kỹ tướng mạo,
Nhìn tướng đoán tuổi tác,
Không đủ hai mươi tuổi,
Không cho thọ Cận viên,
Nếu muốn tính cho đủ,
Nến tính luôn tháng nhuần,
Cả số ngày trong thai,
Vẫn không đủ hai mươi,
Nên ở vị Cầu tịch,
Không thành thọ Cận viên,
Nếu qua một hai năm,
Mới nhớ biết tuổi thiếu,
Do năm trước tưởng đủ,
Nên gọi thiện Cận viên.
Nếu người nghe bạch xong,
Tai kia bỗng nhiên điếc,
Cũng gọi là thiện thọ,
Phật khai cho không lỗi.
Khi đang thọ Cận viên,
Nam bỗng chuyển thành nữ,
Người này thành thọ cụ,
Nên đưa đến trong Ni.
Nếu Ô-ba-đà-da,
Nghe bạch xong biến hình,
Thì không thành thọ cụ,
Người bỉnh pháp không lỗi.
Người thọ giới dưới đất,
Người bỉnh pháp trên không,
Thể hai giới khác nhau,
Nên không thành thọ cụ.
Luân vương nuôi thái tử,
Nối dõi được hưng long;
Hộ Cầu tịch cũng vậy,
Khiến Thánh giáo tăng trưởng.
Nếu thầy sai Cầu tịch,
Có viêc leo lên cây,
Té xxuống tổn thân thể,
Cho nên Thánh giáo ngăn.
Xuất gia – bi làm gốc,
Dù bảy tuổi cũng cho,
Nhưng phải biết đuổi quạ.
Nếu xuất gia thọ cụ,
Không bát thì không cho,
Bát Đại tiên cần có,
Vì là nhân khất thực.
Như Thượng tòa Cận hỉ,
Độ Cầu tịch không bát,
Sắp đến giời khất thực,
Theo người xin bát đựng.
Mượn y bát người khác,
Để được thọ Cận viên,
Chớ như pháp Phạm chí,
Là Thế tôn khai cho.
Nếu người chưa thọ cụ,
Không nói Tứ y trước,
Nghe rồi thấy khó hành,
Phạm chí liền bỏ về.
Nếu làm một yết ma,
Trong giới truyền bốn người,
Là Tăng truyền cho Tăng,
Không gọi là thọ pháp.
Nếu hai hay ba người,
Đồng thời thọ Cận viên,
Hình tướng tuy khác nhau,
Nhưng không phân lớn nhỏ,
Tùy ngồi thọ lợi thí,
Và không kính lễ nhau.
Khi sai làm tri sự,
Tùy được sai mà làm.
Làm yết ma linh bố…
Cho những người phóng dật,
Quở trách rồi đuổi đi,
Để sanh tâm nhàm lìa.
Nếu người thông ba tạng,
Lại là người danh tiếng,
Hay sanh phước rộng lớn,
Không nên quở trách đuổi,
Nếu như quở trách đuổi,
Sẽ tổn thương Phật giáo.
Người phạm bốn tội trọng,
Tà chấp giữ tâm ngu,
Làm việc không nên làm,
Người đời đều dị nghị,
Nhơ nhà, sanh đấu tranh,
Người phá giới như thế,
Tăng nên đánh kiền chùy,
Đồng tâm tác pháp tẫn,
Nếu ôm cột – chặt cột;
Níu khung cửa – chặt cửa.
Đã nói như tử thi,
Là nghĩa không ở chung,
Chúng tăng nên tẫn xuất,
Trừ người ô uế này.
Ni không nên lễ bái,
Chỉ nên cung kính thôi,
Cận sự không cùng nói,
Nhưng khất thực nên cho.
Xúc, ganh, bịnh, sanh, bán,
Năm hạng Bán trạch ca,
Lược nói tướng trạng này,
Cho những người không hiểu.
Xúc là nếu xúc chạm,
Tâm liền khởi dâm dục,
Người trí nên nhận biết,
Là đang ôm huỳnh môn.
Tật đố là nếu thấy,
Người giao hội liền khởi.
Bịnh là nhân bịnh đọa,
Hoặc là bị dao cắt.
Sanh là khi sanh ra,
Hai căn đều không hiện.
Không thể làm việc dâm,
Cũng gọi là Phiến sá.
Bán là nửa tháng nam,
Nửa tháng sau là nữ.
Nếu hai căn có đủ,
Thì gọi là Nhị hình.
Tâm nhiễm thấy tà ác,
Là ngoại đạo tà giáo,
Đến họ thọ pháp ấy,
Là thú hướng ngoại nhân.
Nếu người tự cạo tóc,
Trộm pháp mặc pháp y,
Giả dối làm Bí sô,
Đều gọi là Tặc trụ.
Bốn trọng và ác kiến,
Thân phạm Bí sô ni,
Uống rượu, hủy Tam bảo,
Nếu Cầu tịch có phạm,
Một trong mười việc trên,
Tăng liền nên diệt tẫn.
Nếu xả tùy trường hợp,
Nên đưa ra trị phạt,
Nếu không phạm biên tội,
Như pháp xả học xứ.
Tâm không loạn xả giới,
Người hiểu biết hiện tiền,
Tôi xả, thầy biết cho,
Gọi là chân thật xả.
Thọ xong nên vì nói,
Bốn Ba la thị ca,
Người trí bảo biết trước,
Chớ nên làm việc ác.
Nếu tâm không che giấu,
Phát lồ trước một người,
Nói nhàm chán biên tội,
Gọi là người thọ học.
Kế nói pháp tạp hạnh,
Là yếu nghi xuất gia,
Lần lượt dạy cho nhau,
Chở để tôn pháp diệt.
Lúc trời tờ mờ sáng,
Nên thức dậy trước thầy,
Đánh răng trước cho sạch,
Kế kính lễ tôn tượng,
Rồi mới đến chỗ thầy,
Thu xếp lại giường tòa,
Để khăn, cây đánh răng,
Nước nóng lạnh thích nghi,
Cũng có khi dậy sớm,
Đến chăm sóc cho thầy,
Đấm lưng hoặc xoa bóp,
Hay sanh phước thù thắng.
Đầu đêm hoặc cuối đêm,
Hỏi thầy đều đã nghi,
Thầy dựa trên ba tạng,
Giải nghi cho đệ tử.
Sáng sớm đến thăm hỏi,
Đảnh lễ tỏ cung kính,
Thường khởi tưởng khó gặp,
Và khởi tâm ân trọng,
Quét dọn sạch trong phòng,
Và chỗ thầy thường đi.
Trên điện Phật cúng dường,
Huơng hoa tùy khả năng,
Siêng kính lễ Tam bảo,
Đây là nhân Tứ đế.
Nếu khi lễ hương điện,
Hữu nhiễu Tốt đổ ba,
Gần nhau nên hỏi tuổi,
Để biết mà lễ bái.
Vì cầu thể kiên cố,
Thân sai dịch không bền,
Mình siêng, khích lệ người,
Chớ theo ý ngu – đọa,
Tùy thời cúng dường rồi,
Đọc tụng, kế an tâm,
Không chỉ mặc ca sa,
Tình cho là hỉ túc.
Ngày mười bôn, mười lăm,
Nên biết thời trưởng tịnh,
Hòa hợp chúng nên làm,
Nếu trái thì tự làm.
Thường nên tự xét mình,
Có lỗi cầu thanh tịnh,
Cho đến trong tội nhỏ,
Cũng khởi tưởng sợ hãi,
Hoặc đi đến Tăng trù,
Xem việc làm ở đó,
Nếu thấy thức ăn ngon,
Nên bạch cho thầy biết,
Siêng năng thừa sự thầy,
Rửa bát… thảy đều làm,
Thầy biết lượng nên thọ.
Đối với người phá giới,
Không kính lễ, phục vụ,
Thọ dụng đều không chia,
Như củi thiêu tử thi.
Cầu tịch còn không lễ,
Những người tục có giới,
Huống chi đại Bí sô,
Lễ người tục tham dâm.
Bí sô được quả sau,
Nhỏ còn không lễ bái,
Huống chi là người ngu,
Còn luân hồi sanh tử.
Chủ thọ dụng – Vô học,
Học nhân thọ của cha,
Người tu định đọc tụng,
Tùy thọ dụng không lỗi,
Còn những người lười biếng,
Là mắc nợ thọ dụng,
Người phá giới toàn ngăn,
Thọ dụng vật trú xứ.
Tín tâm xây tự viện,
Để an người giới hạnh,
Phạm trọng không hổ thẹn,
Không cho bước chân vào.
Nếu ở gần nhà xí,
Không được nói chuyện nhiều,
Đọc tụng và giặt nhuộm,
Thảy đều không cho làm.
Nhà tiểu tiện, đại tiện,
Khi vào nên gõ cửa,
Tằng hắng, khảy móng tay.
Đại tiểu tiện, hạ phong,
Tùy ra chớ cố rặn,
Muốn đi chớ cố nín,
Cũng chớ có nói chuyện.
Tẩy tịnh dùng cục đất,
Giấy, lá lau phía dưới,
Kế dùng hai ba viên,
Rồi rửa nước cho sạch,
Kế dùng thêm bảy viên,
Để tẩy tịnh tay trái.
Sau cùng dùng bảy viên,
Tẩy tịnh cả hai tay,
Còn lại một viên đất,
Dùng để tẩy quân trì,
Kế rửa tay và chân,
Gọi là sạch bên ngoài.
Nhân nơi Xá lợi phất,
Phật chế việc tẩy tịnh,
Làm khác, phạm Ác tác.
Tẩy tịnh khéo dụng tâm,
Rửa khiến cho thật sạch,
Ý trừ khử mùi hôi,
Khiến thân được thanh tịnh.
Nếu không theo pháp này,
Cần gì trăm viên đất.
Không cho lễ Tam tôn,
Không thọ người khác lễ,
Việc khác không nên làm,
Thế tôn tự chế ngăn.
Nếu không xỉa, đánh răng,
Và ăn chất cay nồng,
Việc này đồng như trên,
Trong luật có nói rõ.
Nếu không hỏi hai thầy,
Được tự làm năm việc:
Đại tiểu tiện, uống nước,
Và xỉa răng đánh răng.
Ở trong cùng một giới,
Trong bốn mươi chín tầm,
Tùy tình lễ chế để,
Việc khác đều bạch thầy.
Như việc rửa tay chân,
Đi ra ngoài thế phần,
Cho đến việc ăn uống…
Thảy đều nên bạch thầy,
Nên bạch mà không bạch,
Mỗi việc đều phạm tội.
Thọ thực nên chánh niệm,
Trao thọ nên y pháp.
Trì y làm phân biệt,
Việc chớ nên sai sót.
Chưa đến mười tuổi hạ,
Không được lìa y chỉ,
Năm tuổi thông hiểu luật,
Tùy ý được du phương,
Nhưng ở chỗ mình đến,
Cần phải tìm y chỉ,
Nếu không người y chỉ,
Không thọ y thực lợi.

I. BỐN PHÁP THA THẮNG

1 – Làm hạnh bất tịnh:

Phật nói ba loại tội:
Vô dư – không thể trị,
Hữu dư – Tăng trừ tội,
Các tội khác – biệt sám.
Bốn Ba la thị ca,
Rất nặng nên cung kính,
Nếu phạm một pháp nào,
Liền thành Bí sô hoại.
Trong mười hai năm đầu,
Tăng đoàn không tỳ vết,
Sạch như nước mùa Thu,
Đến năm thứ mười ba,
Tô trận na sanh tội,
Hành dâm với vợ cũ,
Và Bí sô lan nhã,
Phạm tội nơi Di hầu,
Nên Phật chế học xứ,
Muốn khiến dứt trừ tham…
Đắm trong nghiệp tội dâm,
Tại sao thầy lại làm?
Do Phật quán mười lợi,
Lợi lạc cho nhiều người,
Chế rộng cho Thức xoa,
Vì Như lai đại bi.
Ở nơi ba sang môn,
Do tham dục nên vào,
Rắn Ba la thị ca,
Bị cắn khó trị lành,
Nếu bị người cưỡng bức,
Tâm Bí sô thọ lạc,
Nên biết phạm Tha thắng.
Nơi sang môn đã hoại,
Nơi đối tượng quá nhỏ,
Hoặc sanh chi không khởi,
Thì đều phạm tội Thô,
Thà đem sanh chi mình,
Để trong miệng rắn độc,
Không đưa vào nữ căn,
Chịu khổ báo vô cùng.
Bị rắn độc đen cắn,
Chỉ mất có thân này,
Còn nếu phá giới trọng,
Muôn kiếp chịu khổ đau,
Tướng phạm dâm có nhiều,
Đủ tám chi thành phạm,
Tùy duyên, việc không đồng,
Người trí nên xét kỹ.
Bí sô và người nữ,
Căn cả hai không tổn,
Phương tiện vào quá hạn,
Tâm cả hai thọ lạc,
Hai tội phương tiện đầu,
Tội Thổ la có hai,
Việc nhẹ nặng không đồng,
Trong văn luật nói rõ.

2 – Không cho mà lấy:

Bí sô Đạt ni ca,
Tự làm nhà cho mình,
Lấy gỗ của nhà vua,
Tạo nhân phạm trộm cắp.
Khởi tâm trộm vật người,
Lấy rời khỏi chỗ cũ,
Khởi tưởng vật của mình,
Đủ năm tiền thành phạm,
Hơn năm tiền đồng phạm.
Mới khởi ý – trách tâm,
Xúc chạm – phạm Thổ la.
Đất bằng phẳng thuần sắc,
Kéo đi chỉ tội Thô,
Nếu lồi lõm sắc khác,
Lấy quá phạm Vô dư.
Tâm giận phá bẫy, lưới,
Phạm tội Tốt thổ la;
Làm phước thả hữu tình,
Thì phạm tội Ác tác.
Giành đất có hai loại:
Quan xử đoán, vương gia,
Hai nơi đó được thắng,
Bí sô phạm tội Thô;
Khi người kia xả vật,
Lửa Ba la thị ca,
Thiêu thân Bí sô này.
Chú thuật lấy phục tàng,
Vật báu như Ma ni…
Nếu mắt Bí sô thấy,
Liền phạm tội căn bản.
Muốn ruộng mình thành tựu,
Ruộng của người không thành,
Thiếu nước đấp bờ ruộng,
Sợ tổn khơi nước chảy,
Dựa trên quả thu hoạch,
Mà kết tội trọng khinh,
Khắc tâm lìa các tội,
Làm lợi ích hữu tình.
Tại sao làm Bí sô,
Lại trộm vật người khác?
Làm đệ tử giặc cướp,
Khi cướp lấy vàng bạc…,
Không khai ngộ kẻ giặc,
Tùy việc kết nặng nhẹ,
Nói pháp cho giặc xong,
Hoàn nửa giá hoặc đủ,
Dẫn giặc giao cho quan,
Bí sô phạm Thổ la.
Giặc bắt cóc Cầu tịch,
Bí sô thương đệ tử,
Cứu đi – phạm Thổ la.
Đến phần giới đóng thuế,
Cửa ải và bến đò,
Tự mang hoặc người cầm,
Tâm trộm đi đường khác,
Nếu tính giá vật trộm,
Đủ năm tiền hoặc hơn,
Liền thành tội Tha thắng.
Nếu đến chỗ quan thuế,
Nói vì Phật pháp tăng,
Hoặc là vì cha mẹ,
Khen ngợi công đức kia,
Cho mở thuốc, tiền y,
Vật quý thường cất chứa,
Tác tịnh qua chỗ thuế.
Nếu mượn y người khác,
Do tham tưởng của mình,
Sau nếu không trả lại,
Liền phạm tội Thổ la.
Nếu khi lên trên thuyền,
Vật đã có như bát…,
Hai người trao cho nhau,
Nên cầm trao cẩn thận,
Thầy cầm chắc, tôi buông,
Nếu không nói, vật tổn,
Tính theo giá phải đền.
Người không thỉnh mà ăn,
Ăn liền phạm Ác tác,
Bí sô đã như thế,
Các chúng khác cũng vậy.
Khi vua hay giặc cho,
Hoặc là người ký gởi,
Nếu tâm không phân biệt,
Kia cho vật nên thọ;
Nếu không phải đại nhân,
Thấy thí tài của nguời,
Biết thì không nên thọ,
Không biết, không có lỗi.
Thấy hạng thấp hèn cho,
Nên phải suy nghĩ kỹ,
Không nên thọ nơi họ,
Vì Phật không cho lấy.
Tri sự và người khác,
Đem vật của Tăng cho,
Người nghèo, bịnh nên thọ,
Thọ rồi nghĩ sẽ trả,
Nếu thân chết không tội,
Còn sống cứ tùy duyên,
Gắng sức nên cầu xin,
Đem trả lại cho Tăng.
Vật quý trọng bò, dê…,
Thọ dụng thôn, ruộng, vườn,
Chỉ Tăng mới được thọ,
Cá nhân không được thọ.
Trú xứ và ruộng vườn,
Cùng ngọa cụ… các vật,
Theo lý phải giữ gìn,
Khiến người thí đươc phước.
Vật quý trọng nơi này,
Không được đem cho người,
Không chia, không được bán,
Luật này nói quyết định.
Đứng chỗ cao trong chùa,
Kêu gọi nghe tiếng được,
Nên ở chỗ như vậy,
Xây cất nhà tịnh nhân,
Khi chấp tác mọi việc,
Cho họ y thực lợi;
Nếu bịnh không làm được,
Phật dạy nên thăm nuôi.
Đánh đập và cắt tóc,
Trái ngược với Thánh giáo,
Cột trói não quần sanh,
Thánh hiền đều xa lìa.
Làm phước xả ruộng đất,
Làm phân số nên lấy,
Khi thọ dụng không lỗi,
Đó là pháp vua xưa.
Ở những chỗ bình luận,
Bí sô và Cầu tịch,
Phật dạy không nên nói.
Từ người chánh kiến được,
Đem cho người tà kiến,
Và cho người phá giới,
Là luống đọa tín thí.
Thọ ẩm thực của người,
Nên lượng bụng mà thọ,
Quá nhiều là đọa thí,
Người trì giới nên biết.
Cha mẹ và người bịnh,
Vì lấy không thành tội,
Nếu đem cho người khác,
Phải báo cho chủ biết.
Nơi chỗ đi kinh hành,
Nếu thấy dao và kim…
Báo cho vị kiểm tra,
Gạn hỏi mới trả chủ,
Báo cho chúng biết rồi,
Trong chúng cất ba ngày,
Nếu không người đến nhận,
Sung vào vật thường trụ.
Đem việc mình trao đổi,
Hoặc cho là làm phước,
Bí sô nhận làm thuê,
Việc này Phật không cho.
Tưởng của mình, bạn thân,
Nhiều ít tùy thời dùng,
Không trộm thì không tội,
Nhưng nói cho chủ biết.
Thân hữu có ba loại:
Thượng trung hạ nên biết,
Thuần, trực thì nên thân;
Hời hợt – chớ thân thiết.
Nơi ba loại thân hữu,
Bậc thượng trùm trung hạ,
Bậc trung trùm trung hạ,
Bậc hạ chỉ trùm hạ.

3 – Đoạn mạng người:

Bí sô nhàm bất tịnh,
Cầu Lộc trượng, tự sát,
Làm phước nhưng tham bát…
Cho nên Đại thánh ngăn.
Cố ý, không ngộ sát,
Tự làm, bảo người làm,
Khi khuyên khen người – chết,
Liền chiêu tội Tha thắng.
Hoặc làm phương tiện giết,
Thấy người làm tùy hỉ,
Phóng hỏa đốt núi rừng,
Hoặc chặt phá cây sống,
Hoặc là ăn thịt người,
Đều phạm tội Thổ la.
Bịnh và người nuôi bịnh,
Nếu không biết phương thuốc,
Cần phải hỏi thầy thuốc,
Hoặc hỏi bậc kỳ túc,
Mới đưa người bịnh thuốc,
Khác với đây phạm khinh.
Nếu cung cấp người bịnh,
Theo bịnh trang được chứa,
Vật khác cũng được giữ.
Phật bảo các Bí sô,
Nên thăm nuôi người bịnh,
Hoặc luân phiên tới thăm,
Các việc nên tùy thuận.
Không kính lễ người bịnh,
Bịnh cũng không lễ người,
Tâm tốt đến thăm hỏi,
Nên để ghế mời ngồi.
Không ở trước người bịnh,
Khen ngợi chết là tốt,
Bịnh khổ nghe điều này,
Sẽ thích muốn được chết.
Thầy nên hành bố thí,
Giữ giới không thiếu sót,
Tin sâu nơi Tam bảo,
Sẽ thú hướng niết bàn.
Nếu sau khi thầy chết,
Cung trời chắc không xa,
Niết bàn trong bàn tay,
Chớ buồn thân này chết,
Bí sô nói lời này,
Liền phạm tội Việt pháp.
Nên nói còn thọ lâu,
Bịnh ắt sẽ trị lành,
Thọ lâu như pháp trụ,
Người thiện ở lại lâu,
Niệm niệm hay tăng trưởng,
Phước đức rộng lớn tụ.
Người bịnh có phiền não,
Thầy thuốc giỏi nên khuyên,
Khéo biết thời và xứ,
Cho thuốc chớ tùy nghi.
Cố ý khuyên người – chết,
Không luận tâm thiện ác,
Đều phạm tội Thổ la.
Nếu khởi tâm tham bát…
Nguyện cho người kia chết,
Như kẻ Chiên đà la,
Người này phạm Ác tác.
Chọc cười cũng không nên,
Dùng tay chọc lét nhau,
Chúng mười bảy Bí sô,
Do đây một người chết.
Nếu xây dựng tháp Phật,
Không người tục trợ giúp,
Vác nặng vác không nổi,
Nên làm người thợ chết.
Chuyền gạch tự rớt bể,
Chuyền trao báo cho biết.
Không nên làm ban đêm,
Giống như người làm thuê.
Khi Bí sô giám sát,
Tùy chỗ nên khuyến hóa,
Cho thợ ăn bửa sáng,
Để họ khỏi nhọc mệt.
Nếu là vị tri sự,
Giặc đến, cho náo loạn,
Nhưng không được cố tâm,
Ném đá hại chúng sanh,
Ở ngoài mười khuỷu tay,
Quăng ném cây và đá,
Nên nghĩ nhớ giới học,
Chớ khiến tổn tâm bi.
Người coi ngó trú xứ,
Lớn trong chúng nên hỏi,
Nếu ban đêm thuyết pháp,
Nên khóa chặt cửa nẻo,
Để đề phòng kẻ trộm.
Có năm cách đóng cửa,
Để giữ gìn trú xứ,
Trên dưới nên cài then,
Và khóa cửa cẩn thận,
Tùy chỗ hiện tiền có,
Người ngay thẳng nên làm.
Chỉ làm một hai cách,
Theo thứ lớp bồi thường,
Nếu không làm cả năm,
Mất thì phải đền hết.
Bí sô đi trên đường,
Khi đồng bạn nhiễm bịnh,
Nên tưởng như cha mẹ,
Kính giáo nên cõng theo.
Cha già không đi nhanh,
Sợ đến giờ ngọ thực,
Con đẩy nên cha chết,
Việc này không nên làm.

4 – Vọng nói được pháp hơn người:

Bí sô năm đói kém,
Thật không đức thượng thắng,
Hư dối khen lẫn nhau,
Vì nuôi sống, Phật ngăn.
Không đắc nói tôi đắc,
Pháp tăng thượng thù thắng,
Trừ người tăng thượng mạn,
Thảy đều phạm biên tội.
Tự không pháp hơn người,
Cũng không đắc các định,
Nói đắc Thánh đạo phần,
Sẽ thành đại niết bàn;
Nói đắc pháp tăng thượng,
Chứng được bốn quả Thánh;
Trí là các cảnh khổ…
Kiến là thấy chân đế,
Nói đắc được bốn định,
Một mình trụ định lạc;
Lại nói thấy trời rồng…
Đến nói chuyện với tôi,
Tôi nói chuyện với họ,
Khi nói phạm biên tội;
Lại nói nghe tiếng trời…
Cho đến tiếng Dược xoa,
Thảy đều phạm biên tội.
Nói thấy quỷ phấn tảo,
Thì chỉ phạm Thổ la,
Vì quỷ này thấp kém,
Nên không phạm biên tội.
Nói đắc quả, thông, trí,
Cho đến tưởng vô thường…
Tự cầm kiếm biên tội,
Làm tổn thương thân mình.
Nói có Bí sô thấy,
Báng Tô tất xá già,
Nhưng ý nói là mình,
Khi nói chỉ Ác tác.
Dự đoán thắng, trời mưa,
Sanh nam, nghe tiếng voi,
Quán kỹ mới nên nói,
Khác với đây – tội Thô.

II – 13 PHÁP TĂNG GIÀ BÀ THI SA

1 – Cố ý tiết tinh:

Nếu lìa ba sang môn,
Nơi thân phần mình, người,
Cố tiết chất bất tịnh,
Ắt phạm tội Tăng tàn.
Tiết là ở trong thân,
Tinh rời khỏi chỗ cũ,
Thọ lạc liền thành phạm,
Không cần đợi tinh chảy.
Khi tinh muốn tiết ra,
Nên nhiếp tâm giữ lại,
Lúc đó không phạm trọng,
Chỉ là phạm tội khinh;
Nếu tinh rời chỗ cũ,
Tinh chảy còn trong thân,
Cố tiết ra nơi thân,
Thì phạm tội Thổ la.
Tinh gồm có năm loại:
Nhạt, đặc và sắc đỏ,
Sắc vàng và sắc xanh,
Chuyển luân vương sắc xanh,
Trưởng tử Luân vương – xanh,
Các con khác đều vàng,
Các đại thần sắc đỏ,
Tinh đắc là căn chín,
Nếu là căn chưa thành,
Nữ thương tổn – tinh nhạt.
Nếu cố ý tiết tinh,
Đều phạm tội Tăng tàn.
Nơi các lỗ tường vách,
Cố xúc chạm tiết tinh,
Thì phạm tội Thổ la.
Bị đá lớn xúc chạm,
Tuy động, không xuất tinh,
Tâm nhiễm chạm căn mình,
Chỗ vắng dao động thân,
Hoặc do cầm nắm xuất,
Hoặc ngược gió, ngược dòng,
Đều phạm tội Thổ la;
Nếu thuận gió, thuận dòng,
Thì phạm tội Ác tác.
Nếu với tâm nhiễm ô,
Nhìn ngó sanh chi mình,
Tâm nhiễm không lợi ích,
Thường nên nghĩ trừ bỏ.
Kỳ cọ trong nhà tắm,
Đi – bắp chân chạm nhau,
Bỗng nhiên tinh tự chảy,
Và trong mộng, không tội.
Nếu là hàng Bí sô,
Thì phạm tội Chúng giáo;
Nếu là hàng Cầu tịch,
Thì phạm tội Ác tác.
Nhân tội hai thiên đầu,
Mỗi thiên có trọng khinh,
Nhân trọng thuộc thiên đầu,
Nên sám hối trong chúng,
Khinh – đối bốn ngoài giới,
Nhân trọng thiên thứ hai,
Đối bốn ngoài giới sám,
Khinh – đối một người sám.
Tội Chúng giáo cần Tăng,
Tội khác được đối một,
Nhưng không cho đối trước,
Người đồng phạm phát lồ,
Vì uế không trừ uế,
Mà khiến được thanh tịnh.
Nếu phạm tội Chúng giáo,
Mà có tâm che giấu,
Tùy ngần ấy thời gian,
Mà cho hành biệt trụ.
Khi đang hành biệt trụ,
Lại bị phiền não hại,
Ngu si tạo tội nữa,
Tăng nên cho người này,
Hành pháp Bổn nhật trị,
Như thế đến ba lần,
Y luật giáo cho hành,
Người này đáng thương xót.
Biết do phiền não sanh,
Tâm sanh đại hổ thẹn,
Hoặc hạ mình khiêm tốn,
Tuy điều phục như vậy,
Mà ác không sửa đổi,
Người này nên xả khí,
Đến khi sanh nhàm lìa.
Nếu tâm sanh nhàm lìa,
Tăng nên cho Ý hỉ,
Nước Ý hỉ tưới rửa,
Trừ cấu được thanh tịnh,
Tăng nên cho xuất tội,
Túc số đủ hai mươi,
Tội mới được trừ diệt.
Do nhờ Tăng xuất tội,
Nên gọi là Chúng giáo.
Nếu phát lồ rồi chết,
Hoặc đang hành biệt trụ,
Hoặc chưa được xuất tội,
Cũng sẽ sanh cõi thiện.
Do đây nghĩ thương xót,
Tâm bi không xả bỏ,
Không để nghiệp mình tạo,
Chịu khổ trong đường ác.
Nếu người trì ba tạng,
Bậc tôn ở trong chúng,
Bẩm tánh nhiều hổ thẹn,
Và người đại phước đức,
Tất cả sáu hạng người,
Được đối trước một người,
Sám hối liền trừ tội.
Nhưng tâm phải chí thành,
Ân trọng không khi dối,
Sám rồi không phạm lại,
Gọi là người Ứng pháp.

2 – Xúc chạm người nữ:

Từ chân trở lên đầu,
Tâm nhiễm chạm người nữ,
Không y – phạm Chúng giáo,
Có y – tội Thổ la.
Nếu cố ý xô kéo,
Chạm có y, không y,
Thọ lạc – tội như trên.
Người nữ đến xúc chạm,
Bí sô sanh tâm nhiễm,
Cũng như trên đã nói,
Xô, kéo, y cách đồng.
Vốn khởi ý hành dâm,
Xúc chạm thân người nữ,
Liền phạm tội Thổ la,
Nhân của tội Tha thắng,
Căn cứ trên hành dâm,
Nếu khác – phạm Thổ la.
Bé trai và huỳnh môn,
Bàng sanh đều Ác tác.

3 – Nói lời thô dâm:

Bí sô nói lời dâm,
Không phải người lìa Dục,
Trước người nữ nói dâm,
Tội này nhờ Tăng cứu.
Nói thân cô mịn màng,
Ba sang môn đáng yêu,
Hoặc nói là thô xấu…
Khi nói lời Diệp bà,
Liền phạm tội Chúng giáo,
Không nói lời Diệp bà,
Chỉ phạm tội Thổ la.
Khi người nữ đến cầu,
Không nói lời thô dâm,
Chỉ phạm tội Thổ la.
Người điên cuồng tâm loạn,
Người phạm tội đầu tiên,
Người thống khổ bức bách,
Và cà lăm – không phạm.

4 – Đòi hỏi cúng dường:

Tự khen ngợi đức mình,
Ở trước mặt người nữ,
Phương tiện nói việc dâm,
Dao Chúng giáo liền cắt.
(tức phạm tội Chúng giáo)
Nói nếu cô thương yêu,
Cúng dường bậc thù thắng,
Là cúng dường bậc nhất,
Kia hiểu liền phạm tội.
Đã nói Thi la đủ,
Cùng giới uẩn tương ưng,
Nên biết pháp thiện là
Pháp cùng tương ưng với
Định uẩn và huệ uẩn,
Nên gọi là Tịnh hạnh.
Bí sô tâm nhiễm ô,
Dù chỉ nói một câu,
Mà người nữ hiểu được,
Thì cũng phạm Tăng tàn.
Nếu có người nữ nói,
Lời dâm dục phi lý:
Thầy là người thanh tịnh,
Tôi đem thân cúng dường,
Thầy là người đủ giới,
Bậc thù thắng ứng cúng,
Thật là người khó gặp.
Khi người nữ nói vậy,
Bí sô thuận đáp theo,
Do trong tâm nhiễm ô,
Nên thành tội Chúng giáo.
Nếu nói nữ cúng dường,
Được quả báo vô lượng,
Không nói việc dâm dục,
Thì phạm tội Thổ la.…
Nếu nói lời nhiễm ô,
Bí sô đều phạm tội,
Nhiễm ô trong đây là,
Có tâm đắm nhiễm dục,
Căn cứ trên hành dục,
Mà phạm tội Chúng giáo,
Nếu khác – phạm Thổ la.
Nếu là nam, Phiến sá,
Bàng sanh thì Ác tác.

5 – Mai mối:

Tự làm, sai người làm,
Khiến nam nữ hòa hợp,
Là cầm kiếm Tăng tàn,
Chém tổn thương thân mình.
Thủy thọ và tài sính…
Gồm có bảy loại vợ,
Và mười loại tự thông.
Bảy vợ là thủy thọ,
Tài sính và Vương kỳ,
Tự nhạo, y thực trụ,
Sống chung và chốc lát.
Trao nước cho chàng rễ,
Gọi là vợ Thủy thọ;
Đem tài vật hỏi vợ,
Gọi là vợ Tài sính;
Vua, giặc đánh cướp lấy,
Gọi là vợ Vương kỳ;
Tự hứa làm vợ người,
Gọi là vợ Tự nhạo;
Vì y thực đến ở,
Là vợ Y thực trụ;
Hai người có tiền tài,
Cùng giao ước sống chung,
Đồng làm duyên sinh sống,
Gọi là vợ Cọng hoạt;
Nếu ở tạm không lâu,
Gọi là vợ Tu du.
Bảy vợ nếu chia ly,
Có bảy việc khác nhau:
Cãi lâu mới chia ly,
Bẻ cỏ làm ba đoạn,
Hoặc ném ba viên gạch,
Hoặc nói không phải vợ,
Hoặc y pháp đuổi ra,
Hoặc lớn tiếng tuyên cáo.
Nếu ba loại vợ đầu,
Chia ly khiến hòa hợp,
Thứ tự một hai ba,
Thì phạm tội Ác tác;
Thứ tự bốn năm sáu,
Đều phạm tội Thổ la;
Hòa hợp vợ thứ bảy,
Liền phạm tội Tăng tàn.
Loại tư thông trong đây,
Chồng chết, đi nơi khác,
Người này nếu mẹ hộ,
Gọi là mẹ bảo hộ;
Cha bảo hộ cũng vậy;
Nói thân tộc bảo hộ,
Là người trong thân tộc,
Như anh em, chị em;
Bà la môn, Sát lợi,
Là Chủng tộc bảo hộ;
Bà thư và Câu thư,
Gọi là Tông bảo hộ;
Và vương pháp bảo hộ,
Mười loại bảo hộ này,
Nếu khác là tư thông.
Nếu mai mối tư thông,
Và bốn vợ sau cùng,
Làm cho họ hòa hợp,
Nhất định phạm Tăng tàn.
Nếu Bí sô nói rằng:
Nam này sao không cưới,
Nữ này sao không gả,
Thì phạm tội Ác tác.

6 – Làm phòng nhỏ:

Làm phòng nhỏ cho mình,
Bỉnh pháp, xem – không lỗi,
Đúng lượng làm không phạm,
Khác thì phạm Tăng tàn.
Ở trong phòng nhỏ này,
Chứa được bốn oai nghi,
Khi đi đứng nằm ngồi,
Thọ dụng được an lạc.
Kích lượng như pháp là
Dài mười hai gang tay,
Chiều rộng bảy gang tay,
Một gang tay của Phật,
Bằng gấp ba người thường,
Tức là một khuỷu rưỡi;
Dựa theo người bình thường,
Dài mười tám khuỷu tay,
Rộng mười khuỷu tay rưỡi.
Nói chỗ bất tịnh là
Có rắn rít, kiến, ong…
Nói có tranh chấp là
Gần đường và đại thọ,
Nhà của vua hoặc quan;
Nói không tiến thú là
Gần bờ sông và giếng.
Nếu trừ lỗi như thế,
Hợp lý – cho làm phòng.
Tăng không chỉ mà làm,
Có thế phần tranh chấp,
Chỗ xây cất bất tịnh,
Bí sô phạm Thổ la,
Xây xong phạm Chúng giáo.
Nếu người phạm đầu tiên,
Người điên cuồng tâm loạn,
Bị thống khổ bức bách,
Những người này không phạm.

7- Xây chùa lớn:

Tỳ ha la có chủ,
Vốn không có kích lượng,
Trong đây nói lớn là
Kích lượng và tiền của.

8 & 9 – Vô căn cứ vu báng và giả mượn căn cứ:

Vu báng tội Tha thắng,
Là không có căn cứ,
Muốn hoại tịnh hạnh kia,
Và nói việc tương tợ,
Là hai loại vu báng.
Lúc đó Bí sô ni,
Liên hoa sắc tịnh tín,
Nhân việc đến bên ao,
Đảnh lễ Thật lực tử,
Ở cách đó không xa,
Hữu và Địa nhìn thấy,
Khi đến ao lấy nước,
Thấy hai Nai giao hội,
Thấy rồi nói với nhau:
Bí sô, Bí sô ni,
Thầy thấy hành dâm không?
Đáp là tôi có thấy.
Do oán thù đời trước,
Nên đem việc tương tự,
Vu báng Thật lực tử,
Do duyên khởi như vậy,
Có hai giới sai khác,
Người trí nếu hiểu biết,
Liền thành tội vu báng.

10 – Phá tăng trái can:

Can riêng và chúng can,
Cho đến lần thứ ba,
Muốn phá Tăng hòa hợp,
Nên phạm tội Chúng giáo.
Can riêng không tác bạch,
Nói rằng: này cụ thọ,
Chớ làm không hòa hợp.
Can riêng mà không dừng,
Tăng nên tác yết ma,
Nên dùng pháp bạch tứ.
Phá tăng có hai loại,
Tùy thuận mười bốn pháp:
Pháp nói là phi pháp,
Phi pháp nói là pháp,
Luật nói là phi luật,
Phi luật nói là luật…
Bình luận, phi ngôn tránh,
Phạm tránh và Sự tránh,
Bốn loại tránh trong đây,
Người giác tuệ nên biết.
Nếu dùng những ngôn thuyết,
Chúng không hòa, tâm khác,
Duyên đây sanh đấu tranh,
Gọi là Bình luận tránh.
Nếu người do tức giận,
Phi pháp nói với nhau,
Do đây sanh đấu tranh,
Gọi là phi ngôn tránh.
Có thân, ngữ và tâm,
Ba loại này, mỗi loại,
Hoặc hai, hai, ba loại,
Tổng cọng có sáu duyên:
Bí sô và người nữ,
Không biết đồng nhà ngủ,
Gọi là thân tương ưng;
Nói pháp cho người nữ,
Khi nói năm sáu câu,
Không cố tâm nói thêm,
Tội này chỉ do ngữ;
Ngày thuyết giới nghe hỏi,
Có lỗi mà che giấu,
Đây là tội của ý,
Nên biết phạm Ác tác;
Cố ý hại sanh mạng,
Và không cho mà lấy…
Tội do thân, tâm phạm;
Nói pháp năm sáu câu,
Cố ý nói thêm câu,
Tội do ngữ, tâm phạm,
Vọng ngữ cũng như vậy;
Cố tâm khởi sát hại,
Và bảo đánh thân kia,
Là do thân, ngữ, tâm.
Tạo tội trong ba tâm,
Nói tâm thiện phạm là,
Ở trong chùa, tinh xá,
Nhổ cỏ không cho mọc;
Hoặc khởi tâm cúng dường,
Kết tràng hoa nên phạm.
Tâm vô ký phạm là,
Không cố ý chống trái,
Tăng chế, lời Phật dạy,
Do không có ác tâm,
Nên gọi là vô ký;
Nếu cố tâm chống trái,
Thì gọi là tâm bất thiện.
Khi tạo tác tội lỗi,
Duyên đây sanh đấu tranh,
Thì gọi là Phạm tránh;
Như thế bạch… các việc,
Nói không phải là thiện,
Tránh cãi sanh náo loạn,
Là Sự tránh nên biết.
Muốn làm việc phá Tăng,
Không biết – phạm Ác tác,
Nếu can riêng – không bỏ,
Liền thành tội Ác tác,
Bạch – không bỏ – Thổ la,
Tác yết ma lần đầu,
Lần thứ hai cũng vậy,
Lần ba – phạm Chúng giáo.

11- Trợ giúp phá Tăng trái can:

Những người tùy thuận này,
Là chúng Bí sô ác,
Can riêng… các sai khác,
Thảy đều giống giới trên.

12 – Làm nhơ nhà người:

Nếu làm nhơ nhà người,
Có hai loại sai khác:
Một là ở xen tạp,
Thứ hai là thọ dụng.
Ở xen tạp với nữ,
Đùa giỡn và trạo cử…;
Thọ dụng là ăn chung,
Hái các loại hoa quả,
Nơi mắt tai, ý thức,
Thấy nghe và hay biết,
Can riêng… các sai khác,
Phạm Ác tác như trên.

13 – Tánh ác trái can:

Người tánh ác như vậy,
Phạm vào tội Chúng giáo,
Không nghe theo lời thiện,
Nên gọi là tánh ác.
Đã nói đồng học xứ,
Nên nghe lời chỉ dạy,
Tùy thuận pháp thanh tịnh;
Đã nói là đồng pháp,
Tùy thuận lời Phật dạy,
Can riêng mà không bỏ,
Tội nặng nhẹ như trên.
Mười ba việc như thế,
Giáo do Tăng xử đoán,
Chín giới đầu liền phạm,
Bốn sau ba lần can.

III – HAI PHÁP BẤT ĐỊNH

Bí sô Ô đà di,
Cùng Cấp đa thân mật,
Do việc ấy bất định,
Một Bí sô, một nữ,
Cùng ngồi nơi chỗ khuất,
Làm việc dâm hoặc không,
Là hai pháp Bất định.
Khuất là không người khác,
Việc ẩn mật chẳng một,
Tường, rào, đêm, liếp ngăn,
Rừng cây là thứ năm,
Đi đứng và ngồi nằm,
Bí sô nói sự thật,
Như lời tịnh tín nói,
Theo việc mà trị tội.
Nếu không nói sự thật,
Tăng cho Cầu tội tánh,
Pháp bạch tứ yết ma.
Người bị pháp trị phạt,
Không độ người xuất gia,
Không truyền thọ Cận viên,
Không được làm y chỉ…
Hành trị phạt trọn đời,
Nơi tội không quyết định,
Nên gọi là Bất định.

IV – 30 PHÁP XẢ ĐỌA:

1 – Chứa y dư không phân biệt:

Bí sô quá mười ngày,
Chứa y không phân biệt,
Bụi đất Ni tát kỳ,
Dính dơ thân người tội.
Y đã cắt, may, nhuộm,
Gọi là y đã thành,
Đã nói cất chứa y,
Nghĩa là của mình có,
Chi phạt la thành rồi,
Chưa xuất Yết sỉ na,
Trong đây có bốn câu.
Lông, đay và vải thô,
Yết tử bá và lụa,
Cao nhiếp bà, sợi gai,
Đây là bảy loại y.
Vải dư tối thiểu là
Rộng dài một khuỷu tay,
Liền phạm Ni tát kỳ.
Nên xả mà không xả,
Nơi tội không sám hối,
Lại không làm gián cách,
Tội Đọa không trừ được.
Trong ba nếu làm một,
Hoặc hai – không thanh tịnh;
Ba việc đều làm đủ,
Mới gọi người không lỗi.
Nơi tội này chưa sám,
Sau đó lại được nữa,
Tội sau nhiễm tội trước,
Đều đồng Ni tát kỳ.

2 – Lìa y ngủ đêm:

Thường cùng ba y chung,
Không duyên, không lìa ngủ,
Trừ đượcTăng tác pháp,
Khác với đây liền phạm.
Một, hai, rất nhiều nhà,
Ngoài thôn hào bao quanh,
Tường vách khắp bốn phía,
Một và nhiều thế phần.
Thế phần là phạm vi,
Cho đến miếu thờ trời,
Hoặc sai khác hoặc một,
Gọi là một thế phần.
Một dãy nối tiếp nhau,
Gọi một nhà nên biết;
Người thôn dã, hạ tiện,
Như một loại đồng thôn,
Hai nhà, hai dãy khác,
Người thôn dã Phạm chí,
Lắp đặt rất nhiều cửa,
Gọi là rất nhiều nhà;
Thế phần trong đây là,
Bên ngoài rộng một tầm,
Chỗ gà bay đáp xuống,
Khoảng bằng chỗ xay giã…
Nhà, phố, tiệm, lầu, sân,
Cho đến nhà ngoại đạo,
Chỗ thuyền, cây, xe, vườn,
Một và nhiều thế phần.
Huynh đệ không phân biệt,
Hoặc chỉ một chủ nhà,
Đây gọi là một nhà,
Và là một thế phần.
Nếu nhà có nhiều phòng,
Do phòng riêng, cửa riêng,
Nên sanh nhiều thế phần.
Nên biết các thế phần,
Có một, khác sai biệt;
Ngoại đạo kiến giải khác,
Một, khác, thế phần khác.
Ở nhà của nhạc công,
Thế phần cũng như trên,
Ngoài – chỗ để giá, trống,
Cho đến chỗ phá tre…
Chỗ cành cây giao nhau,
Đây là một thế phần;
Bóng cây, chỗ mưa rơi,
Bên ngoài khoảng một tầm,
Người, y cùng thế phần,
Để ba y ở đây,
Bí sô tùy chỗ ngủ,
Thảy đều không phạm tội.
Thế phần khi đi đường,
Khoảng bốn mươi chín tầm,
Ngồi đứng nằm lìa y,
Không ra ngoài một tầm.

3 – Một tháng mong cầu y:

Tuy được Chi phạt la,
Hy vọng được nơi khác,
Khai cho trong một tháng,
Không phân biệt – không phạm.
Một tháng là thời y,
Sau đó là phi thời.
Trông mong nơi người thân,
Nơi Thâm ma xá na,
Có y của người chết,
Y tống táng vãng hoàn,
Họ bỏ y phấn tảo,
Phấn tảo chỗ lan nhã,
Bỏ ngoài đường, trùng cắn,
Cho đến y rách nát.
Lại có năm loại khác:
Lửa cháy hoặc nước ngấm,
Và nhũ mẫu bỏ y,
Chuột gặm và bò nhai.
Kế giải thích ba y,
Thứ tự may nên biết,
Y mới và đã dùng,
Gọi là hai loại y.
Nếu Tăng già lê mới,
Cắt rọc may hai lớp,
Ni sư đàn cũng vậy,
Y khác đều tùy ý.
Nếu là vải đã dùng,
Muốn may Tăng già lê,
Thì nên may bốn lớp,
Y khác may hai lớp,
Nếu tăng thêm nhiều lớp,
Khi muốn tách rời nhau,
Người tách rời được trì,
Mười ngày nên phân biệt.
Điều số của đại y,
Có ba phẩm chín bậc,
Từ chín điều cho đến,
Hai mươi lăm điều số,
Ba phẩm y đầu có,
Hai đàn dài, một ngắn;
Ba phẩm y kế có,
Ba đàn dài, một ngắn;
Ba phẩm y sau cùng,
Bốn đàn dài, một ngắn.
Kích lượng của đại y,
Y thượng ba khuỷu tay,
Y hạ bốn khuỷu rưỡi,
Ở giữa là y trung,
Y bảy điều, năm điều,
Kích lượng đều tương tự.
Kích lượng y năm điều,
Rộng bốn năm, dài hai,
Nếu người nghèo khó được,
Phật thương xót khai cho,
May y đo theo người,
Nếu khuỷu tay người này,
Cực dài hay cực ngắn,
Đo theo thân mà may,
Ba y thượng trung hạ.
Lượng của khuỷu tay là,
Ngắn hai ngón, dài bốn,
Ở giữa là trung bình,
Dưới lượng khuỷu tay này,
Không đúng pháp thọ trì.
Nếu là loại y lông,
Không được mặc vào thôn,
Cũng không đến trong chúng,
Ăn và lễ kính tháp,
Khởi tưởng vật thí chủ,
Mà cho làm phân biệt.
Đại y không cắt rọc,
Không được mặc vào thôn,
Làm trái – phạm Ác tác,
Có nạn sự tùy khai.
Nếu muốn ký gởi y,
Người không tin, ghét mắng,
Ưa tranh khó ở chung,
Và người bị diệt tẫn,
Thì không nên ký gởi.
Bí sô được ký gởi,
Dù ở nơi hải ngoại,
Cũng được làm thân hữu,
Để phân biệt y dư.
Biết người ký gởi chết,
Ở nơi Bí sô khác,
Làm người ký gởi y.
Nếu khi phân biệt y,
Không đối trước Cầu tịch;
Nếu người đem y vật,
Gởi cho Bí sôkia,
Nếu biết vị ấy chết,
Y vật này cho chúng,
Ở bên viền các y,
Hãy nên làm chấm mực,
Để y không lẫn lộn,
Dễ biết không nhọc tâm.
Bí sô bịnh qua đời,
Đem sáu vật vị ấy,
Thưởng cho người nuôi bịnh,
Còn lại T8ang được chia.
Ba y nên cắt rọc,
Ni sư đàn cũng vậy,
Mười ba y tự cụ: Ba y và tọa cụ,
Nê bà san hai loại,
Tăng khước kỳ có hai,
Hai khăn lau mặt, thân,
Cho đến y cạo tóc,
Và y che phủ ghẻ,
Mười ba – tư cụ thuốc,
Đều nói tên thọ trì,
Còn các y dư khác,
Mỗi mỗi nên phân biệt,
Tùy theo chỗ mà làm.
Bí sô cần nên biết,
Không mặc Tăng khước kỳ,
Thì không mặc thượng y,
Thọ dụng nên ái hộ,
Vật khác cũng như vậy.
Đáng nhuộm thì nên nhuộm,
Đáng may thì nên may,
Đáng trì thì nên trì,
Nên tác pháp phân biệt.
Bí sô được y mới,
Ba màu nhuộm hoại sắc,
Xanh, đá đỏ, vỏ cây,
Để bỏ ý tham nhiễm.
Tử khoáng, hồng lam, Uất kim hương,
Chu sa, đại thanh và hồng thiến,
Hoàng đan, tô phương – tám đại sắc,
Bí sô không nên lấy nhuộm y.
Mền dày Cao nhiếp bà,
Nệm lông và giạ lông,
Cho đến vật nhẹ mỏng,
Không cắc rọc nên trì.
Trừ loại y lông dài,
Được thiếp lá thọ trì,
Không để người thiểu dục,
Khâu may khổ cực thân.
Nếu mặc y năm điều,
Được làm việc nặng nhọc;
Bảy điều ở chỗ tịnh,
Cho làm việc – không ngăn.
Tăng già lê – trong chúng,
Ăn và kính lễ tháp,
Cho đến mặc vào thôn.
Mền dày cao nhiếp bà,
Nệm và mền lông thú,
Các y phục dầy nặng,
Chớ giặt trong nước trùng.
Khi ngủ nên cảnh giác,
Chớ lìa y ngủ đêm.
Y phục khác không nhuộm,
Cũng khai cho tạm trì,
Không bịnh mặc một y,
Là có nạn tùy khai.
Khi đi đường dừng nghỉ,
Mượn được mền lông dầy,
Nên chia đều thọ dụng,
Không chỉ người mượn được.
Thọ dụng vật Tăng kỳ,
Trong ngoài đều phải ngăn,
Nếu là y giạ lông,
Không nên mặc du hành.
Nếu là Cao nhiếp bà,
Chỉ Tăng già được chứa,
Các loại lông tạp khác,
Cá nhân đều được chứa.
Muốn cho hạ quần chắc,
Phật cho dùng dây lưng,
Có ba loại nên biết,
Là dẹp, tròn và vuông.
Bí sô mặc áo trong,
Không nên ngủ thân trần.
Bí sô có y phục,
Không nên thuê người giặt,
Nếu thuê được người tốt,
Giặt trong bồn từ từ;
Không tốt – vò rách y,
Lại làm phai màu nhuộm,
Rách nhanh phế việc tu,
Do đây Đại sư ngăn.
Nếu người đủ thi la,
Khéo thọ dụng y phục,
Khiến thí chủ tăng phước.
Kích lượng đãy y là:
Rộng một khuỷu tay rưỡi,
Dài trung bình ba khuỷu,
Tăng thêm thì không cho.
Bí sô được y khác,
Giặt đập cho sạch sẽ,
Ngâm nước cho phai màu,
Mới hợp nghi xuất gia.
Tôn đà lợi may y,
Thật đẹp cho Nan đà,
Sợ sanh tâm kiêu mạn,
Nên Đại sư chế định,
Nên dùng một miếng vải,
Chiều rộng một gang tay,
Dài một khuỷu tay rưỡi,
Rồi dùng đất đỏ nhuộm,
Trên Tăng già lê mới,
May thiếp vào đầu vai,
Sợ mồ hôi dơ y,
Tâm kính nên thọ dụng.
Nếu viền y sắp rách,
Nên dùng chỉ khâu lại,
Chớ bỏ mặc thủ trì.
Khi người vừa mới chết,
Chớ lấy y phục họ,
Không cố làm thương tổn,
Để lấy y tử thi,
Bí sô lấy y này,
Chớ hại đến trùng kiến,
Đem phơi bảy tám ngày,
Giặt nhuộm sạch mới dùng.
Người mặc y tử thi,
Không dùng ngọa cụ Tăng,
Khất thực đứng ngoài cửa,
Không được vào nhà người,
Nếu chủ nhà mời vào,
Đáp tôi ở rừng thi,
Nếu ân cần thỉnh nữa,
Thì được vào nhà ngồi;
Nếu bên tháp kính lễ,
Chu vi cách một tầm,
Không nên ăn cá thịt,
Cũng không được ở nhà.
Nếu là y Tăng kỳ,
Không nhuộm được thọ trì,
Không phạm Ni tát kỳ;
Y người khác có phạm,
Nên xả y theo pháp.

4 – Nhờ Ni không phải bà con giặt y:

Vì thấy ở trên y,
Dính chất tinh bất tịnh,
Cấp đa khởi tham dục,
Nên có thai sanh con.
Bí sô nhờ giặt y,
Là Ni không bà con,
Hoặc nhuộm và đập giũ,
Tội Xả đọa hại thân.
Nếu nhờ Ni giặt đập…,
Tùy một việc liền phạm;
Không bà con hoặc nghi,
Thì chiêu tội Ác tác,
Nếu dùng tay vừa đập,
Hoặc nhúng vào nước nhuộm,
Dù Bí sô tâm thiện,
Cũng khuyết học xứ này.

5 – Thọ y từ Ni không phải bà con:

Nếu ni không bà con,
Bí sô thọ y phục,
Không có tâm thương xót,
Khi được phạm Xả đọa;
Không cho cũng không lấy,
Trao đổi thì không phạm.
Bán y tính theo giá,
Mua nên theo ý kia.
Bí sô ni có y,
Quyết ý đem bố thí,
Nghe nói pháp vi diệu,
Hoan hỉ cúng pháp sư;
Hoặc thấy Bí sô kia,
Bị giặc đoạt y – thí,
Bí sô thọ không phạm.

6 – Xin y từ vợ cư sĩ không phải bà con:

Nơi cư sĩ không thân,
Hoặc nơi vợ cư sĩ,
Nếu Bí sô xin y,
Được liền phạm Xả đọa.
Nếu xin chỉ, hạ y,
Được y thượng thù thắng,
Xin ít, được cả y,
Bí sô thọ không phạm.

7 – Xin y quá lượng:

Bí sô bị cướp y…
Có người thí nhiều y,
Chỉ thọ y thượng, hạ,
Không nên thọ quá lượng,
Y thượng mười một khuỷu,
Y hạ bảy khuỷu tay,
Là thọ từ người tục;
Nếu khi thọ đại y,
Y thượng mười lăm khuỷu,
Y hạ mười khuỷu tay.
Nếu theo họ xin y,
May y xong còn dư,
Nên đem trả cho chủ,
Nếu họ thí trở lại,
Bí sô được tùy thọ.

8 – Khuyên mua y tốt cúng:

Nếu vợ chồng cư sĩ,
Lo liệu giá tiền y,
Bí sô nghe, theo cầu,
Khi được phạm Xả đọa.
Không bà con như trên,
Nếu được bảy loại y,
Thể y là bền chắc,
Nên gọi là thanh tịnh.
Nếu xin giá tiền y,
Từ năm cho đến mười,
Ca lợi sa ba noa,
Sắc lượng y đều tốt,
Khi xin phạm Ác tác,
Khi được phạm Xả đọa.
Bí sô nếu không y,
Dung nghi không đoan nghiêm,
Nên Phật chế ba y.

9 – Khuyên vợ hai cư sĩ không bà con hùn mua một y:

Việc y đồng như trước,
Chỉ khác cho tiền y,
Nên xem phần duyên khởi,
Có tội và không tội.

10 – Vua quan đưa giá tiền y:

Nếu là vua quán đảnh,
Các hàng Bà la môn,
Đại thần và tướng soái,
Sai sứ mang tiền y,
Đến đưa cho Bí sô,
Đáp là không thể thọ,
Chỉ thọ y thanh tịnh.
Nói cho sứ hiểu rồi,
Chỉ chỗ người chấp sự,
Gọi là người tín tâm.
Khi Bí sô cần y,
Được đến đòi sáu lần,
Nếu đòi lại được y,
Thì thọ thành thanh tịnh,
Nếu theo đòi quá sáu,
Thì phạm tội căn bản.
Nếu qua lần thứ sáu,
Người kia mang y đến,
Đáp là tôi dứt tâm,
Hãy trả lại chủ y.
Nếu người kia ân cần,
Xin hoan hỉ nhận cho,
Thì Bí sô nên thọ,
Khi dùng không phạm tội.
Chỗ đến đòi có bốn:
Là xưởng, nhà, ruộng, tiệm;
Xưởng là chỗ làm gốm,
Nhà chính là nhà ở,
Ruộng là nơi trồng trọt,
Các loại như lúa, mía…
Tiệm để bán hàng hóa.
Có sáu cách hỏi đòi,
Đợi nói đáp từ từ,
Nếu như nói gấp gáp,
Liền chiêu tội Ác tác;
Nếu thấy Bí sô đến,
Kia chào hỏi thiện lai,
Rồi mời ngồi chỗ này,
Hoặc bảo người dọn cơm,
Hoặc là mời ăn bánh,
Hoặc uống nước phi thời.
Thí chủ, sứ, tịnh nhân,
Ba người này thanh tịnh,
Tùy có phi nhân thì,
Chiêu lấy tội Ác tác.
Bí sô ký gởi y,
Khởi tưởng là thân hữu,
Thân hữu – dùng không lỗi,
Trên đường biết kia mất,
Liền thành vật người chết.

11 – Dùng tơ tằm làm phu cụ:

Nếu làm nệm tằm mới,
Khi thành phạm Xả đọa,
Có hai loại không đồng,
Vỏ ngoài và bên trong,
Cả hai thành liền phạm,
Khác thì dùng không phạm.
Làm lợi ích thí chủ,
Để phước kia tăng trưởng.

12 – Dùng toàn lông dê đen làm phu cụ:

Không dùng lông toàn đen,
Để làm phu cụ mới,
Khi tìm cầu khó được,
Sẽ trở ngại chánh tu.

13 – Dùng lông quá phần làm phu cụ:

Nếu như dùng lông dê,
Bốn cân làm ngọa cụ,
Hai đen, loại khác một,
Là như pháp không tội.
Đen là như lông quạ,
Lông nơi cổ là trắng,
Ở đầu, bụng và chân,
Lông thô xấu nên biết.
Nếu như lông trắng thiếu,
Cho đến chừng nửa lạng,
Khi làm phu cụ xong,
Liền phạm tội Xả đọa.
Nếu lông đen dễ tìm,
Loại lông khác khó tìm,
Cũng cho làm thuần đen,
Nếu từ người khác được,
Thì tùy ý thọ dụng.

14 – Thọ trì phu cụ sáu năm:

Nếu tự làm phu cụ,
Bắt buộc trì sáu năm,
Trong sáu năm mà làm,
Thành liền phạm Xả đọa,
Trừ Tăng tác yết ma.
Thủ trì mới một năm,
Lại làm cái thứ hai,
Khi làm phạm Ác tac,
Khi thành phạm Xả đọa.
Hai ba bốn cũng vậy,
Cho đến hết năm năm,
Qua đến năm thứ sau,
Muốn làm không ngăn cản.

15 – Không may thiếp lên tọa cụ mới:

Nếu làm tọa cụ mới,
Theo gang tay của Phật,
May thiếp lên vật mới,
Hoại sác khiến bền chắc,
Nếu trong khoảng gang tay,
Cố ý giảm chút ít,
Liền chiêu lấy bổn tội.
Nếu cái cũ mục nát,
Không thể dùng được nữa,
Hoặc chỉ có cái mới,
Không may thiếp – không phạm.

16 – Gánh mang lông dê:

Không tự gánh lông dê,
Đi quá ngoài ba trạm,
Đi nửa Câu lô xá,
Nửa thôn – phạm Ác tác;
Quá một Câu lô xá,
Qua một thôn liền phạm.
Cho chút ít làm mũ,
Lén mang thì không tội.

17 – Nhờ Ni không bà con chải lông dê:

Bí sô ni không thân,
Bí sô nhờ giặt chải,
Cho đến nhuộm lông dê,
Phạm Xả đọa nên biết.

18 – Cầm giữ vật báu:

Phật ngăn các Bí sô,
Cầm giữ vàng… vật báu,
Nếu ba y, lương thực,
Thuốc bịnh được mang đi,
Bí sô nên thiểu dục,
Ít tạo tác mong cầu,
Tâm thú hướng niết bàn,
Thọ biết lượng, biết thời.

19 – Xuất nạp cầu lợi:

Xuất nạp vì cầu lợi,
Tiền, vật báu, lúa thóc…
Đều phạm tội Xả đọa.
Cầu lợi có hai loại,
Cầu xa và thời hạn,
Tìm cầu bạn đồng hành,
Đi đến những chỗ khác,
Mua vật vào bán ra,
Thu lợi gấp mấy lần,
Đó gọi là cầu xa;
Khi cho người vay tài,
Làm biên nhận bảo chứng,
Đó gọi là thời hạn.
Vì muốn cầu sanh lợi,
Biên nhận tính thời gian,
Lợi tăng lên gấp bội,
Đó gọi là sanh lợi.
Thu trử các vật báu,
Như Ma ni, chân châu…
Làm khế ước rõ ràng,
Đó gọi là nạp chất,
Khi lợi chưa sanh khởi,
Thì phạm tội Ác tác,
Khi đã được sanh lợi,
Liền phạm tội Xả đọa.
Thành là đã làm thành,
Các món đồ trang sức;
Không thành chính là vàng…
Vì Tam bảo cầu lợi,
Nên sai vị tri sự,
Không làm trái pháp tục,
Nhưng chớ có kết giao,
Vua quan và thí chủ,
Cho dễ đòi lại khó,
Hoặc không đòi lại được.
Nạp chất khéo quán sát,
Tính toán vật nên cho,
Người thiện đáng giao phó,
Không xuất nạp – không phạm.

20 – Mua bán giao dịch:

Không người giao dịch riêng,
Bí sô tự phải mau,
Xem kỹ rồi mới nói,
Trả giá chỉ ba lần,
Nếu có mua bán gì,
Vốn không cho cầu lợi,
Nếu bản thân cần gì,
Thì mua bán không phạm.
Vì Tam bảo mua bán,
Vị tri sự nên làm,
Chớ trái với pháp tục.
Nếu có người thiết cúng,
Đến chùa làm giao dịch,
Cũng nên uyển chuyển cho,
Khiến họ sanh tín tâm.

21 – Chứa bát dư:

Chứa bát có hai loại,
Bát sắt và bát gốm,
Cất chứa quá mười ngày,
Liền phạm tội Xả đọa.
Bát đúng lượng hay giảm,
Có dư được cất chứa,
Cho người thọ Cận viên,
Không phân biệt – không phạm.

22 – Xin bát:

Chưa tới năm lằn nứt,
Không cho xin bát khác,
Là ngăn xin bát mới,
Nếu muốn trám bát răng,
Không dùng vật nấu chảy,
Đường đen, thiếc, tử khoáng,
Bùn, sáp thảy đều ngăn.
Trám bát có năm cách,
Trám lá sắt, lá đinh,
Đinh sắt và sắt vụn,
Khâu theo hình răng cá.
Theo pháp mà trao đổi,
Được thì không phạm tội.
Khi xin phạm Ác tác,
Khi được phạm Xả đọa,
Bát phạm Xả đọa này,
Nên xả ở trong Tăng,
Ở trong Tăng hành bát,
Chuyển lấy cái sau cùng,
Đưa cho Bí sô phạm,
Bảo như pháp thọ dụng.
Bát có thượng trung hạ,
Thượng thọ hai thăng cơm,
Và thọ thêm thức ăn,
Hạ thọ một thăng cơm,
Và thọ thêm thức ăn,
Giữa hai loại là trung.
Nếu bát có lỗ hổng,
Nên để tâm vá trám.

23 – Tự xin tơ bảo người không bà con dệt:

Thợ dệt không bà con,
Không trả tiền, bảo dệt,
Được thì phạm Xả đọa;
Trả tiền và bà con,
Bảo dệt thì không phạm.

24 – Bảo thợ dệt không bà con dệt y cho tốt:

Cư sĩ bảo thợ dệt,
Dệt y cho Bí sô,
Bí sô không nên đến,
Tâm siểm bảo thợ dệt,
Dệt dài, rộng, chà vuốt…
Rồi đem thức ăn cho,
Thợ dệt y theo lời,
Được y – phạm Xả đọa.
Dệt dài là rộng lớn,
Chà khiến y mềm láng,
Vuốt khiến tơ khỏi rối,
Đập khiến y bền chắc,
Đem thức ăn là bánh,
Và năm món ăn chánh.

25 – Đoạt y lại:

Bí sô cho người y,
Giận không nên đoạt lại,
Thương xót thì không tội.
Động thân đoạt – thân nghiệp,
Bảo trả lại – ngữ nghiệp,
Tùy trong hai nghiệp này,
Làm một liền phạm tội.
Nếu y chưa rời thân,
Thì chỉ phạm Ác tác,
Nếu lìa – phạm Xả đọa.

26 – Y cấp thí:

Y lợi cúng trong hạ,
Người ngồi hạ được chia,
Không chia cho người khác.
Nếu có nạn thí y,
Gọi là y cấp thí,
Vàng, bạc… đều được thọ,
Cấp thí có năm loại:
Bịnh và vì người bịnh,
Sắp chết, vì người chết,
Sắp đi xa nên thí,
Còn mười ngày Tùy ý (tự tứ),
Lúc này được thọ vật,
Nếu qua khỏi thời y,
Thì không cho chứa nữa.
Nếu thí chủ nói rằng:
Tôi sẽ tự tay thí,
Hãy thọ rồi cất giữ.
Chúng cất giữ không tội,
Nếu được lợi Tùy ý (tự tứ),
Đều thuộc người ngồi hạ,
Và người không ngồi hạ,
Cùng làm lễ Tùy ý.

27 – A lan nhã lìa y:

A lan nhã có sợ,
Trong ba y của mình,
Một y gởi nhà tục,
Để tránh nạn nghi sợ,
Ở đó lìa y ngủ,
Được sáu đêmkhông tội,
Đến sáng ngày thứ bảy,
Nên trở lại lan nhã.
Nếu không tiền an cư,
Gọi là hậu an cư,
Trong hạ nếu có giặc,
Thì gọi là nạn giặc,
Nói có nghi sợ là,
Sư tử, cọp… thú dữ,
Cho đến loài trùng độc,
Não loạn các Bí sô.

28 – Y tắm mưa:

Mùa xuân còn một tháng,
Từ mười lăm tháng tư,
Đến mười lăm tháng năm,
Được xin y tắm mưa,
Cách ngày tiền an cư,
Một tháng nên thọ trì,
Nhập hạ tùy ý dùng,
Trong vòng hai tháng rưỡi,
Nếu xin y mưa sớm,
Cất giữ quá thời hạn,
Thì liền phạm Xả đọa.
Nếu vào ngày Tùy ý,
Được thí y tài tốt,
Làm y Yết sỉ na,
Tăng bạch nhị yết ma,
Giao cho người trương y,
Đối trước chúng nên thọ,
Tăng đã cùng tác pháp,
Ân cần nên dụng tâm,
Trong một ngày may thành,
Thể y cần bền chắc,
Như pháp may y xong,
Dùng hương hoa cúng dường,
Để ở trước đại chúng,
Trương y nên biết pháp,
Do trương Yết sỉ na,
Bí sô được lợi ích,
Là ở trong mười ngày,
Không phân biệt – thủ trì;
Không mang Tăng già lê,
Được mặc tình du hành;
Thường ăn, ăn biệt chúng,
Thảy đều không có tội;
Không dặn lại Bí sô,
Được vào trong thôn xóm.
Trong văn luật đủ mười,
Đây lược nói có năm,
Từ mười lăm tháng tám,
Đến mười lăm thàng giêng,
Trong vòng năm tháng này,
Là thời Yết sỉ na.
Người hành Hạ ý xong,
Và người hành biệt trụ,
Không đủ hạ và phá,
Hậu an cư, Cầu tịch,
Cho đến người thọ học,
Không thọ Yết sỉ na,
Nên không được lợi này,
Lợi khác đều nên cho.
Lại có năm hạng người:
Phá thi la, hạnh hoại,
Đại chúng tác pháp ngăn,
Theo bạn đảng phi pháp,
Người an cư chỗ khác,
Năm hạng người như thế,
Không lợi, không nhiêu ích,
Vì không tiêu tín thí.

29 – Hồi chuyển Tăng vật về mình:

Vật của Hiện tiền tăng,
Hồi chuyển về cho mình,
Lợi của người khó tiêu,
Sẽ chịu khổ Nê lê.
Người khác thí y, vàng…
Cho đến thức ăn uống,
Ngăn không đem đến cúng,
Gọi hồi chuyển nên biết.
Lợi dưỡng của Tăng này,
Hồi chuyển cho Tăng khác,
Thì chiêu tội Ác tác,
Không phải tội căn bản;
Đem lợi của Tăng khác,
Hồi chuyển cho Tăng này,
Nếu vật thuộc Tăng này,
Thì cả chúng phạm tội.
Tượng Phật, tháp và người,
Cho đến loài bàng sanh,
Xoay chuyển đều Ác tác.

30 – Thất nhật dược:

Đối trước Bí sô thọ,
Bốn loại dược hàm tiêu:
Tô, dầu, mật, thạch mật
Thủ trì trong bảy ngày,
Tùy tình tự lấy dùng,
Quá bảy ngày liền phạm,
Ni tát kỳ nên xả,
Đối trước thiện Bí sô,
Nên sám hối tội Đọa,
Gián cách qua một đêm,
Mới hoàn trả lại y,
Bổn chủ nên theo xin,
Nếu kia không hoàn lại,
Sau nên cưỡng đoạt lại.
Nếu trong ba việc trên,
Chỉ làm có một việc,
Lại được y khác nữa,
Do kia chưa thanh tịnh,
Tội sau nhiễm tội trước,
Khi thọ thảy đều phạm.
Y vật phạm nên xả,
Nên có tên là Xả,
Tội phạm đọa ba đường,
Nên gọi là Xả đọa.

=========================================================

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ NẠI DA TỤNG

Nguyên tác: Tôn giả Tỳ xá khư
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh đời Đường
Việt dịch: Ban phiên dịch chùa Pháp Bảo, HT Thích Tịnh Hạnh giám tu- năm 2005
Hiệu đính và nhuận văn: NS Thích nữ Như Lộc tại chùa Phổ Minh – năm 2010.

QUYỂN TRUNG

V – 90 PHÁP BA DẬT ĐỀ:

1 – Cố vọng ngữ:

Người ở thành Vương xá,
Cho đến các Bí sô,
Đến hỏi La hỗ la:
Phật nay đang ở đâu?
Thế tôn đang ở đây,
Lại đáp là ở kia.
Đại sư do việc này,
Nên nói hai bài kệ:
Cố làm người vọng ngữ,
Trái với một pháp Thật,
Hiện đời làm các ác,
Đời sau chịu khổ báo.
Thà nuốt hòn sắt nóng,
Ngọn lửa dữ đáng sợ,
Không đem miệng phá giới,
Phi pháp ăn cơm người.
Do Bí sô vọng ngữ,
Nên Phật chế học xứ,
Có chín loại sai khác,
Cho đến nơi hai loại,
Năm pháp và ba căn.
Chín loại là Tha thắng…
Giới, kiến, quỹ, tà mạng;
Năm pháp là Tha thắng…
Ba căn: thấy nghe nghi.
Lại có tám loại vọng,
Năm pháp với ba căn;
Lại có bảy loại vọng:
Giới, kiến, quỹ, tà mạng,
Ba căn thấy nghe nghi.
Lại còn có ba thời:
Đã, đang và sẽ nói;
Với ba căn thành sáu.
Mỗi loại giảm như vậy,
Người trí nên suy biết.
Nói năm loại vọng là:
Khi nói pháp hơn người,
Vọng này phạm Tha thắng;
Nếu hai loại vu báng,
Là không có căn cứ,
Đối người kia không thật,
Vọng này phạm Chúng giáo;
Nếu ở trước Tăng già,
Pháp nói là phi pháp…
Vọng này phạm Thổ la;
Nếu vào ngày trưởng tịnh,
Hỏi có thanh tịnh không,
Im lặng che giấu tội,
Vọng này phạm Ác tác;
Vọng ngữ trong thiên này,
Có bốn loại sai khác,
Và các vọng ngữ khác,
Đều nhiếp vào tội Đọa.
Năm loại vọng ngữ này,
Thể trọng khinh sai khác,
Không lẫn lộn với nhau.
Nếu ở chỗ không thấy…,
Điên đảo nói là thấy…,
Cố ý nói – người hiểu,
Liền chiêu lấy tội Đọa.

2 – Chê bai khinh hủy:

Bàng sanh bị chê bai,
Là con bò gảy sừng,
Còn không nhẫn chịu được,
Huống chi chê bai người.
Nên Phật bảo Bí sô,
Thường làm lợi chúng sanh.
Nếu Bí sô cố ý,
Chê bai về dòng tộc,
Như dòng Bà la môn:
Thầy – Phạm chí xuất gia,
Liền phạm tội Ác tác;
Chê bai Sát đế lỵ,
Tâm cợt đùa – Ác tác;
Phệ xá, Thủ đà la,
Chê bai thành bổn tội.
Cho đến các chủng loại,
Thợ mộc, lông, thợ dệt,
Thợ may và thợ tre…
Chê bai đều phạm Đọa.
Chê bai về nghề nghiệp,
Như nói Bà la môn:
Nghề khéo của Phạm chí,
Thanh tịnh cần nên học,
Sa môn thì cần gì,
Liền phạm tội Ác tác.
Như nói Sát đế lỵ:
Về giáo mác, cung tên,
Việc này thầy nên học,
Cũng phạm tội Ác tác.
Cho đến nghề nghiệp của,
Phệ xá, Thủ đà la,
Nghề tạp như đan tre…
Chê baiđều phạm Đọa.
Chê bai về hình tướng,
Như què lệch, mù lòa,
Lùn thấp và câm điếc…
Thảy đều phạm tội Đọa.
Chê bai về bịnh tật,
Như ung nhọt, ung thư,
Bịnh lại, trĩ, ghẻ ngứa…
Thảy đều phạm tội Đọa.
Chê bai về phạm tội,
Nói thầy không thanh tịnh;
Chê bai về phiền não,
Nói thầy có phẫn hận…
Cho đến khinh chửi mắng,
Cùng ác ngữ tương ưng,
Thảy đều phạm tội Đọa.
Chê bai khinh hủy về:
Dòng tộc và nghề nghiệp,
Tác nghiệp, hình tướng, bịnh,
Phạm tội và phiền não,
Gọi là Hủy tử ngữ.

3 – Ly gián ngữ:

Bí sô nói ly gián,
Muốn chia rẽ người khác,
Do vì tâm xúc não,
Liền chiêu lấy tội Đọa.
Nếu Bí sô nói rằng:
Thầy – thợ cạo thấp hèn,
Hỏi là ai đã nói,
Liền đáp tên người kia,
Thì phạm tội Ác tác.
Như trong học xứ trên,
Nói dòng tộc, nghề, thợ…
Nên biết tội tương tợ,
Người trí không nên làm.

4 – Phát khởi yết ma diệt tránh:

Chúng hòa hợp tác pháp,
Đồng tâm làm việc ấy,
Nếu người nào hủy phá,
Liền chiêu lấy tội Đọa.
Tăng nhất tâm hòa hợp,
Đã như pháp như luật,
Diệt trừ bốn loại tránh,
Bình luận tránh nên biết,
Đã đồng tâm bỉnh pháp,
Nơi việc không do dự,
Nếu bảo thời không tốt,
Phạm tội phá yết ma.
Chưa làm tưởng làm rồi,
Hoặc nghi mà hủy phá,
Thì phạm tội Ác tác,
Khác với đây – không phạm.
Nếu xử đoán việc này,
Tưởng xử đoán việc khác,
Nên biết dứt, chưa dứt,
Phạm tội đồng như trên.
Hiện tiền năm hạng người:
Chủ nhân, bỉnh yết ma,
Người trì dục, người thấy…
Và khách Bí sô đến.
Trong đây chủ nhân là
Người biết đầu giữa sau;
Người bỉnh yết ma là,
Người tác pháp yết ma;
Nói người trì dục là,
Mang dục người khác đến;
Người thấy sự việc là,
Hiện tiền ở trong chúng,
Ngã ái thấy như vậy,
Nên bàn luận như vậy;
Khách Bí sô đến là,
Không biết đầu giữa sau.
Ba hạng người đầu phá,
Thì đều phạm tội Đọa,
Hai hạng người sau phá,
Đều phạm tội Ác tác.

5 – Nói pháp cho người nữ quá 5,6 lời:

Nói pháp cho người nữ,
Chỉ đến năm sáu lời,
Trừ có nam trí huệ,
Quá thì phạm tội Đọa.
Tất cả sắc vô thường,
Thọ tưởng hành cũng vậy,
Và thức là năm lời,
Người minh huệ nên biết.
Mắt tai mũi và lưỡi,
Thân, ý đều vô thường,
Tất cả là sáu lời,
Người trí huệ nên biết.
Khi nói đến năm câu,
Cố ý thêm câu sáu;
Hoặc định nói sáu câu,
Cố nói bảy đồng phạm.
Nếu cà lăm không lỗi,
Cho đến nói lấp bấp,
Hoặc nữ trí hỏi lại,
Giải đáp thì không phạm.

6 – Đồng câu tụng với người chưa thọ Cận viên:

Cùng người chưa Cận viên,
Đồng câu tán tụng pháp,
Tùy tụng đều phạm tội,
Khai đồng tụng không phạm.

7 – Nói tội thô của người khác cho người chưa thọ Cận viên biết:

Biết người phạm tội Thô,
Nói người chưa Cận viên,
Liền chiêu lấy tội Đọa,
Nếu đại chúng tác pháp,
Cho nói thì không phạm.
Sao gọi là tội Thô?
Là Ba la thị ca,
Tăng già bà thi sa,
Không thuộc thiên tội khác.

8 – Nói thật được pháp hơn người cho người chưa thọ Cận viên biết:

Nếu Bí sô đến nói,
Với người chưa Cận viên,
Thật được pháp hơn người,
Thì phạm Ba dật đề,
Nếu như nói ngũ cái,
Là pháp người phàm biết,
Không phải pháp thượng nhân,
Hoặc cảnh giới tĩnh lự,
Thì Bí sô không phạm.

9 – Vu báng hồi tăng vật:

Nói người đem vật Tăng,
Hồi chuyển cho người khác,
Khi nói lời vọng ngữ,
Liền chiêu lấy tội Đọa.

10 – Khinh chê giới:

Nửa tháng thuyết giới kinh,
Gọi là thời trưởng tịnh,
Nếu nói lời khinh giới,
Liền chiêu lấy tội Đọa.
Cần gì trong giới kinh,
Nói tiểu, tùy tiểu giới,
Khiến người sanh phiền não,
Gọi là khinh chê giới.
Nhàm chán, nghi sanh não,
Lừa ưu sầu thiêu đốt,
Khiến người khởi tâm hối,
Khi nói liền phạm Đọa.
Nếu ở trong luật giáo,
Các giới nhỏ đã có,
Bí sô khinh chê thì,
Thảy đều phạm tội Đọa.

11 – Hoại sanh chủng:

Loại sanh chủng đã có,
Cho đến htôn hữu tình,
Củ, cành, đốt và mầm,
Mình, người tổn đều phạm.
Nếu từ củ được sanh,
Thì gọi là giống củ,
Như củ Hương phụ tử,
Củ gừng, khoai… nên biết;
Giống cành từ cành sanh,
Cắm xuống đất liền mọc,
Như cây Liễu, Bồ đề,
Cây Thạch lựu… nên biết;
Giống đốt cắt lấy đốt,
Cắm xuống đất liền mọc,
Như đốt mía, lau, tre…
Giống nứt tét như hạnh…
Giống hạt như hạt lúa…
Có Bí sô giải thích,
Loại từ chủng tử khác,
Như phân bò mọc sen,
Lông dê sanh cỏ mịn…
Loài hữu tình như kiến…
Tổng nhiếp các sanh mạng;
Thôn chỉ cho cây cối,
Chỗ hữu tình nương ở,
Tưởng và nghi làm tổn,
Thảy đều phạm tội Đọa.
Các giống quả như thế,
Xứng cảnh ắt phạm tội,
Giống khác; tưởng, nghi khác,
Nên biết cũng phạm tội.
Nếu đem năm loại giống,
Để vào trong cối giã,
Khi hạt giống tổn hoại,
Đồng thời phạm năm tội;
Nếu không có tổn hoại,
Phạm năm tội Ác tác,
Để vào lửa, nước sôi,
Phạm tội Đọa như trên.
Nếu cố ý tổn hoại,
Du hành trên cỏ xanh,
Hoại thì phạm tội Đọa,
Không hoại – tội Ác tác;
Nếu ở trên cỏ xanh,
Kéo vật làm thương tổn,
Hoặc tưới, xốinước sôi,
Đồng tội Đọa như trên.
Nếu dùng một phương tiện,
Chặt đứt một gốc cây,
Phạm một tội Ác tác,
Và một Ba dật đề;
Nếu dùng hai phương tiện,
Thì phạm hai Ác tác,
Một tội Đọa nên biết;
Tùy phương tiện nhiều ít,
Phạm chừng ấy Ác tác,
Một tội Đọa nên biết.
Nếu hoa quả chưa trổ,
Ngó sen và củ sen,
Tùy hoại đều phạm Đọa.
Vỏ nứt tét, lá vàng,
Hoa và quả đã trổ,
Hái, ngắt – tội Ác tác.
Cần tăm xỉa răng tịnh,
Cho đến lá và hoa,
Khi lấy vì tịnh nói,
Không nên bảo chặt, bẻ;
Thủy tảo và bèo nổi,
Rêu xanh và mốc trắng…
Kéo lê không nên làm.
Sao gọi là nói tịnh?
Là nói ông nên biết,
Nếu hiểu là cho tịnh,
Tịnh thì không phạm tội.
Tác tịnh có mười loại,
Lửa, đao, cỏ, chim, móng…
Khi xây cất chặt cây,
Nên theo thần cây xin,
Đem hoa quả thức ăn,
Cúng tế nên theo thời,
Nên tán tụng kinh pháp,
Hoặc tụng kinh Tam khải,
Nói cho thần cây biết,
Mười thiện, mười ác báo,
Hành thiện được quả vui,
Nếu khác – đọa đường ác.
Hiển công đức thí kia,
Nên nói tội xan tham.
Như thiên nữ dạo chơi,
Ở trong vườn Hoan hỉ,
Được hưởng mãi phước lạc,
Đều do nhân bố thí;
Ngạ quỷ đói khát bức,
Không nghe đến tên nước,
Luân hồi trong các nẽo,
Thọ khổ vô cùng tận,
Tập khí từ vô thỉ,
Thường bị phiền não bức,
Mình người không lợi ích,
Đều do xẻn tham trói.
Bảy ngày không tướng lạ,
Cũng không có máu chảy,
Được chặt đại thọ này,
Có tướng lạ – không chặt.

12 – Chê bai khinh tiện:

Nếu Bí sô khinh chê,
Cho đến dùng lời thô,
Phạm tội có nặng nhẹ,
Như trong phần duyên khởi,
Nay lược nói đại cương.
Đại chúng tác bạch nhị,
Sai người chia cơm cháo,
Phòng xá và bánh trái;
Người chia tạp vật khác,
Cất y Yết sỉ na,
Cất y Chi phạt la,
Cho đến người chia y,
Người giữ y tắm mưa…
Những người được sai này,
Nếu Bí sô khinh chê,
Liền chiêu lấy tội Đọa,
Giận mắng cũng tội Đọa.

13 – Chống trái xúc não:

Khi có người chỉ dạy,
Chống trái – phạm tội Đọa,
Xúc não nói lời khác,
Hoặc im lặng không đáp,
Thảy đều phạm tội Đọa.
Trừ thợ săn đến hỏi,
Có thấy nai chạy qua,
Sợ thợ săn hại Nai,
Phương tiện nói lời khác,
Như nói thấy móng tay,
Thật lý – không hữu tình,
Thì Bí sô không phạm.

14 – Không cất phu cụ:

Nếu ở nơi đất trống,
Trải giường tòa của Tăng,
Trừ có dặn trao người,
Bỏ đi phạm tội Đọa.
Nếu lìa khỏi chỗ cũ,
Muốn đi ra ngoài giới,
Chưa lìa thế phần giường,
Thì phạm tội Ác tác;
Nếu khi vừa mới đi,
Trời mưa – phạm Ác tác,
Nếu nước mưa thấm ướt,
Liền phạm Ba dật đề.
Nói ba loại làm hoại,
Là trùng gió và mưa;
Khi trong ngoài đều tổn,
Thì gọi là trùng phá;
Bị gió thổi lật ngược,
Thì gọi là gió hoại;
Mưa ướt lớp thứ hai,
Gọi mưa hoại nên biết.
Nếu phu cụ trong phòng,
Bị trùng làm tổn hoại,
Thì phạm tội Ác tác.
Ban đầu đi không nhớ,
Giữa đường bỗng sực nhớ,
Liền nên phải trách tâm;
Nếu gặp Bí sô khác,
Nhờ cất giùm ngọa cụ,
Ân cần dặn coi ngó,
Nếu kia hiểu, nhận lời,
Nhưng lại không nhớ cất,
Thì phạm Ba dật đề.
Người tục đến thỉnh thực,
Mượn tòa ngồi nên cho,
Và sai người coi giữ.
Nếu người nuôi bịnh này,
Bịnh, già nua, phá giới,
Lại chưa thọ Cận viên,
Dù chớ nhờ nuôi bịnh.
Hai người ngồi một tòa,
Người nhỏ nên thu cất,
Nếu tuổi hạ bằng nhau,
Người đứng dậy sau cất.
Nếu khi nghe thuyết pháp,
Thấy Thượng tòa già yếu,
Thu cất phu cụ Tăng,
Người nhỏ nên làm thay.
Phật chế các Bí sô,
Nên hầu hạ tôn lão,
Tôn lão cho y chỉ,
Cả hai đều lợi ích.
Nếu có nạn sự đến,
Để tòa nơi chân tường,
Và gốc cây – không phạm,
Không duyên chớ đoạn thực.
Khi đọc tụng chánh pháp,
Phải ngồi trên tòa cao,
Vì kính trọng Đại sư,
Nên mới làm tòa cao,
Ngồi đọc tụng lời Phật,
Người hảo tâm đến nghe,
Nên sắp xếp chỗ ngồi.
Cư sĩ trải tòa báu,
Thỉnh ngồi, tùy ý ngồi,
Khi ngồi nên nhiếp niệm,
Tưởng các hành vô thường,
Và khởi ý như sau:
Đây là vật thí chủ,
Tuy là báu trang nghiêm,
Khi ngồi không có lỗi.
Ở trong cung Dược xoa,
Cung trời rồng được ngồi,
Trên tòa báu trang nghiêm,
Muốn họ được tăng phước,
Đây là Mâu ni dạy.

15 – Không cất phu cụ cỏ:

Nếu khi ở trong chùa,
Dùng nhiều phu cụ cỏ,
Khi đi không nạn sự,
Tự cất, bảo người cất,
Đều giống như giới trên.
Người giữ giới nên biết,
Phu cụ cỏ trong nhà,
Muốn bỏ hỏi chủ nhà,
Ngăn thì không được bỏ.
Người tu định kinh hành,
Trải dài mười hai khuỷu,
Người siêng tu niệm tụng,
Cũng mười hai nên biết;
Đất cứng nên trải cỏ,
Không trải, chân tổn thương,
Phòng nạn – dọn gián cách,
Không có duyên xúc não.

16 – Kéo người khác ra khỏi Tăng phòng:

Nếu giận Bí sô khác,
Từ trú xứ đuổi ra,
Người kéo phạm tội Đọa,
Trừ khi có nạn duyên.
Nếu không tự tay kéo,
Bảo Bí sô khác kéo,
Cả hai đều phạm Đọa;
Nếu bảo Cầu tịch kéo,
Bí sô phạm tội Đọa,
Cầu tịch phạm Ác tác.

17 – Gắng gượng xúc não người khác:

Nếu như có Bí sô,
Cố ý đem thức ăn,
Ngon dỡ hay lạnh nóng,
Bảo Bí sô khác ăn,
Để xúc não – phạm Đọa.
Bí sô đến ở trước,
Trong nhà ăn, nhà ấm,
Nhà tắm, gần bên cửa,
Hoặc dưới mái hiên nhà…
Nơi tòa và ngọa cụ,
Họ chưa có ý dời,
Thì Bí sô đến sau,
Không được bảo dời đi.

18 – Cố buông thân ngồi trên giường sút chân:

Nếu ở trong phòng trên,
Không ngồi giường sút chân,
Nếu dùng ván lót đỡ,
Thì ngồi không phạm tội.
Nói giường sút chân là
Chân sút khỏi lỗ mộng,
Chân giường cũ hư mục,
Nếu không ván lót đỡ,
Thì lật ngữa giường lên,
Sẽ không tổn người khác,
Lượng thời nên thọ dụng.
Nếu dùng đinh sắt đóng,
Cho chân giường đừng sút,
Hay dùng dây cỏ cột,
Mặc tình để thuận nghịch.

19 – Dùng nước có trùng:

Trong nước có sanh mạng,
Đem tưới cây và đất,
Tự làm, bảo người làm,
Thảy đều phạm tội Đọa.
Nước trùng có tưởng, nghi,
Vẫn phạm Ba dật đề;
Không trùng, tưởng nghi trùng,
Thì phạm tội Ác tác.
Mượn người khác gàu dây,
Người cho dùng múc nước,
Lượt nước nên xem kỹ,
Nếu đục để quả đen,
Để cho nước lắng trong;
Nếu nước có bụi đục,
Soi nước không thấy mặt,
Phải ân cần lọc lượt,
Thanh tịnh mới không tội.
Có năm loại tịnh thủy:
Nước giếng và nước suối,
Pháp bình không kẻ hở,
Nước trong Tăng già lam,
Nước của người trì giới,
Năm loại nước sạch này,
Tùy ý được uống dùng.
Đãy lượt nước có năm:
Tháo quán và quân trì,
Pháp bình, đãy lượt nước,
Cho đến dùng chéo y,
Dụng tâm xem kỹ nước,
Trùng nhỏ như đầu lông.
Không nhọc công xem hoài,
Thì xem chừng bao lâu?
Như xe bò chuyển động,
Chặt tre Ma kiệt đà,
Là thời gian xem nước.
Nếu trong bình nước kia,
Khởi tâm nghi có trùng,
Thì phải nên xem kỹ,
Không nghi mới được dùng.
Cho đến Câu lô xá,
Hoặc đi một trạm đường,
Biết chỗ kia có nước,
Không đãy lượt được đi;
Nếu định trở về liền,
Đi nửa trạm không phạm.
Thuận dòng theo bờ sông,
Cứ mỗi Câu lô xá,
Xem kỹ nước mới dùng,
Khác với đây không nên.
Tùy dòng chảy lấy nước,
Đều nên xem và lượt,
Nếu lấy nước nơi giếng,
Nên tụng kệ Phật nói,
Tùy chỗ có thiên thần,
Nên theo họ xin nước.
Lu, bình dính chất dơ,
Dụng ý chà rửa sạch,
Tùy thời phơi cho khô,
Để chứa nước được sạch.
Việc của người tục làm,
Cầu tịch không nên làm;
Việc của Cầu tịch làm,
Bí sô không nên làm.
Bí sô so với Ni,
Có việc phạm, không phạm,
Đều nên xem xét kỹ,
Y theo giáo hành trì.
Nếu thấy trong ao, giếng,
Có cơm bánh hay rau,
Nên lượt lắng rồi dùng,
Vì nước này là tịnh.
Chỗ người tục xin nước,
Y pháp xem nước kỹ,
Dù ở trong phi thời,
Được tùy ý uống dùng.
Bình đựng rượu và bô,
Dùng để đại tiểu tiện,
Hãy nên vất bỏ đi;
Nếu là bình đựng dầu,
Dùng lửa hơ, chà rửa,
Cho sạch hết chất dầu,
Rồi mới dùng đựng nước,
Phi thời dùng thành tịnh.
Khi người nữ xin nước,
Bí sô nên đưa cho,
Không nên rót liên tục,
Chớ sanh tâm tham nhiễm.

20 – Xây chùa lớn quá hạn lượng:

Xây Tỳ ha la lớn,
Làm móng, chỗ thoát nước,
Lắp đạt cửa, cửa sổ…
Cho sáng và thông gió.
Nếu muốn xây tường vách,
Nên trộn cỏ với bùn,
Đổ móng hai, ba lớp,
Ngang ngạch cửa, chớ quá,
Nếu đổ quá ba lớp,
Liền phạm Ba dật đề.

21- Tăng không sai giáo thọ Bí sô ni:

Đủ giới có văn trì,
Đủ hai mươi tuổi hạ,
Nói lời thiện viên mãn,
Chưa từng ô nhục Ni,
Khéo hay giải thích được,
Tám tha thắng, bát kỉnh,
Đủ bảy đức nên sai,
Không đủ – không nên sai;
Hiểu rành Tu đa la,
Tỳ nại da, Mẫu luận,
Thì cho giáo thọ Ni.
Nếu không ai giáo thọ,
Đại chúng dạy điều gì,
Thượng tòa nên truyền lời,
Cho Ni cầu giáo thọ:
Ni chúng thanh tịnh không,
Và có hòa hợp không,
Trong đây không Bí sô,
Đến giáo thọ cho Ni,
Ni chớ có phóng dật,
Chớ để giới tổn thất,
Là nhân đọa ba đường.

22 – Giáo thọ đến mặt trời lặn:

Bí sô được Tăng sai,
Đến giáo thọ cho Ni,
Tuy có đủ Thi la,
Nhưng cần phải về sớm,
Không cho đến trời lặn.
Mặt trời lặn tưởng lặn,
Hoặc nghi sanh do dự,
Mà vẫn còn giáo thọ,
Phạm tội Đọa không nghi.
Chưa lặn tưởng trời lặn,
Hoặc là khởi tâm nghi,
Thì phạm tội Ác tác.
Chùa ni cửa không đóng,
Hoặc là cửa gần nhau,
Hoặc là nhiều giáo thọ,
Trời lăn cũng không phạm.
Ni cúng dường thức ăn,
Cho vị giáo thọ sư,
Vì Ni nên thọ thực,
Để Ni được tăng phước.

23 – Vu báng Bí sô vì ăn uống nên giáo thọ Ni:

Nếu với ý ganh ghét,
Vu báng vị giáo thọ,
Do sanh tâm bất thiện,
Nên phạm Ba dật đề.
Nếu thật có tham nhiễm,
Dạy Ni cầu ăn uống,
Bí sô như thật nói,
Thì không có phạm tội.

24- Cho Ni không bà con y:

Nếu Ni không bà con,
Không được cho y phục,
Vì do tâm tham cầu,
Không xét lường người cho,
Là đủ, không đủ y.

25 – May y cho Ni không bà con:

Nếu Ni không bà con,
Không may y cho họ,
Do thêu hình xấu xa,
Khiến người tục chê bai.

26 – Đi chung đường với Ni:

Bí sô đến nơi khác,
Làm bạn đường với Ni,
Nạn giặc nhiều sợ hãi,
Cùng đi thì không phạm.
Nếu bạn đồng hành bịnh,
Không nên bỏ giữa đường,
Bí sô, Bí sô ni,
Lần lượt giúp đỡ nhau,
Ni tự mang lương khô,
Bí sô được làm tịnh,
Bí sô từ Ni tịnh,
Thọ dùng chớ có nghi.

27- Đi chung thuyền với Ni:

Bí sô cùng với Ni,
Ngồi chung thuyền xuôi ngược,
Việc này Phật không cho,
Đi thẳng sang – không phạm.

28 – Một mình ngồi với người nữ ở chỗ khuất:

Bí sô Ô đà di,
Cùng nữ ngồi chỗ khuất,
Người thấy sanh chê bai,
Phật chế không nên làm.

29 – Một mình ngồi với Ni ở chỗ khuất:

Bí sô Ô đà di,
Cùng với ni Cấp đa,
Ngồi ở nơi chỗ khuất,
Theo như phần duyên khởi,
Nói một Bí sô ni,
Nếu là ba chúng ni,
Thảy đều phạm tội Đọa.

30 – Biết Bí sô ni khen ngợi được thức ăn:

Bí sô biết Ni kia,
Khen ngợi – được thức ăn,
Ăn liền phạm tội Đọa,
Khen ngợi có hai đức:
Đủ giới và đa văn;
Đủ giới, chứng Dự lưu;
Cho đến A-la-hán;
Đa văn Tu đa la,
Tỳ nại da, Mẫu luận.
Thật đủ đức như vậy,
Thì khen ngợi không phạm;
Nếu thật không đủ đức,
Ni khen ngợi vì lợi,
Biết mà ăn thức ăn,
Thì liền phạm tội Đọa.

31- Triển chuyển thực:

Nếu Bí sô không bịnh,
Không phải thời thí y,
Làm việc và đi đường,
Ăn no rồi – ăn nữa,
Khi ăn liền phạm tội.
Một lần ăn không an,
Nên gọi là có bịnh;
Được y một khuỷu tay,
Gọi là thời thí y;
Chỗ Tăng phường, Chế để,
Khoảnh đất như chiếc chiếu,
Quét lau và chà rửa,
Gọi là thời làm việc;
Đi nửa Du thiện na,
Bí sô đi và về,
Gọi là thời đi đường,
Ăn nữa thì không phạm.
Nếu chỗ thỉnh có y,
Lại thọ chỗ không y,
Thọ chỗ sau – Ác tác,
Khi ăn phạm tội Đọa.
Chỗ thỉnh trước không y,
Chỗ thỉnh sau có y,
Thọ thỉnh cả hai chỗ,
Ăn đều không phạm tội.
Chỗ thỉnh trước có y,
Chỗ thỉnh sau có y,
Hai chỗ tùy ý ăn,
Thảy đều không phạm tội.
Nếu bỏ chỗ không y,
Đi đến chỗ có y,
Khai nạn duyên và y,
Không việc khác nên biết.
Nếu thí chủ thiết thực,
Thỉnh tất cả Tăng chúng,
Vị thọ sự trong chúng,
Đến giờ đánh kiền chùy,
Nếu có khách mới đến,
Nên báo cho chỗ thỉnh,
Biết là có thêm người,
Nếu im lăng không báo,
Đến thọ thực không nên.

32- Chỗ thí một bữa ăn thọ quá:

Chỗ ở của ngoại đạo,
Bí sô dừng lại đây,
Không bịnh ăn một bữa,
Nếu ở thêm ngày nữa,
Thì phạm tội Ác tác,
Nếu ăn thêm bữa nữa,
Khi ăn phạm tội Đọa.
Tâm thí chủ bình đẳng,
Hoặc là chỗ thân tộc,
Cho dù ăn nhiều ngày,
Cũng không có phạm tội.

3 3 – Thọ thức ăn quá ba bát:

Thí chủ không tùy ý,
Nếu được cơm bánh bún…
Được thọ hai ba bát,
Thọ quá thì phạm Đọa.
Bát lớn nếu lấy ba,
Hai bát lớn, một trung,
Hai bát lớn, một nhỏ,
Hai bát trung, một lớn,
Hai bát trung, một nhỏ,
Được đầy bát mang về,
Thảy đều phạm tội Đọa.
Ba bát nhỏ không phạm,
Bà con hoan hỉ cho,
Được thọ nhiều không phạm,
Thọ rồi mang trở về,
Chia đều cho Bí sô.

34 – Ăn no đủ:

Bí sô ăn no rồi,
Không cho ăn thêm nữa,
Không làm pháp dư thực,
Ăn liền phạm tội Đọa.
Năm loại Khư đà ni,
Không phải thức ăn no,
Chánh thực ăn no rồi,
Cũng không nên ăn nữa.
Năm loại Bồ thiện ni:
Cơm, bún, thịt cá, bánh,
Là chánh thực nên biết.
Nếu người trao đứng gần,
Ăn no rồi nên ngăn,
Từ tòa xả oai nghi,
Đủ năm việc như thế,
Gọi là ăn no đủ,
Nếu thiếu một trong năm,
Không gọi là no đủ.
No rồi ngăn đừng trao,
Gọi là pháp ngăn đủ,
Nếu nói hãy chờ chút,
Phật khai cho không phạm.
Nếu tác pháp dư thực,
Có năm việc không nên:
Không một bên, sau lưng,
Không ôm bát trong lòng,
Không để chỗ trống không,
Và không để trên đất,
Bí sô rửa hai tay sạch,
Cầm bát thức ăn đến,
Trước Bí sô đang ăn,
Nên quỳ gối bạch rằng:
Xin thầy nhớ nghĩ biết,
Tôi làm pháp dư thực.
Bí sô kia lấy ăn,
Chừng hai ba miếng rồi,
Nói thức ăn này của thầy,
Thầy cứ tùy ý ăn.
Nếu Bí sô kia ăn no,
Nhưng chưa rời chỗ ngồi,
Cũng đối trước người ấy,
Tác pháp giống như trên,
Chỉ khác ở chỗ là,
Bí sô kia không ăn,
Chỉ dùng tay chạm vào,
Thức ăn ở trong bát,
Rồi bảo tùy ý ăn.
Nếu không phải chánh thực,
Như sữa lạc, cháo lỏng…
Không thành ăn no đủ,
Nếu cắm thìa không đứng,
Hoặc quẹt không thấy vết,
Thì gọi là cháo lỏng.
Nếu ăn chưa no đủ,
Khởi tưởng là no đủ,
Và sanh nghi do dự,
Ăn nữa phạm Ác tác.

35 – Khuyên người ăn no đủ ăn nữa:

Biết người ăn no đủ,
Không làm pháp dư thực,
Trong lòng khởi tâm ác,
Khuyên ăn nữa, tội sanh.
Biết no đủ, tưởng nghi,
Ân cần khuyên ăn nữa,
Muốn khiến kia phạm tội,
Thì người này phạm Đọa.
Bí sô khi thọ thực,
Không nên dùng hai chân,
Đáp lá đựng thức ăn;
Nếu bịnh thì không phạm,
Bí sô nếu không bịnh,
Mang giày không nên ăn,
Bịnh nên rút chân ra,
Đạp trên giày không phạm.
Nếu người trao thức ăn,
Đứng phía sau hay xa,
Chỗ không vói tay tới,
Thảy đều không thành thọ;
Nếu người trao đứng gần,
Phía trước không che ngăn,
Người thọ ngữa tay thọ,
Thức ăn sớt vào bát,
Dù có rơi xuống mâm,
Cũng thành thọ không nghi.
Vi trần có nhiều loại:
Hoa quả uống ăn, y,
Có xúc và không xúc,
Tịnh và bất tịnh khác,
Việc bụi đất nhiều thứ,
Có tịnh và bất tịnh,
Thấy sắc không rõ ràng,
Gọi là không cần thọ;
Nếu tướng bụi rõ ràng,
Không thọ không nên ăn.
Thức ăn dính dơ y,
Nếu không giặt liền phạm.
Bí sô khi thọ thực,
Nhỏ mà ngồi trên già,
Biết, tưởng hoặc sanh nghi,
Thì phạm tội Ác tác,
Ngày ngày thường tăng trưởng.
Đem thức ăn cho người,
Nếu khởi tâm mong cầu,
Người kia trao cho lại,
Bất tịnh – không nên ăn.
Nếu không tâm mong cầu,
Sau từ người khác được,
Gọi là thức ăn tịnh,
Thọ ăn không có phạm.
Chớ bảo người hành thực,
Cho tôi thức ăn kia,
Tùy dọn đưa mà ăn,
Nếu bịnh thì không ngăn.
Nếu Bí sô ăn xong,
Để dành ít thức ăn,
Bố thí cho chúng sanh.
Nếu khi có đại hội,
Vị thọ sự, người bịnh,
Bí sô sắp đi xa,
Cho đến người nuôi bịnh,
Được tùy ý ăn trước.
Nhân Bí sô Lung noa,
Phật khai cho ăn cháo,
Chúng tăng đều được ăn,
Vua Ảnh thắng thí ruộng,
Phật khai cho Tăng thọ.
Nhân luận về pháp ăn,
Cùng bốn dược tương ưng,
Yếu môn về tịnh địa,
Tùy việc đều phải biết.
Cơm bánh bún cá thịt,
Chánh thực là Thời dược,
Thường ăn nuôi thân mạng;
Nước Bồ đào, chuối, táo…
Gọi là Phi thời dược;
Tịnh nhân và Cầu tịch,
Lượt nước ép trái cây,
Như nước mía, nước nho…
Dùng để uống phi thời;
Nói Thất nhật dược là,
Tô, dầu, mật, thạch mật…
Bảy ngày dùng không phạm;
Tận hình thọ dược là,
Củ, rễ, thân cành, lá…
Như pháp nên thọ trì,
Vô hạn được thọ dụng,
Tùy bịnh đều cho dùng.
Tử khoáng và A ngụy,
Hoàng lạp và nhựa cây,
Dầu mè – năm loại tro;
Lại có năm loại muối,
Am một la, cây đắng,
Thất diệp Thi lợi sa…
Là Tận hình thọ dược.
Bốn loại dược như vậy,
Đều trị bịnh đói khát,
Thú hướng đến niết bàn.
Bồ đào và thạch lựu,
Am bà và ba tiêu,
Ngó sen… là Thời dược,
Xen tạp ba dược sau,
Theo thế lực dược trước,
Thọ dụng đều không phạm.
Các loại mở gấu, heo…
Đều dùng để trị bịnh,
Được thọ dụng phi thời.
Thầy thuốc bảo Bí sô,
Bịnh nên ăn thịt tươi,
Trừ thịt người, rắn, voi;
Thấy cá thịt mang đến,
Hỏi tịnh rồi mới ăn.
Trong phạm vi chùa tháp,
Không nên nấu thức ăn,
Kết tịnh trù có năm:
Một là sanh tâm tịnh,
Tăng muốn lập tịnh trù,
Trong trú xứ đo đất,
Trộn hồ làm nền móng,
Người xây cất biết pháp,
Sanh tâm tịnh tác pháp:
Nay tôi ở nơi đây,
Lập tịnh trù cho Tăng,
Tâm nghĩ, nói ba lần.
Hai là cọng ấn trì,
Xây chùa được phân nửa,
Tri sự đối trước Tăng,
Bạch ba lần như sau:
Chỗ này làm tịnh trù.
Ba là ngưu ngọa tịnh,
Nếu người xây cất chùa,
Cửa phòng không thẳng hàng.
Bốn là phế cố tịnh,
Nếu có trú xứ tăng,
Bí sô bỏ đi lâu,
Người sau giải giới cũ,
Kết giới mới không phạm.
Năm là tác pháp tịnh,
Tăng bạch nhị yết ma,
Đồng tâm kết tịnh trù.
Bí sô không tác pháp,
Chứa thức ăn, nấu ăn,
Thảy đều thành bất tịnh,
Kết tịnh trù thành tịnh.
Tác tịnh có mười cách:
Đao, lửa, cỏ, chim, móng,
Rớt, nhổ, cắt, bửa, hoại,
Khi chúng tăng thọ thực,
Nến ở chỗ Thượng tòa,
Người hành thực bạch rằng:
Tam bát la khư đa,
Gọi là pháp hành thực;
Thượng tòa nên bảo rằng:
Nên bình đẳng hành thực.
Nên chánh niệm thọ thực,
Thọ xong nói kệ tụng,
Khi đang nói kệ tụng,
Bí sô không nên ăn,
Người nào không nghe tiếng,
Ăn thì không có phạm.
Nếu thí chủ mong cầu,
Nên ứng cơ thuyết pháp,
Người khả năng nên nói,
Thượng tòa hay người khác;
Phàm là người thuyết pháp,
Nên có bạn trợ giúp,
Khiến chánh pháp quang huy.
Khi chúng tăng tụng kinh,
Ban đêm nên đốt đèn,
Hộ trùng cho làm lồng,
Hoặc là bình trăm mắt.
Người tục cho cá thịt,
Nếu có thấy nghe nghi,
Bí sô không nên ăn,
Vì thương xót chúng sanh.
Thịt dư của cọp, sói,
Vì tâm chúng không xả,
Bí sô không nên ăn.
Nếu không có tâm bi,
Vị ngon hại chúng sanh,
Bí sô không được ăn;
Nếu là ba tịnh nhục,
Khai cho ăn không tội.
Loại hành, tỏi cay nồng,
Vì bịnh khai cho dùng,
Khi người bịnh ăn tỏi,
Nên ở chỗ khuất kín,
Cho đến khi hết bịnh,
Sau khi bịnh đã lành,
Phải trải qua bảy ngày,
Nếu là ăn hành hẹ,
Phải trải qua ba ngày,
Tắm rửa cho sạch sẽ,
Trừ khử hết mùi hôi,
Mới được vào trong chúng.
Bí sô khi khất thực,
Đến nhà có nhiều cửa,
Nên dùng vật làm dấu,
Để khỏi phải đi lạc;
Hoặc khi đến trước cửa,
Rung tích trượng cho biết.
Thọ thực nhà thí chủ,
Khi ăn bánh, củ, quả,
Chớ cắn nhai ra tiếng,
Khi ăn nên dụng tâm;
Tay dính nước thức ăn,
Chớ rảy trúng người gần.
Thời đói kém khất thực,
Thí chủ hoan hỉ thí,
Cũng được mang về nhiều,
Chia cho các Bí sô.
Nếu Thượng tòa thọ thỉnh,
Chừa nửa phần thức ăn,
Cho các đồng phạm hạnh,
Giúp nhau thời đói kém.
Kẻ nứt trong bát răng,
Thấy có dính thức ăn,
Nên dùng vật khều bỏ,
Rửa ba lần cho sạch.
Ăn xong nên xỉa răng,
Rồi súc miệng ba lần.
Bí sô thọ thức ăn,
Nghi có người khác chạm,
Tìm người chưa thọ cụ,
Thọ lại mới được ăn.
Bí sô khi đi đường,
Không người mang lương thực,
Tự mang rồi trao đổi,
Nếu không người trao đổi,
Một ngày không nên ăn,
Ngày sau ăn vắt cơm,
Ngày thứ ba hai vắt,
Sau đó tùy ý ăn.
Nếu khi hết lương thực,
Để bảo toàn thân mạng,
Cần củ nên đào đất,
Cần quả nên leo cây,
Vì nạn đều khai cho.
Nếu thức ăn không đậy,
Bị chim bay đến mổ,
Gần chỗ mổ nên bỏ,
Chỗ khác tùy ý ăn.
Tô, dầu, mật, thạch mật,
Nếu có người lở chạm,
Không nên liền đem bỏ.
Lại có năm hạng người,
Khai trao cho nhau ăn,
Không khai cho người khác:
Bịnh, đoạn thực, ăn ít,
Nóng bức và đi đường.
Nếu là trái quý hiếm,
Và ẩm thực thuợng diệu,
Bí sô tuy ăn đủ,
Không tác pháp dư thực,
Vẫn được ăn thêm nữa.
Nếu Bí sô khất thực,
Có người thỉnh vào nhà,
Cúng nhiều thức ăn dư,
Cho Bí sô mang về,
Dù xúc chạm được ăn,
Năm đói khai – không phạm.
Chùa ba thời thiết thực,
Thời phi thời nên cúng,
Thần giữ chùa, Dược xoa,
Mẹ con Ha lợi để,
Để họ giữ trú xứ,
Khiến Phật pháp quang huy.

36- Ăn riêng chúng:

Không được ăn riêng chúng,
Trừ khi có bịnh duyên,
Nếu ở trong Tăng lấy,
Cho đến một muỗng muối,
Đem đến ở chỗ khác,
Cũng biểu lộ hòa hợp,
Nếu bốn người ăn riêng,
Thì gọi là biệt chúng.
Trừ bịnh và làm việc,
Đi đường hoặc đi thuyền,
Bận đi và bận về,
Khoảng nửa Du thiện na,
Được ăn riêng không phạm.
Nếu có nhiều thí chủ,
Cúng riêng từng Bí sô,
Tùy tâm của thí chủ,
Gọi là thời sai khác.
Các Sa môn ngoại đạo,
Thiết thực cúng chúng tăng,
Tâm bi nên thọ thỉnh,
Vì họ vốn bất tín.
Trong giới ăn riêng chúng,
Tưởng nghi đều phạm Đọa,
Ba người ăn không lỗi.

37 – Ăn phi thời:

Qua ngọ trở về sau,
Cho đến sáng hôm sau,
Khi mặt trời chưa mọc,
Thì gọi là phi thời,
Bí sô không nên ăn,
Ăn liền phạm tội Đọa.
Nếu bịnh thầy thuốc bảo,
Trong phi thời nên ăn,
Khai cho ăn chỗ khuất,
Chớ để người tục thấy.

38 – Ăn thức ăn đã xúc chạm:

Thức ăn từng xúc chạm,
Bí sô không nên ăn,
Bữa ăn trước và sau.
Xúc chạm có hai loại:
Nếu thọ trước giờ ăn,
Sau giờ ăn ăn – phạm;
Nếu thọ sau giờ ăn,
Đến đêm không cho ăn.
Nếu tay có dính dơ,
Không chạm vào chìa khóa,
Cho đến chạm y bát,
Trừ nạn duyên không phạm.

39 – Không thọ mà ăn:

Nếu không thọ thức ăn,
Người sợ tội không ăn,
Khi ăn liền phạm tội,
Trừ nước, tăm xỉa răng;
Nếu là nước trái cây,
Thì cần phải thọ lại;
Nếu là hạt giống sống,
Thì nên làm hỏa tịnh.
Khi Bí sô khất thực,
Được cơm nấu chưa chín,
Nên tự nấu lại ăn,
Cho đến cá thịt rau,
Trước đã nấu biến sắc;
Sữa bò sôi ba dạo,
Tự nấu lại không tội.
Thí chủ thiết thực cúng,
Bỗng có việc nên đi,
Khởi tưởng ở bắc châu,
Tự lấy ăn không phạm.
Bốn cách thọ nên biết:
Hoặc tay trao tay thọ,
Dùng vật trao, tay thọ,
Tay trao, dùng vật thọ,
Đều dùng vật trao – thọ.
Ở nước ghét Bí sô,
Để xa cũng thành thọ;
Lại có thành thọ khác,
Là voi, ngựa, khỉ trao.

40 – Đòi hỏi thức ăn ngon:

Nếu Bí sô không bịnh,
Vì mình không nên xin,
Sanh tô và sữa lạc,
Cho đến thịt và cá,
Nếu bịnh thì không phạm;
Không bịnh, xin – Ác tác,
Khi ăn liền phạm Đọa.
Khất thực đến nhà tục,
Đứng cầm bát im lặng,
Chủ nhà hỏi cần gì,
Muốn gì tùy tình nói.

41 – Dùng nước có trùng:

Nếu biết nước có trùng,
Đều không cho thọ dụng,
Có hai loại trong ngoài,
Tắm giặt, uống nên biết.
Nước có trùng không trùng,
Thảy đều giống giới trước,
Nên y pháp lượt nước,
Vì đây là tánh tội.

42 – Nơi thực gia gượng ngồi:

Bí sô nơi thực gia,
Không nên ngồi chỗ khuất,
Khiến người sanh phiền não,
Trừ nạn duyên sợ trốn.

43 – Nơi thực gia gượng đứng:

Nếu nữ và trượng phu,
Dục tham muốn thọ lạc,
Do đây gọi là thực,
Đứng chỗ khuất cũng phạm.

44 – Cho nam nữ ngoại đạo lỏa hình thức ăn:

Bí sô nếu tự tay,
Cho ngoại đạo thức ăn,
Do chiêu lấy cơ hiềm,
Nên Phật mới chế ngăn.
Nếu muốn trừ ác kiến,
Để thức ăn trên đất,
Khởi tâm bi thí cho.

45 – Xem quân trận:

Bí sô xem quân trận,
Bị chê trách – Phật ngăn,
Nếu có duyên cần đến,
Được ở trong quân trận,
Đây gọi là tùy khai.

46 – Ở trong quân trận quá hai đêm:

Khi có duyên cần đến,
Chỉ được ở hai đêm,
Nếu ở quá hai đêm,
Liền phạm Đọa, trừ nạn.

47 – Động loạn quân binh:

Tượng bịnh, mã binh đông,
Kỳ binh và binh lực,
Nếu động loạn liền phạm.
Quân binh đang chỉnh trang,
Binh lực đang kiêu dũng,
Kỳ binh đang đi trước,
Nếu động loạn liền phạm.
Nếu vua, đại thần thỉnh,
Hoặc có nạn duyên sợ,
Cho dù ở lại lâu,
Thì cũng không thành phạm.

48 – Đánh Bí sô:

Nếu vì tâm tức giận,
Cố ý đánh Bí sô,
Do trái với bản tâm,
Không tuân lời Phật dạy,
Dù chỉ dùng ngón tay,
Đánh liền phạm tội Đọa.
Nếu dùng tay hay chân,
Hoặc cầm cây hay chổi,
Tùy đánh trúng Bí sô,
Liền phạm ngần ấy tội.
Nếu cầm nắm đậu ném,
Tùy ném trúng, không trúng,
Tội nặng nhẹ nên biết.
Nếu bị nghẹn vỗ đập,
Thì Bí sô không phạm.

49 – Dùng tay dọa đánh:

Nếu đối trước Bí sô,
Dùng tay hăm dọa đánh,
Vừa giơ tay liền phạm,
Giống như giới đánh trên.

50 – Che giấu tội Thô của Bí sô khác:

Biết người có tội Thô,
Thì không nên che giấu,
Nếu khi có nạn sợ,
Thì che giấu không phạm.
Từ Ba la thị ca,
Cho đến tội Chúng giáo,
Và trong phương tiện này,
Che giấu cho đến sáng,
Mặt trời mọc – phạm Đọa.

51 – Rủ đến nhà tục không cho ăn:

Do có tâm hiềm hận,
Rủ đến nhà thế tục,
Cố ý khiến đoạn thực,
Bí sô rủ không bịnh,
Liền phạm Ba dật đề.

52 – Chạm lửa:

Nếu không là khai duyên,
Đốt lửa đều không cho,
Cho đến tắt, nhúm lửa,
Có nạn thì không phạm.
Da lông tóc… bất tịnh,
Không được quăng vào lửa.

53 – Gởi dục rồi lại ngăn:

Khi Tăng già có việc,
Bí sô gởi dục trước,
Sau lại không chấp thuận,
Liền phạm Ba dật đề.

54 – Cùng người chưa thọ Cận viên ngủ quá 2 đêm:

Người chưa thọ Cận viên,
Cùng một phòng ngủ đêm,
Chỉ cho ngủ hai đêm,
Đêm thứ ba phạm Đọa.
Nói có bốn loại nhà:
Một là che ngăn hết,
Hai che hết, ngăn nhiều,
Ba che nhiều, ngăn hết,
Bốn che nhiều,ngăn nhiều.
Trong bốn loại nhà này,
Bí sô cùng ngủ đêm,
Đến sáng ngày thứ ba,
Liền phạm Ba dật đề,
Người giữ giới nên biết.
Không nên trên một giường,
Hai người cùng nằm chung,
Tạm khai cho trên nệm,
Y ngăn cách ở giữa.
Có bịnh nằm trong phòng,
Cho đến người nuôi bịnh,
Khai cho đốt đèn sáng,
Người khác đều không cho.
Người không bịnh, lười biếng,
Ngày đêm ngủ nên ngăn;
Thiền tụng nếu siêng tu,
Tùy ý nằm chốc lát.
Trong tối lễ vị thầy,
Đầu không nên chạm đất,
Nên dùng tâm cung kính,
Nói ra lời kính lễ.
Cùng Cầu tịch đi đường,
Cùng ngủ nên cảnh giác,
Nếu quá buồn ngủ thì,
Đứng ngồi tùy tình ngủ.
Cầu tịch sắp Cận viên,
Nên ân cần thủ hộ,
Như thái tử Luân vương,
Vì là mầm cây Phật.

55-Không bỏ ác kiến trái can:

Bí sô làm hạnh tà,
Nói dục không chướng pháp,
Nhưng dục là chướng pháp,
Do si không hiểu biết,
Cho đến ba lần ngăn,
Nếu không bỏ ác kiến,
Thì phạm Ba dật đề,
Nên tác pháp xả trí.

56- Tùy thuận người bị xả trí:

Biết người ác kiến này,
Chưa làm pháp tùy thuận,
Và không bỏ ác kiến,
Đều không nên ở chung,
Cũng không cùng đọc tụng,
Và không làm thân hữu,
Ai cùng thọ pháp thực,
Thì phạm Ba dật đề.
Muốn kia dứt ác kiến,
Được thân gần đọc tụng,
Nhưng không cùng thọ dụng.

57- Nhiếp thọ Cầu tịch ác kiến:

Cầu tịch sắp Cận viên,
Nếu ngu si nói rằng:
Dục không chướng ngại đạo,
Tăng nên đuổi đi ngay.
Bí sô lìa bạn ác,
Tâm lợi ích chúng sanh,
Cùng người vô trí ấy,
Ngủ đêm liền phạm Đọa.

58- Mặc y không hoại sắc:

Bí sô được y mới,
Nên làm cho hoại sắc,
Y mới là y trắng,
Nhuộm hoại sắc có ba:
Xanh là sắc xanh xám,
Bùn là sắc đá đỏ,
Mộc lan là vỏ cây,
Y nhuộm gọi ca sa.

59 – Cầm vật báu:

Thà chạm vào rắn độc,
Nọc độc khó chữa trị,
Không chạm vào vật báu,
Cho đến trang sức báu,
Như Ma ni, chân châu…
Đao mâu… các binh khí,
Trống nhạc… các nhạc khí,
Chạm cầm liền phạm Đọa,
Chạm chưa cầm – Ác tác.
Nếu tượng có xá lợi,
Chạm cầm phạm bổn tội,
Không xá lợi – Ác tác.
Ca múa và ngâm vịnh,
Xem nghe đều không cho,
Tự mình ca múa nhạc,
Dạo chơi nơi tháp Phật,
Do không hộ các căn,
Mỗi bước đều phạm tội,
Do chạy theo thanh sắc,
Nên làm tâm này loạn,
Cầu thoát ly ba cõi,
Thú hướng đến niết bàn.
Trong chùa thấy báu rơi,
Như vàng bạc… vật báu,
Nên lấy cỏ phủ kín,
Rồi cất giữ tám ngày,
Nếu chủ vật xin lại,
Gạn hỏi giống mới đưa,
Nếu chủ vật không đến,
Nên cất vào kho Tăng,
Sau nếu chủ vật đến,
Nên khuyến hóa chủ vật,
Trả nửa giá, đủ giá,
Đòi thêm thì không đưa.

60 – Tắm phi thời:

Nếu không là khai duyên,
Nên nửa tháng tắm rửa,
Trừ bịnh, nóng, làm việc,
Đi đường và gió mưa.
Bịnh – không tắm không an;
Làm việc và đi đường,
Đều như trong giới trước;
Gió – thổi động chéo y;
Mưa rơi làm ướt thân,
Hoặc cả gió và mưa;
Thời nóng hai tháng rưỡi.
Cởi y phục xuống nước,
Nếu chưa đến ngang rốn,
Tắm thì phạm tội khinh,
Qua rốn thì phạm Đọa,
Qua sông không phải phạm.
Thời nóng bức nên tắm,
Hoặc lội qua ao hồ,
Hoặc nạn duyên không phạm.
Nếu nơi có nữ tắm,
Vua, quan hay người ác…
Bí sô nên tránh xa,
Nếu khi xuống nước tắm,
Không nên giỡn trong nước,
Bơi nổi hay lặn hụp,
Dùng nước tạt lẫn nhau,
Hoặc vỗ nước ra tiếng.
Nếu như muốn học bơi,
Nên ở nơi khuất vắng.

61 – Giết bàng sanh:

Bí sô giết bàng sanh,
Tự làm, bảo người làm,
Phạm tội Ba dật đề,
Chịu khổ bị lửa đốt.

62 – Cố ý xúc não Bí sô:

Đối với đồng phạm hạnh,
Không nên làm xúc não,
Xúc não liền phạm Đọa.
Nói xúc não là nói:
Thầy chưa đủ hai mươi,
Không thành thọ Cận viên,
Hoặc Ô-ba-đà-da,
Phá giới, Tăng không nhóm.
Nếu việc này là thật,
Thì không có phạm tội.

63 – Dùng tay chọc lét Bí sô khác:

Nếu Bí sô ít trí,
Chỉ dùng một ngón tay,
Chọc lét liền phạm Đọa,
Nếu không ý đùa giỡn,
Chỉ nốt ruồi không phạm.

64 – Đùa giỡn trong nước:

Nếu Bí sô đùa giỡn,
Bơi qua lại trong nước…
Trong đây có khai ngăn,
Như giới trên đã nói.

65 – Cùng người nữ đồng nhà ngủ đêm:

Nếu chỗ không cách ngăn,
Không cùng phòng người nữ,
Nếu đóng chặt cửa phòng,
Thì thành không có phạm.
Nữ hiểu lời thiện ác,
Đồng nhà ngủ liền phạm.
Nhà che ngăn cùng khắp…
Có bốn loại như trước,
Nếu trên lầu có nữ,
Cần phải đi thang ấy,
Nhờ Bí sô coi giữ,
Thì nằm ngủ không phạm,
Nếu ban ngày nằm ngủ,
Nên buộc chặt dây lưng,
Khác thì phạm Ác tác.

66 – Khủng bố Bí sô:

Tôn trọng lời Phật dạy,
Không não loạn chúng sanh,
Tự làm, bảo người làm,
Khủng bố Bí sô khác,
Hoặc giả làm ma quỷ,
Dùng âm thanh, khí, xúc…
Khiến kia sợ – phạm Đọa.
Nếu nói bậc nhân chủ…
Sắp đến hại – Ác tác.
Muốn khiến kia được ích,
Nên khủng bố khiến sợ,
Nhưng Bí sô không phạm.

67 – Giấu y bát của Bí sô khác:

Giấu y bát người khác,
Dù đùa giỡn cũng phạm,
Bí sô không nên làm,
Làm lợi ích – không phạm.

68 – Người khác gởi y, không hỏi chủ tự lấy mặc:

Đã cho Bí sô y,
Không hỏi mà lấy mặc,
Thì liền phạm tội Đọa,
Nếu chủ y đồng ý,
Lấy dùng thì không phạm.

69 – Đem tội Chúng giáo vu báng Bí sô thanh tịnh:

Nếu đem tội Chúng giáo,
Vu báng người thanh tịnh,
Thì liền phạm tội Đọa,
Tội khác thì Ác tác.

70 – Đi cùng đường với người nữ:

Nếu không có bạn nam,
Đi chúng với người nữ,
Thì phạm Ba dật đề.
Dặm đường như thường nói,
Đi đến mỗi một thôn,
Thì liền phạm tội Đọa;
Nếu chưa tới một thôn,
Tội Ác tác nên biết.
Nếu ở nơi đường hiểm,
Nữ làm người dẫn đường,
Hoặc làm người trợ giúp,
Thì không có phạm tội.

71 – Cùng đi với giặc:

Nếu cùng đi với giặc,
Thì liền phạm tội Đọa,
Không phạm như giới trên,
Thương nhân đi buôn lậu,
Trốn thuế còn là giặc,
Huống chi phá thôn phường,
Đánh cướp giữa ban ngày.

72 – Cho người chưa đủ tuổi thọ Cận viên:

Nếu tuổi dưới hai mươi,
Chưa cho thọ Cận viên,
Vì đối với đói khát,
Không thể chịu đựng được.
Nếu tuổi thật không đủ,
Tưởng đủ nói là đủ,
Không gọi là viên cụ,
Các Bí sô đều phạm.
Nếu như có tâm nghi,
Không đủ tưởng không đủ,
Nói là tuổi đã đủ,
Khi thọ liền có tội.
Đủ khởi tưởng là đủ,
Nói là tuổi đã đủ,
Thì thành thọ Cận viên.
Cận viên có nhiều môn,
Người hộ giới gìn tâm,
Hỏi rõ mới cho thọ.

73 – Hoại đất sống:

Nơi đất nếu cố tâm,
Tự đào, bảo người đào,
Tổn đến chỗ ướt – phạm,
Nói có hai loại đất:
Đất sống và không sống;
Nếu nước mưa thấm ướt,
Ba tháng gọi đất sống,
Nếu không mưa thấm ướt,
Phải trải qua sáu tháng,
Đây là đất từng cày,
Đất khác không nói thời,
Đào đất sống phạm Đọa,
Đất khác – phạm Ác tác.
Nếu đóng cọc xuống đất,
Thì liền phạm tội Đọa;
Làm sụp lở tường, bờ,
Thì phạm Ba dật đề;
Nếu chỉ tổn nứt bể,
Thì phạm tội Ác tác.
Sửa sang vườn cho chúng,
Nói tịnh bảo đào đất,
Không thấy trùng – cho làm,
Có trùng thì không cho.

74 – Quá bốn tháng đòi hỏi thức ăn:

Nếu thọ thỉnh bốn tháng,
Trừ cực thỉnh, cánh thỉnh,
Thường thỉnh và biệt thỉnh.
Nếu như nói thường thỉnh,
Là thường thường thỉnh thực;
Nếu như nói biệt thỉnh,
Là thỉnh riêng người nào;
Cực thỉnh là ân cần,
Cánh thỉnh là thỉnh lại,
Khác thì đều phạm Đọa.
Thỉnh cúng thức ăn ngon,
Lại đòi thức ăn dỡ,
Khi đòi phạm Ác tác,
Ăn thì không có phạm;
Thỉnh cúng thức ăn dỡ,
Lại đòi thức ăn ngon,
Khi đòi phạm Ác tác,
Khi ăn liền phạm Đọa.
Cho sữa lại đòi thịt,
Cho lạc lại đòi tô,
Ăn liền phạm tội Đọa,
Nếu bịnh thì không phạm.
Nếu thí chủ giàu có,
Có tâm thí rộng khắp,
Muốn phước kia tăng trưởng,
Thọ thỉnh lâu – không phạm.

75 – Ngăn truyền giáo:

Bí sô truyền giáo nói:
Nên học học xứ này.
Nếu đối trước Bí sô,
Nói Bí sô truyền giáo,
Là ngu si vô trí,
Không hiểu rõ ba tạng,
Nếu vị kia nghe hiểu,
Thì phạm Ba dật đề.
Nếu vị kia ngu thật,
Nói sự thật – không phạm.

76 – Lén nghe bình luận:

Bí sô không nhẫn được,
Nên bới tìm tỳ vết,
Lặng lẽ đi nghe trộm,
Khi đứng nghe liền phạm.
Nếu các Bí sô kia,
Ở trong phòng bàn luận,
Không làm tiếng – lén nghe,
Nếu hiểu nghĩa – phạm Đọa,
Chỉ nghe tiếng – Ác tác.
Dù ở trong rèm cửa,
Hay đi ở ngoài đường,
Tâm ác lén nghe – phạm,
Ý tốt thì không phạm.

77 – Không gởi dục im lặng đứng dậy đi:

Nếu chúng tăng như pháp,
Tác Đơn bạch yết ma…,
Nếu Bí sô không nói,
Mà đứng dậy bỏ đi,
Do kia không gởi dục,
Nên phạm Ba dật đề,
Chớ làm pháp biệt chúng.

78 – Không cung kính:

Đối với chúng, người khác,
Không làm việc cung kính,
Khinh chúng – phạm tội Đọa,
Khinh người khác – Ác tác.
Đại chúng, vị thọ sự,
Nói chống trái cũng phạm;
Bậc Thượng tòa trong chúng,
Và tôn sư của mình,
Người khác nói trái nghịch,
Tình không muốn thụan theo,
Phải nên khéo khai thị,
Nghe theo thì không tội.

79 – Uống rượu:

Loại rượu uống nếu say,
Một giọt không dính môi,
Không uống, không cho người,
Rượu làm cho phóng dật.
Bịnh – thầy thuốc bảo uống,
Khai cho uống – không phạm.
Không bịnh thì dù chết,
Cũng không được uống rượu.
Men…và các tạp vật,
Ủ lâu mới thành rượu,
Được mọi người chấp thuận,
Mới gọi là đại tửu (rượu bậc nhất).
Nếu dùng vỏ, hoa quả,
Ngâm nước ủ thành rượu,
Thì gọi là rượu tạp,
Đều làm cho người say;
Nếu dùng trái bồ đào…
Ủ với đường, mật thành,
Đều nhiếp trong rượu tạp.
Nếu đối với thể rượu,
Chưa thành hay biến hoại,
Do vì không làm say,
Nên uống không có tội.
Các loại nước uống chua,
Cho đến nước trong lạc,
Hòa với nước lượt uống,
Phi thời dùng không tội;
Các rượu biến thành chua,
Uống cũng không có tội.
Nước uống chua cất lâu,
Đều là giấm nên biết.
Rượu đủ sắc hương vị,
Uống say liền phạm Đọa;
Nếu không làm người say,
Thì phạm ba Ác tác.
Ba hai một như vậy,
Khi uống đều phạm tội,
Tùy phạm một hai ba,
Không say không phạm Đọa.

80 – Phi thời vào tụ lạc không dặn lại Bí sô:

Phi thời có Bí sô,
Vào thôn không dặn lại,
Có duyên liền phạm tội,
Không việc cũng phạm tội.
Từ quá ngọ trở đi,
Cho đến mặt trời mọc,
Thì gọi là phi thời.
Nếu Bí sô sanh nghi,
Phi thòi vào liền phạm;
Thời tưởng là phi thời,
Và nghi – phạm Ác tác.

81 – Trước bữa ăn, sau bữa ăn đến nhà khác:

Bí sô đứng đầu thỉnh,
Đến nhà tục thọ thực,
Chủ nhà không chấp thuận,
Chuyển hướng đến nhà khác.
Nếu nơi người phó thỉnh,
Nói là tùy ý ăn,
Hoặc chủ nhà chấp thuận,
Đến chỗ khác – không phạm.

82 – Vào cung vua:

Cửa vua và cửa cung,
Cho đến chỗ gần cửa,
Mặt trời chưa mọc lên,
Vào cung liền phạm Đọa.
Cửa thành và cửa vua,
Cho đến then cửa cung,
Cách cửa ấy không xa,
Gọi đây là thế phần.
Chưa sáng đến cửa thành,
Khởi tưởng là chưa sáng,
Nếu vào quá ngạch cửa,
Thì phạm tội Ác tác;
Nếu khởi tưởng, nghi khác,
Thảy đều phạm Ác tác.

83 – Không lắng tai nghe giới nói là không biết:

Nơi kinh Biệt giải thoát,
Nửa tháng từng nghe nhiều,
Lại nói nay mới biết,
Là từ trong Giới kinh,
Do Thế tôn nói ra,
Thì phạm Ba dật đề.

84 – Dùng xương, sừng, ngà làm ông kim:

Không cho dùng ống kim,
Làm bằng xương, ngà, sừng,
Nếu làm liền phạm Đọa,
Ông kim nên đập bể,
Rồi mới sám tội Đọa.
Ống kim có bốn loại:
Thau, đồng, đồng đỏ, sắt.
Con dao làm bằng sắt,
Có ba loại nên biết,
Lớn dài tám ngón tay,
Nhỏ khoảng sáu ngón tay,
Nên làm hình Ô thước,
Hoặc tợ lông gà cong.
Khi đi đến thôn khác,
Bí sô dù việc gấp,
Cũng mang theo ống kim,
Cần khi may vá y.

85 – Làm giường quá lượng:

Bí sô vì đại chúng,
Làm các loại giường tòa,
Cao tám ngón tay Phật,
Quá thì không cho làm.
Tám ngón tay Phật cao,
Bằng một khuỷu người thường.
Cao hơn nên cắt bỏ.

86 – Dồn bông cỏ cây làm ngọa cụ:

Ngọa cụ của chúng tăng,
Không nên dồn bông tạp,
Cố xúc não người khác,
Thì phạm Ba dật đề.
Bồ đài và địch miêu,
Bông gòn và lông dê,
Đều bỏ mới sám tội,
Do bông rơi trên giường,
Dính y Bí sô khách,
Làm cho khách không vui.

87 – Làm Ni sư đàn quá lượng:

Nếu làm Ni sư đàn,
Dài ba gang tay Phật,
Rộng một gang tay rưỡi,
Quá thì không cho làm,
Dư thì nên cắt bỏ,
Khi sám tội nên hỏi,
Bỏ chưa rồi mới sám.

88 – Làm y che ghẻ quá lượng:

Nếu làm y che ghẻ,
Dài bốn gang tay Phật,
Rộng khoảng hai gang tay,
Quá thì phạm tội Đọa.

89 – May y tắm mưa quá lượng:

Nếu may y tắm mưa,
Dài sáu gang tay Phật,
Rộng chừng hai gang rưỡi,
Khác thì không được làm.

90 – May bằng lượng y của Phật:

Y Đát tha yết đa,
Không được may bằng lượng,
Lượng y của Phật là.
Chiều dài mười, rộng sáu,
May bằng liền phạm Đọa,
Chịu khổ lửa thiêu đốt,
Không có chút an lạc.

VI – BỐN PHÁP BIỆT HỐI:

1 – Thọ thức ăn từ Ni không bà con:

Nay lược nói tự tướng,
Của bốn pháp Biệt hối,
Chỗ khất thực trong thôn,
Từ Ni không bà con,
Tự tay thọ thức ăn,
Liền phạm tội Biệt hối.

2 – Thọ thức ăn do Ni chỉ trao:

Nếu ở nhà thế tục,
Bí sô thọ chánh thực,
Thấy Ni đến chỉ trao,
Cho đây tô kia lạc,
Chúng tăng đều nên ngăn,
Nếu không người nào ngăn,
Chúng tăng đều phạm tội.
Ba gian trong giữa ngoài,
Ba chỗ Bí sô ăn,
Thượng tòa nên nói ngăn,
Cho đến vị hạ tòa,
Nên nói đợi một lát.
Giữa nên hỏi trong ngoài,
Có ai ngăn Ni không,
Nếu không hỏi mà ăn,
Tăng gian giữa liền phạm;
Tội Biệt hối trong đây,
Khác với Ba dật đề,
Nếu ở trong chùa Ni,
Thí thọ đều không tội,
Tài của mình đem thí,
Và do tín tâm trọng.

3 – Nơi Học gia thọ thức ăn:

Nếu ở nhà Học nhân,
Biết chúng cho yết ma,
Bí sô bị đói bức,
Tuy thỉnh không nên ăn.
Nếu thọ thỉnh nhà khác,
Bánh cho con Học gia,
Bẻ ra bảo chúng ăn,
Chớ để chúng ngóng suông.

4 – Thọ thức ăn ở ngoài trú xứ A lan nhã:

Nếu ở A lan nhã,
Trong đây nhiều sợ hãi,
Bí sô không nên ra,
Ngoài chùa thọ thức ăn.
Nếu không xem xét rừng,
Ra ngoài thọ thức ăn,
Trong chùa chỗ khác ăn,
Thảy đều phạm Biệt hối.
Bí sô phạm tội rồi,
Nên trở lại trong chùa,
Đến bên các Bí sô,
Nói tội để Biệt hối.

VII – CHÚNG HỌC PHÁP:

Chúng học pháp trong đây,
Theo thứ lớp sẽ nói,
Nên mặc quần ngay ngắn,
Không cao cũng không thấp,
Không mũi voi, đầu rắn,
Không lá cây Đa la,
Cũng không làm đầu tròn,
Như thế cần nên học.
Mặc y Chi phạt la,
Sao cho thật tề chỉnh,
Không quá cao, quá thấp,
Mặc ngay ngắn che thân…
Như thế cần nên học.
Nhà tục không trùm đầu,
Không vắt y một bên,
Không vắt sáng hai bên,
Không chống nạnh, choàng vai,
Không được đi đầu gối,
Cũng không đi nhón chân,
Không nhảy, không cò cò,
Cũng không đi uốn éo,
Không đi đánh xàng xa,
Cũng không lay lắc đầu,
Nếu vào nhà thế tục,
Chưa mời không nên ngồi,
Ngồi nên xem xét kỹ,
Không xem buông thân ngồi,
Liền sanh ra tội lớn.
Ngồi chớ chồng gót chân,
Cũng không ngồi co chân,
Cũng không duỗi chân dài,
Ngồi chớ lộ thân hình.
Pháp cung kính ăn là:
Không nên khiến bát đầy,
Cách miệng bát một ngón,
Vì còn đựng thêm canh,
Người dọn ăn chưa đến,
Không đưa bát ra trước,
Thọ thực nên cung kính,
Miếng cơm không lớn nhỏ,
Không được há miệng trước,
Miệng ngậm cơm không nói.
Không lấy cơm phủ canh,
Không lấy rau phủ cơm,
Khởi ý mong được thêm,
Đây là tâm tham ăn.
Không chắc lưỡi, xuýt xoa,
Không thổi, không hít hà,
Không chê trách ngon dỡ,
Không đắp cơm thành tháp,
Phá sụp rồi mới ăn.
Không liếm tay, liếm bát,
Nên quán tưởng trong bát,
Khi thọ thực hệ niệm,
Không khởi tâm khinh mạn,
Ngó bát người ngồi cạnh.
Tay dơ không cầm bát,
Không vẩy trúng người khác.
Ở trong nhà thế tục,
Không được đổ nước dơ,
Không nên đứng rửa bát,
Không để chỗ dễ rơi,
Pháp giữ bát nên biết.
Kế nói việc thuyết pháp,
Nếu mình đứng người ngồi,
Hoặc mình ngồi người nằm,
Trừ bịnh – không thuyết pháp;
Mình chỗ thấp, người cao,
Người đi trước, mình sau,
Người giữa, mình bên đường,
Trùm đầu – không thuyết pháp;
Kia cỡi voi, ngựa, kiệu,
Cho đến mang giày dép,
Đội mũ, đầu quấn khăn,
Cho đến đeo vòng hoa,
Cầm dù, gậy và kiếm…,
Đều là nghi khinh mạn,
Trừ bịnh – không thuyết pháp.
Không đứng đại tiểu tiện,
Không khạc nhổ trên cỏ,
Trừ bịnh đều phạm tội.
Không leo cây quá đầu,
Chỉ trừ có nạn duyên,
Thức xoa yết lan ni,
Thảy đều cần nên học.

VIII – Bảy pháp diệt tránh:

Bảy diệt tránh trong đây,
Theo thứ lớp sẽ nói,
Nếu là bình luận tránh,
Có tùy pháp trừ được,
Do người có sai khác,
Nên sai người trung chánh,
Người thu nhiếp thân ngữ,
Được trong chúng suy cử,
Xứng lý hòa tranh cãi,
Người có đủ năm đức:
Không dục, không sân si,
Cho đến không sợ hãi,
Dời hay không thể dời,
Diệt tránh sai người này.
Bình luận tránh nếu khởi,
Nên hiện tiền trừ diệt,
Do dùng pháp hiện tiền,
Gọi Hiện tiền diệt tránh.
Hoặc dùng Đa nhơn ngữ,
Đại chúng nên suy cử,
Chín người hay mười người,
Hoặc sai, sai lần nữa,
Tất cả người được sai,
Nên chánh trực và minh,
Thượng tòa không bè phái,
Mới làm người diệt tránh.
Nếu không đủ năm đức,
Đã sai thì nên dừng,
Người đủ đức nên sai,
Làm người đi phát thẻ,
Nên làm hai loại thẻ,
Thẻ pháp và phi pháp,
Thẻ pháp nên làm thẳng,
Hương thơm vừa lòng người;
Thẻ phi pháp làm cong,
Hôi dơ – người không thích.
Khi Tăng già nhóm họp,
Phát thẻ từ Thượng tòa,
Trình thẻ pháp ra trước,
Nếu người lấy thẻ pháp,
Nhiều hơn thẻ phi pháp,
Là như pháp diệt tránh,
Nếu Bí sô hủy phá,
Liền phạm Ba dật đề.
Thẻ phi pháp nhiều hơn,
Là phi pháp diệt tránh,
Tránh tuy phi pháp diệt,
Hủy phá phạm tội khinh,
Đây là Đa nhân ngữ,
Tỳ nại da diệt tránh.
Đã nói Bình luận tránh,
Dùng hai pháp trừ được,
Nói kỹ về duyên ấy,
Đủ như trong văn luật.
Kế nói Phi ngôn tránh,
Dùng ba pháp diệt được,
Một là pháp hiện tiền,
Hiện tiền đem pháp ác,
Gạn hỏi người thanh tịnh;
Hai là pháp Ức niệm,
Như Bí sô ni Hữu,
Vu báng Thật lực tử,
Phật nhân việc này chế,
Tăng cho Thật lực tử,
Pháp ức niệm điều phục,
Đối trước Thượng tòa bạch:
Đại đức tăng lắng nghe,
Tôi bị người vu báng,
Nay xin pháp ức niệm,
Tăng già thương xót cho.
Thỉnh như vậy ba lần,
Tăng sai một Bí sô,
Vì người kia bỉnh pháp,
Làm yết ma Ức niệm;
Ba là pháp Bất si,
Như Bí sô Tây yết,
Do trước bị điên cuồng,
Nên cho pháp bất si,
Đối trước Thượng tòa bạch:
Con trước kia điên cuồng,
Tạo tội không hay biết,
Người khác thường gạn hỏi,
Sao lại làm hạnh ác.
Nay xin pháp bất si,
Tăng già thương xót cho.
Kế nói phạm tội tránh,
Dùng bốn pháp trừ được:
Tự ngôn và hiện tiền,
Cỏ phủ, cầu tội tánh.
Một là pháp tự ngôn:
Người đã phạm tội rồi,
Hoặc hỏi hay không hỏi,
Nên đối trước Bí sô,
Chắp tay nói trừ tội,
Xin đại đức nhớ nghĩ,
Nay tôi phạm tội này,
Hỏi có thấy tội không,
Đáp là có thấy tội,
Hỏi không phạm nữa chứ,
Đáp là không phạm nữa,
Kia nói Áo bì ca,
Đây đáp là Bà độ.
Hai là pháp hiện tiền:
Như Bí sôCa la,
Do y bị chê trách,
Trở về thành Thích ca,
Để hiện tiền diệt tránh.
Ba là pháp cỏ phủ,
Hai nhóm tranh cãi nhau,
Thượng tòa nên đến đó,
Như pháp như luật bảo:
Phật pháp rất khó gặp,
Sao chia thành hai nhóm,
Vô sự khởi tranh cãi,
Khinh mạn lời Phật dạy?
Làm việc sai trái này,
Hai nhóm thảy đều phạm,
Sau khi nói biên tội,
Mong dứt việc tranh cãi.
Nếu khi nói lời này,
Hai nhóm không chống trái,
Gọi là trụ bổn tánh,
Nhân đây dứt tranh cãi.
Bốn là cầu tội tánh,
Như Bí sô Tượng thủ,
Đã tự nói phạm tội,
Trước Tăng lại nói không,
Nói có rồi nói không,
Nên cho cầu tội tánh,
Khiến kia phải thần phục.
Muốn dứt việc tranh cãi,
Đại chúng nên tập họp,
Nếu kia không chống trái,
Là diệt tránh nên biết.

======================================================

CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ TỲ NẠI DA TỤNG

Nguyên tác: Tôn giả Tỳ xá khư
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Nghĩa Tịnh đời Đường
Việt dịch: Ban phiên dịch chùa Pháp Bảo, HT Thích Tịnh Hạnh giám tu- năm 2005
Hiệu đính và nhuận văn: NS Thích nữ Như Lộc tại chùa Phổ Minh – năm 2010.

QUYỂN HẠ

NHỮNG VIỆC THIẾT YẾU TRONG MƯỜI BẢY BẠT TỐT ĐỔ

Nơi nhà Chiên đà la,
Nhà xướng ca, quán rượu,
Nhà dâm nữ, vương cung,
Là năm chỗ phi hạnh.
Các kinh sách ngoại đạo,
Đọc cho là thù thắng,
Và người thường phạm tội,
Ăn gì đều thành độc.
Thường nên đọc lời Phật,
Là lương y cõi này,
Khai cho đọc ngoại thư,
Để biết được lỗi họ,
Lời Nhất thiết trí nói,
Vi diệu nhiều ví dụ,
Không như luận ngoại đạo,
Vô lý, nói thô thiển.
Chứa nhiều các khí cụ,
Chạm trỗ đều không cho,
Nếu vẽ chân giường ngồi,
Là nghi của ngoại đạo.
Thân Bí sôgià bịnh,
Khai cho được đi xe,
Túi bọc gậy, y da,
Đây đều là tùy khai.
Vốn do Đế thích thỉnh,
Khai cho làm nhà tắm;
Người siêng tụng, tu định,
Được ăn bữa tiểu thực.
Không nhỏ mắt, xông hương,
Không vẽ giày da, dù;
Giũa móng tay sáng sạch.
Dù lọng có hai loại:
Bằng lá cây lau, tre;
Khi đi đến trong thôn,
Chớ cầm dù thẳng vào.
Khi há miệng ợ ngáp,
Nên dùng tay áo che;
Khi có duyên phải cười,
Không được lộ nướu răng,
Khi thuyết pháp tán vịnh,
Công đức của Đại sư,
Không được kéo dài tiếng;
Tuyên dương kinh điển Phật,
Đọc tụng nên y pháp,
Tùy chỗ chớ trái nhau.
Nếu muốn học tán tụng,
Nên ở nơi chỗ khuất,
Để tuyên dương chánh pháp,
Không nên sánh đắm nhiễm.
Bí sô và Ni chúng,
Năm chúng cho an cư,
Năm chúng an cư xong,
Nên nhóm làm Tùy ý (tự tứ).
Bí sô, Bí sô ni,
Tất cả giới nên học,
Cầu tịch, Cầu tịch nữ,
Thọ mười giới nên biết.
Không một mình đi đường,
Không qua sông một mình,
Không cố chạm người nam,
Không cùng người nam ngủ,
Không làm việc mai mối,
Không che giấu tội người,
Đây gọi là sáu pháp,
Chánh học nữ nên biết.
Không nên cầm vàng bạc,
Không cạo lông chỗ kín,
Cũng không đào đất sông,
Không cắt cỏ còn xanh,
Chớ không thọ mà ăn,
Cho đến ăn cách đêm,
Đâu là sáu tùy pháp,
Nên học trong hai năm.
Thượng tòa tính số ngày,
Nên nhớ biết rõ ràng,
Vị thọ sự mỗi ngày,
Bạch cho đại chúng biết.
Nên ở trong sáu thời,
Nửa tháng giảm một ngày,
Chỉ giảm vào tháng thiếu,
Như thế đến sáu năm,
Thì thành một tháng nhuần;
Nếu vua tính tháng nhuần,
Số tháng có sai khác,
Bí sô nên theo vua,
Vì vua có oai lực.
Chỗ rửa tay, rửa bát,
Nếu làm Mạn trà la,
Không giống hình nhật nguyệt,
Cũng không tợ hình tháp.
Bí sô khi đi đường,
Nếu ngang qua miếu thần,
Nên khảy móng tay báo,
Và đọc kệ tụng Phật;
Nếu đến chỗ miếu thần,
Không nên làm tổn ích,
Nếu trái – phạm Ác tác.
Bí sô… cả năm chúng,
Không cúng dường thiên thần,
Tự làm, bảo người làm,
Đều phạm tội Ác tác;
Nếu có nhân duyên khác,
Cúng hương hoa thức ăn,
Không nên trái thời tục,
Tổn ích không nên làm.
Thiện thần thừa sự Phật,
Tùy tình được cúng dường,
Như ở trong Đại kinh,
Nói làm đều không phạm.
Đối với các hữu tình,
Thường hành từ ủng hộ,
Nhờ hột giống từ bi,
Không chiêu quả báo khổ.
Người tôn kính thiên thần,
Nên thường thích cúng dường,
Thế gian đều như vậy,
Do tham sanh tử lạc,
Cầu quả báo thế gian,
Nên cúng tế tà thần,
Não hại giết chúng sanh,
Chiêu báo trong ác đạo.
Trước đã quy y Phật,
Trở lại thờ thiên thần,
Cúng dường được quả ít,
Không biết chỗ tôn kính.
Phá giới mặc ca sa,
Khinh mạn tướng Bí sô,
Ăn thức ăn người cúng,
Mà không biết hổ thẹn,
Giống như ăn lửa than.
Nên biên chép luật giáo,
Lưu hành sanh phước đức,
Người quên niệm khiến nhớ,
Tự thân kiêm tụng trì.
Bí sô vào nhà tắm,
Muốn kỳ cọ thân thể,
Nên sai người kính tín,
Chớ sai người không tin.
Người trì giới không nên,
Thừa sự người phá giới,
Không nên bảo sư tử,
Cung phụng loài dã can,
Đây là pháp Phật chế.
Thây chết trong Phật giáo,
Cùng ở chung, tùy hành,
Thảy đều không như pháp.
Thân giáo, Quỹ phạm sư,
Và cha mẹ có bịnh,
Cho dù là phá giới,
Cũng nên thừa sự họ,
Cha mẹ già, nghèo, bịnh,
Khất thực cho một nửa,
Vì kia có ân lớn,
Bí sô nên nuôi dưỡng,
Thấy có gì thiếu thốn,
Tùy việc mà cung cấp,
Cho đến dầu thoa chân,
Kỳ cọ và tắm rửa.
Bí sô nếu dùng gạch,
Chỉ được chà gót chân,
Thân phần khác không cho,
Nếu bịnh thì tùy khai.
Không nên đeo dây chú,
Vẽ ba vạch trên trán,
Vì trị bịnh khai cho,
Cột dây chú tay trái,
Khi bịnh đã được lành,
Nên để trong lỗ cột.
Nếu bịnh, thầy thuốc bảo,
Hương thoa thân – không phạm,
Người dùng hương thoa thân,
Không được ra khỏi phòng,
Chớ để người chê khinh,
Tăng thêm tâm bất kính.
Nếu có người tịnh tín,
Thí hương bột cầu phước,
Nên dùng thoa bên cửa,
Ngửi có thể sáng mắt.
Tịnh tín dùng hương bột,
Thoa nơi chân Bí sô,
Vì phước thí nên thọ,
Khi đi nên rửa sạch;
Nếu có hương hoa diệu,
Muốn ngửi cho mắt sáng,
Không nên sanh ái nhiễm.
Cho cất giữ ống khóa,
Để giữ gìn y dược,
Chớ khởi ý phiền não,
Liền cầm đánh chúng sanh.
Đại chúng và cá nhân,
Đều cho làm con dấu,
Đồng sắt… đều được làm,
Cá nhân khác đầu lâu,
Hoặc khắc bộ xương trắng,
Đại chúng khác pháp luân,
Đây là tướng con dấu.
Không nên soi kính nước,
Tâm ái xem dung mạo;
Vì bịnh nghĩ vô thường,
Soi thì không có tội.
Không tự đoạn sanh chi,
Không dùng gạch đá đập,
Hãy nên quán bất tịnh,
Để trừ bỏ tâm dục.
Trong bồn rửa chân cao,
Hình như dấu chân voi.
Hai loại quạt được chứa,
Lá tre, lá đa la;
Nếu mưốn trừ muỗi mòng,
Cho làm năm loại quạt:
Chi tiêu, kiếp bối, nhung,
Gai, lông và vải rách.
Khi cần lên thang cao,
Nên cột ống quần lại;
Bí sô không vác nặng,
Nên nhờ người tục mang.
Nghi thức của Bí sô,
Không giống người thế tục,
Dùng lược để chải đầu,
Thì việc này không thể;
Nếu tóc có bụi dơ,
Đầu ngứa dùng tay gãi.
Phía tây bắc sau chùa,
Nên xây nhà đại tiện,
Và làm nhà tiểu hành,
Nên lắp đặt cánh cửa,
Phòng dưới góc tây bắc,
Đăt bình nước Đại chúng,
Day về hướng cửa nam,
Hướng khác chuẩn theo đây.
Nếu thấy người thế tục,
Bí sô già nhảy mũi,
Nên nói là trường thọ,
Không nói liền phạm tội;
Lớn thấy nhỏ nhảy mũi,
Nên nói là không bịnh;
Nhỏ đối trước bậc tôn,
Liền nên nói kính lễ.
Hễ khi ăn thức ăn,
Và tiện lợi chưa rửa,
Hoặc một y trên đường,
Hay đứng chỗ ồn dơ,
Hoặc khi ăn tuy xong,
Nhưng miêng chưa súc sạch,
Đều không nên lễ người,
Cũng không thọ người lễ;
Khi mới ngủ thức dậy,
Chưa đánh răng súc miệng,
Lễ người, thọ người lễ,
Đều phạm tội Ác tác.
Gặp ngưới hành biệt trụ,
Đều không nên lễ bái;
Chỉ nên lễ hai bậc,
Phật và đại Bí sô.
Trong Thánh giáo của Phật,
Có hai loại kính lễ:
Một là gieo năm vóc,
Hai là khom mình xuống.
Người trì giới không nên,
Dùng dây cột cổ rắn,
Nếu rắn không chịu đi,
Phương tiện khéo đuổi đi,
Thì dùng sợi dây mềm,
Nhẹ nhàng cột cổ nó,
Đem bỏ nơi núi rừng,
Không bỏ chỗ đông người,
Đối với chuột cũng vậy,
Đều khởi niệm từ bi,
Cột thả không làm hại,
Ân cần khéo dụng tâm.
Người hộ giới tâm bi,
Thường nghĩ đến rận rệp,
Để nó trong vải cũ,
Bỏ vào trong bọng cây,
Hoặc ở nơi cỏ xanh,
Cho nó tùy thích đi,
Chớ nên khổ hại nó.
Bình dầu có ba loại:
Loại lớn đựng một sao,
Loại nhỏ đựng nửa sao,
Giữa hai loại là trung,
Tùy ý nên cất dùng.
Đi đường nói pháp ngữ,
Hoặc im lặng như Thánh,
Dừng nghỉ nói Già tha,
Ngủ đêm tụng Tam khải.
Cho giữ ba loại dây:
Dài – trăm năm mươi khuỷu,
Ngắn – một trăm khuỷu tay,
Giữa hai loại là trung,
Tùy giếng cạn hay đầy,
Dùng dây dài hay ngắn,
Hoặc có khi không dùng,
Tùy tình mà sử dụng.
Không lấy vật giặc bỏ,
Hãy nên xem xét kỹ,
Nếu nhiều người cùng biết,
Thì lấy không phạm tội.
Nếu Bí sô trồng cây,
Làm sung túc vườn Tăng,
Coi giữ qua năm năm,
Muốn đi nên giao lại.
Bí sô không thề thốt,
Thề thốt tợ vọng ngữ.
Bí sô gặp người nữ,
Nếu có tâm nhiễm khởi,
Hoặc nữ sanh ý nhiễm,
Nên bỏ trú xứ đi.
Nếu thấy Bí sô ni,
Đến để nghe thuyết pháp,
Không nên để họ đứng,
Nên đưa ghế cho ngồi,
Hoặc là phu cụ cỏ.
Ni đến nghỉ trong chùa,
Nên cho ngọa cụ dư,
Nên đưa loại trung hạ,
Loại thượng không nên đưa.
Bí sô, Bí sô ni,
Không đối nhau nói tội,
Do đối với tội phạm,
Xấu hổ khó thể nói.
Bí sô ni có nghi,
Nơi tội nên quyết nghi,
Khởi tâm tôn kính giới,
Chớ sanh tâm khinh mạn.
Ni muốn vào chùa Tăng,
Đến cửa nên bạch trước,
Nếu là người không lỗi,
Thì tùy ý cho vào.
Bí sô ở Lan nhã,
Trước phải thông ba tạng,
Rành ngày tháng, tinh tú,
Lại nên cất chứa dầu…
Khi giặc hỏi nên cho,
Khiến họ không nổi giận.
Trước là thầy thợ khéo,
Sau khi đã xuất gia,
Đồ nghề không nên chứa;
Trừ thầy thuốc, thư sinh,
Kim bút cho mang theo.
Bí sô trụ lan nhã,
Mọi việc nên chuyên cần,
Xuất gia, siêng đứng đầu,
Biếng nhác liền phạm tội;
Cho dù hành tinh tấn,
Chánh pháp cũng nên cầu,
Nếu lìa không kiến tánh,
Mất lòng tin, tu sai;
Nếu như lìa chánh giáo,
Thì không nên tu định,
Hay khởi tâm cuồng loạn,
Tổn hại môn thiền định.
Gỗ xây cất nhà Tăng,
Không nên mang đốt nhuộm,
Nếu là cây cong mục,
Cho dùng không phạm tội.
Nếu cho khách dừng nghỉ,
Cần nên xem xét kỹ,
Là quen hay không quen.
Nếu thấy có người nữ,
Bị lửa cháy nước trôi,
Bí sô nên cứu giúp,
Do tâm từ không phạm.
Đối với cảnh ngũ dục,
Nên xả không ái nhiễm,
Bí sô thường dụng tâm,
Siêng tu tập niệm trụ;
Ba đời chư Như lai,
Chúng Độc giác, Thanh văn,
Đều đi theo đường này,
Đến được thành niết bàn.
Đệ tử quán đức thầy,
Mới thỉnh làm y chỉ,
Thầy nên hỏi đệ tử,
Biết rồi mới nhiếp thọ.
Thầy nên toàn giới hạnh,
Đệ tử bịnh – chăm sóc,
Không có tâm xẻn pháp,
Tùy thời thường giáo thọ,
Nên cầu thầy như vậy;
Đệ tử cũng đủ giới,
Siêng năng, tánh nhu hòa,
Tâm cung kính sư trưởng,
Và siêng tu thiền tụng.
Có duyên tự bỏ đi,
Hoặc gặp lại bổn sư,
Vào ngoại đạo, hoàn tục,
Thảy đều mất y chỉ.
Hoặc y chỉ thầy khác,
Khởi niệm bỏ thầy trước,
Gị là xả y chỉ.
Khi quở trách môn đồ,
Không nên liền đuổi đi,
Tạm cho ở trong chùa,
Cải hối nên tha thứ.
Có năm loại quở trách:
Không nói, không giáo thọ,
Không cho kia hầu hạ,
Ngăn kia tu phẩm thiện,
Cho đến xả y chỉ,
Quở trách và thọ sám,
Đều y giáo hành trì,
Làm trái – phạm Ác tác.
Lười biếng, không cung kính,
Cho đến nói lời thô,
Và thân gần bạn ác,
Người này chớ cho sám.
Khi tẫn xuất Cầu tịch,
Nên có y thượng hạ,
Và cho đãy lượt nước;
Nếu đã thọ Cận viên,
Nên cho kia sáu vật,
Nếu kia khó dung thứ,
Tùy đi không giữ lại.
Lìa bổn sư y chỉ,
Một đêm không nên đi,
Trừ đã đủ năm hạ,
Và thông hiểu giới luật,
Nếu đi đến chỗ khác,
Khai cho đến năm ngày,
Để tìm thầy y chỉ,
Không cầu, không được ở.
Đối với thầy y chỉ,
Thầy tắm nên kỳ cọ,
Nhuộm y hay may y,
Pháp đệ tử nên làm.
Thầy biết lượng sai làm,
Nuôi dưỡng khởi từ bi,
Không nên sai quá phần.
Thầy dạy học, y chỉ,
Báo ân nên thừa sự,
Nhưng đối với cả hai,
Cung kính có sai khác,
Nếu không thầy dạy học,
Tại chỗ ở không phạm;
Còn không thầy y chỉ,
Trú xứ không được ở.
Tuy đoạn hết phiền não,
Lại thông suốt ba tạng,
Nhưng chưa đủ mười hạ,
Vẫn cần phải y chỉ.
Cách thầy hai trạm rưỡi,
Nửa tháng lễ một lần,
Nửa trạm – tám ngày lễ,
Cùng chỗ – ngày ba thời.
Nếu ở trong hạ sau,
Thầy y chỉ qua đời,
Cần phải tự giữ tâm,
Và chiếu cố lẫn nhau,
Cho đến đủ ba tháng,
Nếu không người y chỉ,
Bao sái đà lần hai,
Không nên ở chỗc này.
Khi đã làm Tùy ý,
Chớ Bao sái đà nữa,
Vì Phật thuận thời khai,
Tùy ý là trưởng tịnh,
Phật dạy làm Tùy ý,
Để chỉ dạy cho nhau,
Lại khai môn trưởng tịnh,
Để đối trị nghiệp tội.
Nếu khách Bí sô đến,
Chủ bằng hoặc nhiều hơn,
Mười bốn, rằm so le,
Thì khách nên theo chủ;
Nếu khách Bí sô đông,
Cúng cựu trụ ít hơn,
Thì chủ nên theo khách,
Cùng làm Bao sái đà.
Tăng già không hòa hợp,
Đối một người thủ trì,
Nếu một người cũng không,
Thì tâm niệm thủ trì.
Bí sô xả y bát,
Xả thỉnh, làm phân biệt,
Được tâm niệm thủ trì.
Nếu đại chúng hòa hợp,
Cùng người thiện ở chung,
Nên như pháp thuyết giới,
Cho đến việc Tùy ý,
Nếu có nạn duyên sanh,
Cũng khai cho tâm niệm.
Cách ngày lễ Tùy ý,
Khoảng chừng bảy tám ngày,
Nên làm việc cáo bạch,
Cho mọi người đều biết,
Đàn tràng nên bỉnh pháp,
Một giới không biệt trụ,
Việc chúng đều nên làm.
Hai mươi, mười hoặc năm,
Cho đến bốn Bí sô,
Với túc số bốn người,
Tùy được bỉnh các pháp;
Không nên kể Thế tôn,
Vào trong túc số Tăng,
Phật bảo khác Tăng bảo,
Người bỉnh pháp nên biết.
Xuất tội cần hai mươi,
Cận viên chỉ mười người,
Đủ năm làm Tùy ý,
Bốn làm Bao sái đà,
Nếu tác pháp yết ma,
Đơn bạch… như pháp thành,
Gọi trú xứ nên biết,
Khác – là phi trú xứ.
Bí sô làm pháp câm,
Là ngoại đạo ngu si,
Lừa dối người không biết.
Bí sô an cư xong,
Nói ba việc Tùy ý,
Tuy có nói ba việc,
Là thấy nghe và nghi,
Nhưng gặp nạn duyên khởi,
Vì giữ gìn thân mạng,
Vượt biển cũng phải đi.
Nếu có vua hay giặc,
Thích nghe giới Bí sô,
Do nạn duyên được nói,
Không nạn không nên nói.
Người nghèo có tín tâm,
Người giàu không tín kính,
Ân cần thích nghe giới,
Thế tôn khai cho nói.
Bí sô thông ba tạng,
Và Thượng tòa trong chúng,
Nên cử làm tri sự.
Nghe người thông ba tạng,
Từ chỗ xa khác đến,
Đánh trống nhạc, treo phướng,
Ra hai trạm nghinh đón,
Đại chúng đánh kiền chùy,
Tùy sức đều nghinh đón,
Cho ăn ngon nghỉ mệt,
Cấp tịnh nhơn phụng sự,
Không sai làm tri sự.
Giới học do Phật chế,
Tăng chế chúng tuân hành,
Nếu có trái Tăng chế,
Cũng không trái Phật chế.
Tăng chế có nhiều loại,
Tuy lập rồi lại bỏ,
Nhưng Phật chế không đổi,
Vì Phật không hai lời.
Ngày mười sáu tháng năm,
Nên làm tiền an cư,
Ngày mười sáu tháng sáu,
Bí sô hậu an cư,
Chỉ có hai ngày này,
Cho làm việc an cư,
Ở khoảng giữa không có.
Bí sô trong ba tháng,
Không cho đi ra ngoài,
Chimthú trong mùa hạ,
Cũng không lìa tổ đi,
Nếu đến đầu tháng năm,
Gần hạ cần gìn tâm,
Nên ở trú xứ kia,
Làm các việc nên làm,
Đã đến ngày mười lăm,
Thâu gom các ngọa cụ,
Sai người chia ngọa cụ,
Nên cần người đủ đức,
Nơi dục sân si sợ,
Các lỗi đều không có,
Khéo biết chia chưa chia,
Người này nên sai chia.
Tỳ ha la, ba la,
Trước nên nói Tăng chế,
Mong được an lạc trụ,
Đừng để cho sai trái,
Những người được lạc trụ,
Không nên khởi đấu tranh.
Nên sai người phát thẻ,
Cũng cần đủ năm đức,
Trước đại chúng đơn bạch:
Nay là ngày mười lăm,
Tăng nên cùng thọ thẻ,
Để làm việc an cư,
Sau khi phát thẻ xong,
Kế đến chia phòng xá,
Cho đến giường ngọa cụ,
Theo thứ lớp lớn nhỏ.
Gần tới ngày an cư,
Nên xét chỗ khất thực,
Thuốc bịnh và thức ăn,
Thảy đều dễ có được,
Không phế việc chánh tu,
Và ở tại trú xứ,
Biết có đồng phạm hạnh,
Đủ đức và đa văn,
Thuần thiện và hòa hợp,
Không khiến phiền não khởi,
Thì nên cùng ở chung,
Tiền an cư ba tháng.
Nên ở chỗ ẩn khuất,
Chắp tay trước Bí sô,
Miệng nói văn an cư:
Con Bí sô tên là _
Thí chủ con tên là __,
Nay con ở nơi đây,
Tiền an cư ba tháng,
Hoặc nói hậu an cư,
Phòng xá hư sẽ sửa,
Con ở đây an cư.
Nếu ở đây an cư,
Không giới, pháp, ngủ ngoài,
Hiệnt ại không lợi ích,
Đời sau thọ Nê lê.
Trong an cư nên làm,
Việc chúng, việc phước khác…,
Cho đến cho xuất tội.
Nếu những người thế tục,
Có duyên đến thỉnh mời,
Bí sô xét thời nghi,
Khi cần nên đến dự;
Tam bảo hoặc cha mẹ,
Hoặc sư chủ có việc,
Bịnh duyên hay nạn duyên,
Cho thọ pháp bảy ngày,
Hoặc một hay hai ngày,
Cho đến bốn mươi đêm,
Đều được xuất giới đi,
Chớ để cho lở việc.
Nếu có việc như pháp,
Xét biết không phải hư,
Tăng già cũng sai đi,
Nhưng ở trong một hạ,
Quá nửa không ở ngoài,
Chỉ khai cho bốn mươi,
Nếu quá liền phạm tội.
Nếu ăn uống thiều thốn,
Thầy thuốc lại khó tìm,
Không có người cung cấp,
Bỏ đi không phá hạ;
Hoặc chỗ có tám nạn,
Dâm nữ hay huỳnh môn,
Và các duyên thú dữ…
Bỏ đi không phá hạ.
Nếu nghe có người ác,
Sắp đến phá chúng hòa,
Sợ làm việc không vui,
Bỏ đi cũng không phạm.
Nghe người đấu tranh kia,
Là thân hữu của mình,
Mà không ngăn thì phạm.
Nếu cùng người ước hẹn,
Đến chỗ kia an cư,
Tới ngày không đúng hẹn,
Bí sô phạm Ác tác.
Nếu Bí sô thủ trì,
Pháp bảy ngày, nhiều ngày,
Ở bên ngoài gặp nạn,
Được ở lâu không phạm;
Nếu không có nạn duyên,
Ở lại lâu nhiều ngày,
Liền trái với bổn chế,
Phạm tội và phá hạ.
Kết giới có nhiều loại:
Một là kết đại giới,
Đại giới hai trạm rưỡi,
Giảm bớt tùy trú xứ,
Bốn phương xướng tiêu tướng,
Hoặc núi, sông hay cây,
Ở trong trú xứ này,
Trừ thôn, thế phần thôn,
Kết đại giới nên biết,
Đại chúng nên nhóm hết,
Một người bỉnh yết ma,
Bạch nhị kết giới thành.
Hai – giới không lìa y,
Nương đại giới mà kết,
Muốn Tăng được lạc trụ,
Vốn do duyên già bịnh,
Lìa y ngủ chỗ khác,
Trừ thế phần thô kia,
Được tùy ý du hành.
Ba kết tiểu đàn tràng,
Nên ở trong đại giới,
Bạch nhị yết ma kết,
Trước nên giải đại giới,
Rồi nên theo thứ lớp,
Trước kết tiểu đàn tràng,
Rồi mới kết đại giới,
Nếu muốn kết tiểu giới,
Xướng tiêu tướng như rước,
Gọi là Mạn trà la,
Trong đó tùy tác pháp,
Người kết giới nên biết.
Chúng đều chết, chuyển căn,
Hoặc thảy đều xả giới,
Hoặc ra hết ngoài giới,
Mặt trời mọc không về,
Hoặc bạch tứ yết ma,
Đại chúng đồng tâm xả,
Đây là năm trường hợp,
Xả đại giới nên biết.
Hễ muốn kết đại giới,
Nên biết rõ tiêu tướng,
Hướng xuống dưới hay trên,
Thảy đều hai trạm rưỡi,
Bằng đỉnh núi, ngọn cây,
Hoặc bằng với tường rào,
Là phạm vi đại giới.
Muốn dùng đồ trang nghiêm,
Phật đều khai cho làm,
Nghiêm sức hình tượng Phật,
Khiến phước thí tăng trưởng,
Nhưng không đeo vòng tai,
Cho đến vòng xuyến chân,
Đồ trang sức của nữ.
Muốn mọi người giải tán,
Nên ngừng tiếng trống nhạc,
Và thu cất đồ cúng,
Không để cho thiếu mất.
Nếu khi đại chúng nhóm,
Gây ồn ào, huyên náo,
Không biết đến giờ ngọ,
Nên thổi loa, đánh trống,
Để báo giờ cho biết.
Nếu chia vật người chết,
Đại chúng đông khó chia,
Mười người làm một nhóm,
Cho đến số trăm ngàn,
Mỗi nhóm lấy một phàn,
Trong nhóm tự chia nhau,
Người được hay chưa được,
Nếu chết cần phân biệt,
Nếu chia xong mới chết,
Vật vào Tứ phương tăng,
Nếu trong nhóm chưa chia,
Vật thuộc trong nhóm chia.
Có chỗ thỉnh Bí sô,
Và thỉnh Bí sô ni,
Thí chủ đem lợi vật,
Để ở trước thủ chúng,
Nên chia làm hai phần,
Hoặc tùy tâm thí chủ;
Thức ăn uống chia đều,
Nếu như chia vật thí,
Chia phần cho Bí sô,
Bằng với Bí sô ni,
Phần Thức xoa ma na,
Nên chia một phần hai,
Người sắp thọ viên cụ,
Cũng được một phần hai,
Cầu tịch, Cầu tịch nữ,
Nên chia một phần ba.
Nếu có nhiều Bí sô,
Chúng Bí sô ni ít,
Nên tính số đầu người,
Không nên chia phân nửa.
Nếu đến ngày đại hội,
Thỉnh tượng vào thôn thành,
Có thể trừ tai họa,
Trang nghiêm tượng sanh phước,
Rưới quét khang trang đường,
Cho đến các ngõ hẽm,
Rải hoa, treo phan phướng,
Đẹp đẽ như vườn trời,
Hương chiên đàn trầm thủy,
Theo gió bay khắp nơi,
Người nghe sanh kính ngưỡng,
Thổi loa đánh chiêng trống,
Gióng chuông báo khắp nơi,
Người nghe sanh tùy hỉ,
Trống nhạc trổi liên hồi,
Tiếng cao vút tầng mây,
Gọi là đại pháp hội.
Cờ phướn có năm loại:
Vẽ hình tượng Kình, ngưu,
Diệu súy, rồng, sư tử.
Đều mang đi cúng dường,
Pháp tục nương theo nhau,
Trang nghiêm dẫn đường Phật,
Do Phật vào thôn thành,
Nên Thiên long bát bộ,
Khởi tâm kính cúng dường,
Trừ được các độc hại.
Nhân pháp hội được tài,
Tăng bán đấu giá chia,
Thượng tòa nên định giá,
Nếu có người nào cần,
Xem xét vật tốt xấu,
Tùy tình nói lên giá,
Nếu mua được y vật,
Chưa đưa tiền – không đưa.
Nếu thí chủ kính tín,
Đem vợ con thí Tăng,
Tăng không nên nói giá,
Nên tùy tâm thí chủ.
Chỗ ca múa kỹ nhạc,
Nếu Bí sô sai làm,
Người hộ giới không nói:
Hiền thủ hãy trổi nhạc,
Mà nên nói: Hiền thủ,
Dụng tâm cúng dường Phật,
Chớ sanh tâm biếng nhác.
Nơi tháp Phật treo phan,
Kông được dùng đinh đóng;
Vào ngày đầu xây tháp,
Đóng cọc thì tùy cho;
Lên tháp đốt đèn cúng,
Bí sô không được lên,
Mà nên sai Cầu tịch,
Nếu không có ai khác,
Bí sô dùng nước thơm,
Rửa chân rồi tự lên.
Nếu Bí sô xây chùa,
Được làm ba, năm tầng,
Đài hương khoảng năm bảy;
Chùa nhỏ năm ba phòng,
Ở hai bên đông tây,
Phòng rộng một trượng hai.
Chùa Ni nên ba tầng,
Đài hương ùy đến năm,
Phòng xá giống như Tăng.
Nếu tượng Phật hư hoại,
Kinh rách chữ mờ nhạt,
Nên tu bổ mới lại.
Khi Bí sô khất thực,
Có người không phân biệt,
Tưởng Phật gọi là Phật,
Đem vật ra cúng dường,
Bí sô nên hỏi rõ:
Ông gọi tôi là Phật,
Có phải Lưỡng túc tôn,
Ông gọi tôi là Pháp,
Có phải pháp diệt khổ,
Ông gọi tôi là Tăng,
Có phài chơn Thánh chúng?
Tùy tâm kia ưa thích,
Nếu thí thì được thọ,
Bí sô không có tội.
Cho dù chỉ một Ni,
Đến nhà khác thọ thỉnh,
Hàng đầu chừa một tòa,
Dành cho Bí sô đến,
Bí sô ngồi tòa này,
Cầu tịch cũng được ngồi,
Nếu không biết chú nguyện,
Bí sô ni làm giúp.
Không có người chấp sự,
Tùy duyên đến thôn xóm,
Được lợi nên tìm người,
Để tác pháp ký gởi,
Rồi mới được cất giữ.
Trên nói các tạp duyên,
Dưới luận sau khi chết,
Việc thiêu chôn nên biết,
Sau khi Bí sô chết,
Tăng nên đánh kiền chùy,
Gọi người đến khiêng thây,
Củi thiêu dùng Tăng vật,
Hương hoa, phướn, âm nhạc,
Tiễn đưa đến Thi lâm,
Thân quyến và môn đồ,
Thương nhớ đi theo sau,
Người thân thiện nên thiêu,
Củi lửa cần đầy đủ,
Rưới tô dầu chiên đàn.
Thân tử thi sanh trùng,
Khi chôn chớ làm tổn,
Hoặc để ngoài đồng hoang,
Lấy cỏ lá phủ lên.
Trong mỗi mỗi thân thể,
Có tám vạn trùng ở,
Cùng sống chết theo thân,
Tuy đốt không có tội,
Nên lấy y thượng hạ,
Phủ kín thân tử thi.
Y bát… của người chết,
Theo pháp Tăng được chia.
Khi làm lễ hỏa thiêu,
Nên tụng kinh Tam khải,
Dụng tâm quán vô thường,
Để sanh tâm nhàm lìa,
Các hành đều vô thường,
Pháp duyên sanh đều diệt,
Sát na không tạm dừng,
Như sương bị gió thổi.
Quán khắp các thế gian,
Không có gì trường tồn,
Đều đến biển vô thường,
Bị sóng chết cuốn trôi.
Tánh bốn đại cứng chắc,
Không thể dời đổi được,
Có sanh ắt vô thường,
Vua chết đại oai lực,
Vô thường không chọn lựa,
Nhất loạt đều sẽ chết,
Không luận phàm hay Thánh,
Chư Phật và Duyên giác,
Chúng đệ tử Thanh văn,
Còn xả thân vô thường,
Huống chi các phàm phu.
Pháp như thế tụng rồi,
Mới nói đặc kỳ noa,
Rồi trở về trong chùa,
Vừa đi vừa suy nghĩ,
Các hành đều vô thường,
Để dứt tâm xan tham.
Trở về rửa tay chân,
Hoặc tắm rửa toàn thân,
Mới nhiễu quanh tháp Phật.
Y vật Bí sô chết,
Nếu các Bí sô đến,
Kịp năm thời được chia:
Kiền chùy, tụng Tam khải,
Lễ tháp Phật, hành trù,
Và khi làm yết ma.
Chúng chưa nhóm không nên,
Liền chia vật người chết,
Nên đem ít vật cho,
Thượng tòa và người cuối,
Làm định ký này rồi,
Sau đó cùng chia vật,
Nếu có khách đến sau,
Không nên chia cho phần.
Nếu người bịnh nói rằng:
Tôi chết rồi mới cho,
Là tâm xẻn không quyết,
Sau khi chết, thuộc Tăng,
Nếu tình quyết không xẻn,
Khi còn sống đã cho,
Tùy tâm thí người khác,
Mới gọi là y pháp.
Tục chết nhiều hy vọng,
Xuất gia không như vậy,
Nếu vì tâm quyến luyến,
Sanh tử ngày càng tăng.
Tài vật Bí sô chết,
Của mình, người xen tạp,
Nên đem y bát… ra,
Để ở trước chúng tăng,
Biết vật của người chết,
Mới được như pháp chia.
Các vật báu đã có,
Nên y giáo xử phân.
Thân Bí sô nếu chết,
Chúng Bí sô được chia,
Nếu không có Bí sô,
Bí sô ni được chia.
Nếu Bí sô ni chết,
Bí sô ni được chia,
Không có Bí sô ni,
Bí sô được làm chủ.
Bí sô chết nhà tục,
Không Tăng thì người tục,
Đem cho người đến trước,
Nếu hai người cùng đến,
Nên cho người xin trước,
Nếu cả hai cùng xin,
Nên chia cho hai người,
Hoặc tùy tâm thí chủ,
Cho ai, người ấy nhận.
Nếu chỗ Bí sô mất,
Rất gần với nhiều chùa,
Tùy đầu day phía nào,
Nơi đó được y bát.
Bí sô mắc nợ người,
Đột nhiên lại qua đời,
Cần phải hỏi biết kỹ,
Đem y người chết trả.
Nếu Tri sự trong Tăng,
Vì tăng hỏi mượn vật,
Đột nhiên lại qua đời,
Nên đem vật Tăng trả,
Trả nên khéo trù lượng.
Hễ là vị tri sự,
Đến người khác mượn vật,
Làm khế ước rõ ràng,
Nên bạch Thượng tòa biết,
Y phướng tiễn người chết,
Mang đến thí Bí sô,
Thọ lấy không trái lý,
Khiến họ tăng thêm phước;
Nếu họ sanh tâm hối,
Trở lại đòi y ấy,
Bí sô nên đưa hết,
Chớ để lửa buồn bức.
Bị cử cùng ở chung,
Với các Bí sô thiện,
Nếu có một người chết,
Người thiện được lấy y,
Không chia cho Bị cử,
Không có người trì giới,
Bị cử chưa được giải,
Cũng được cùng chia vật.
Nếu Bí sô tri sự,
Xuất vật cho người khác,
Có khế ước rõ ràng,
Đột nhiên lại qua đời,
Nếu khế ước vì chúng,
Thì vật thuộc về chúng,
Tháp thờ cũng như vậy,
Vật của vua đưa vua,
Vật khác Hiện tiền chia.
Nếu là người thuyết pháp,
Dù chỉ một bài kệ,
Do thuyết pháp được tài,
Tài này pháp sư thọ.
Mâu ni có hai pháp,
Giáo và chứng nên biết,
Giáo là kinh A Cấp ma,
Thí pháp nên được phần.
An cư nếu quá nửa,
Liền có người xả giới,
Lại có Bí sô mất,
Nên cho người đó phần.
Xây cất tháp thờ Phật,
Lượng bằng Tô mê lư,
Bốn bên xây kiên cố,
Cho đến đặt bình báu,
Một đến bốn pháp luân,
Theo thứ lớp bốn quả.
Nếu phàm Tăng đủ đức,
Làm tháp thờ bằng đầu,
Nếu làm tháp thờ Phật,
Luân cái không định số,
Quá ngàn lượng Diệu cao,
Được phước báu vô biên.
Tháp Độc giác lân dụ,
Không quá mười ba bàn,
Ở trên đầu luân tướng,
Không cho để binh báu.
Để Phật trong tháp thờ,
Hai bên hai đệ tử,
Các Thánh khác thành hàng,
Phàm Tăng ở bên ngoài.
Kế nói việc khán bịnh,
Nếu nghèo không tiền thuốc,
Lấy vật Tăng đưa cho.
Nếu người tục đến xin,
Nước bát cho người bịnh,
Nước sạch đựng trong bát,
Bí sô nên nhất tâm,
Tụng ba biến kệ chú,
Rồi mới đưa cho họ.
Nếu Bí sô lấy thuốc,
Đem đưa cho người bịnh,
Khi người bịnh cần thuốc,
Mà không có người trao,
Cũng được tự lấy dùng.
Không được khuyên người bịnh,
Cúng y bát cho Tăng,
Dù kia có xả thí,
Tăng cũng không nên thọ,
Người thí và người thọ,
Người khuyến hóa tình tham,
Cả ba tâm không tịnh,
Thì không nên thọ dụng.
Người bịnh nếu ưa muốn,
Cúng dường cho Phật, Tăng,
Nên cúng y vật tốt,
Thủ trì y thô xấu.
Nếu kia nghèo không vật,
Nên làm việc khuyến hóa,
Tùy tâm thí nhiều ít,
Làm theo lời người bịnh,
Khiến tín tâm tăng trưởng,
Cho người bịnh được vui.
Nếu người bịnh tâm xẻn,
Khó xả tài vật mình,
Người khán bịnh nên khuyên,
Khiến sanh tâm thí xả.
Nếu đối với tư cụ,
Có tham ái nên xả,
Đối trước người giới đức,
Tùy tâm thí y bát,
Bí sô tuy trì giới,
Có tâm tham ái bát,
Thì sau khi chết đi,
Sanh trở lại trong bát,
Thọ quả báo rắn độc.
Bí sô mắc bịnh Trĩ,
Chớ để người không tin,
Hấp tấp đưa thuốc uống,
Hoặc cắt khiến khổ não,
Muốn trị lành bịnh trĩ,
Nên dùng thuốc, trì chú,
Không thầy thuốc chỉ dẫn,
Không dùng móng tay bấm.
Nếu không người nuôi bịnh,
Không đệ tử và thuốc,
Đại chúng nên cung cấp,
Thuốc xuất từ kho Tăng,
Nếu là người cô độc,
Không có người cung cấp,
Đại chúng nên thăm nuôi,
Hoặc chia phiên đến thăm.
Nếu bịnh ghẻ lở loét,
Chớ làm dơ giường Tăng,
Nên lấy y dầy lót,
Là tài vật của mình.
Chủ xây chùa qua đời,
Bị giam, đi nơi khác,
Bí sô ở năm năm,
Cho dù có thiếu thốn,
Cũng không nên bỏ đi,
Được cùng chùa ở gần,
Đồng lợi, trưởng tịnh riêng,
Thủ trì không thiếu sót.
Coi giữ đủ mười năm,
Nếu không thích ở nữa,
Nên đem ngọa cụ Tăng,
Gởi ở bên chùa gần,
Đóng cửa chùa kỹ càng,
Tùy tình đi nơi khác.
Vật đã gởi chùa khác,
Chủ đòi nên trả lại,
Nếu như có duyên khác,
Thọ dụng không phạm tội.
Thí chủ trước có tâm,
Thí cho Tăng nơi đây,
Không thí tăng nơi khác,
Nếu hồi chuyển chùa khác,
Phải cưỡng đoạt mang về.
Nếu mặc y phục Tăng,
Không nên đem giặt nhuộm,
Nếu vào lúc mưa tuyết,
Không để ngoài đất trống,
Cũng không mặc y này,
Vào trong nhà bất tịnh.
Nếu như qua đầu đêm,
Không nên chia ngọa cụ,
Nếu biết dừng ở lâu,
Nửa đêm cũng nên cấp,
Theo thứ lớp từ già,
Cho ngọa cụ giường tòa.
Nên chừa lại một phòng,
Dành cho khách Bí sô,
Dù ở A lan nhã,
Cũng chia theo thứ lớp,
Đất, cây và tòng lâm,
Cũng nên chừa một chỗ,
Để cất giữ y bát,
Khác với đây liền phạm.
Nếu ở chỗ chật hẹp,
Tấc đất nên chia nằm,
Bình nước, tăm xỉa răng,
Thuốc, tạp vật đều chia.
Khi muốn đi chỗ khác,
Phải quét dọn sạch sẽ,
Nếu cố ý làm hoại,
Liền phạm tội Ác tác.
Ngọa cụ, thức ăn uống,
Cùng chia đều người nhỏ,
Hoa quả cũng như thế.
Nếu thấy ngoài Tăng phòng,
Ngọa cụ nơi đất trống,
Hãy thu cất vào trong,
Già bịnh nhờ người cất.
Thấy ngọa cụ của Tăng,
Bị lửa cháy, nước trôi,
Bí sô theo thứ lớp,
Đem vật mình ra trước,
Kế đem vật Tăng, Pháp,
Sau mới mang vật Phật.
Nếu muốn cầu quyết nghi,
Cần phải thỉnh hỏi trước,
Kế nên xét thời nghi,
Mới ở trong ba tạng,
Tùy ý hỏi chỗ nghi.
Hễ là bậc giáo thọ,
Tùy đi đứng nằm ngồi,
Ở trong bốn oai nghi,
Thuyết pháp đều không phạm.
Những người có thọ học,
Phải khởi tâm cung kính,
Trừ một việc nằm ngủ,
Ba nghi kia không ngăn.
Khi giáo thọ người học,
Kia tâm ngu chưa hiểu,
Tâm bi nên khai dắt,
Trăm lần cũng không từ.
Bí sô đưa tay đấm,
Vào cột nhà, vách tường,
Là điều không nên làm.
Không ở nhà úp bát,
Thọ ăn uống, giường tòa,
Cũng không đến thuyết pháp.
Nếu thí chủ tịnh tín,
Trải y diệu trên đất,
Thỉnh Bí sô bước lên,
Khi Bí sô bước lên,
Tưởng các hành vô thường.
Bí sô hành đầu đà,
Chỉ chứa đủ ba y,
Khai chứa một y tắm,
Nếu chứa y khác nữa,
Liền trái hạnh đầu đà.
Bí sô thọ cơm đậu…
Đã nấu nhưng còn sống,
Được nấu lại không phạm.
Nếu ói mửa thức ăn,
Ói xong súc miệng sạch,
Trừ nghiệp lực đời trước,
Trong cổ hai cuống họng.
Ở dưới cây hoa, quả,
Không nên đại tiểu tiện.
Bịnh nặng không lễ người,
Cũng không thọ người lễ.
Tắm đợi thân khô rồi,
Mới mặc y phục khác,
Hoặc dùng khăn lau khô.
Nếu được cúng hoa hương,
Nên treo để chỗ khuất,
Ngửi làm cho mắt sáng,
Khiến thí chủ tăng phước.
Tôn đà lợi đập y,
Làm cho y láng đẹp,
Gởi cho Nan đà mặc,
Phật liền chế đập y,
Được y đã đập trước,
Ngâm phơi cho mất đẹp,
Nếu vẫn còn láng đẹp,
Mặc liền phạm việt pháp.
Vật mà giặc đã bỏ,
Thịt chết còn dư lại,
Cam giá cũng như vậy,
Ở trước chỗ đông người,
Bí sô không nên lấy.
Không dùng đầu lưng trần,
Mang vác vật trên đường,
Bí sô hiện tướng khổ,
Bị người tục chê trách.
Ngày cha mẹ qua đời,
Trăn trối cho Bí sô,
Tài vật này nên thọ,
Rồi đem cúng Tam bảo.
Bí sô ở ngoài giới,
Gởi dục cho trong giới,
Thì tác pháp không thành,
Lại phạm tội Ác tác.
Nếu có người đem thí,
Cao nhiếp bà quý giá,
Tăng thọ rồi không nên,
Cắt phá nhỏ ra chia,
Nên bán lấy tiền chia.
Bí sô không thấy rắn,
Nằm cuộn ở trên giường,
Khi mới vừa nằm xuống,
Bị rắn cắn qua đời,
Lại nằm đè rắn chết,
Phật nhân việc này chế,
Khi ngủ không xem kỹ,
Liền phạm tội Ác tác.
Già bịnh và gầy yếu,
Phật khai cho đi xe,
Tùy tình đi và về.
Đi dặn trao ngọa cụ,
Người được dặn trao này,
Nên giữ gìn kỹ lưỡng,
Tâm nghĩ là giữ giùm,
Tám ngày, mười lăm ngày,
Nên thường đem hong phơi,
Khác thì phạm việt pháp.
Nhà đại tiểu tiện lợi,
Và khí cụ của tăng,
Ai lấy trước được dùng,
Không theo tuổi lớn nhỏ.
Nếu có nhiều khí vật,
Tùy người nào mượn trước,
Thì cho thọ dụng trước,
Không để họ lở việc.
Nếu thí chủ đem thí,
Giường tòa, quạt tốt đẹp,
Tăng thọ, cá nhân không;
Ghế dựa để trừ mệt,
Tăng, cá nhân đều thọ.
Nếu lớn hơn ba hạ,
Cho ngồi cùng một tòa,
Nếu người chưa Cận viên,
Không ngồi cùng một chiếu;
Nếu ở trong nhà tục,
Không tìm được tòa khác,
Khai cho ngồi cùng tòa,
Với vị Thân giáo sư.
Nếu có nạn duyên khởi,
Mang ngọa cụ Tăng theo,
Người mang được thọ dụng,
Nếu nạn sợ hãi dứt,
Thọ dụng lại như cũ,
Khi thấy bị rách thủng,
Nên như pháp khâu vá,
Nếu như quá cũ rách,
Không thọ dụng được nữa,
Nên cắt làm tim đèn,
Hoặc trộn bùn trám lỗ,
Khi thọ dụng như thế,
Khiến thân được an lạc,
Và thí chủ tăng phước.
Nếu thức ăn trong chùa,
Đã có phần nhất định,
Người khác liền đến ăn,
Nên tính giá đền lại.
Vật ngọa cụ của Tăng,
Nên ghi tên thí chủ.
Bí sô ở biên phương,
Cho dùng ngọa cụ da,
Không khai cho trung phương,
Ở nhà tục tạm khai,
Ngồi trên ngọa cụ da,
Nhưng nằm thì không cho,
Khai cho dùng da gấu.
Nếu giường được làm bằng,
Vàng bạc và trân châu…
Thì gọi là giường lớn;
Bí sô ngồi trên giường,
Thòng chân không đụng đất,
Thì gọi là giường cao,
Người giữ giới nên biết,
Bí sô không được ngồi,
Trên hai loại giường này.
Nếu là giường chắc chắn,
Hai người cũng được ngồi,
Cho đến ba người ngồi,
Nhưng phải xét cũ mới.
Nếu muốn chia tài vật,
Bạch Tăng đánh kiền chùy,
Hoặc là cùng hành trù,
Báo cho Tăng già biết.
Đánh kiền chùy có năm,
Do việc làm không đồng,
Tùy đánh theo lúc đó,
Nếu chỉ đánh một hồi,
Không đánh thêm hồi nữa,
Là báo việc người mất;
Nếu như đánh ba hồi,
Là báo làm việc chúng;
Đánh hai hồi nhỏ dần,
Rồi đánh thêm hồi lớn,
Là pháp thường của chúng;
Nếu như có cấp nạn,
Tùy đánh không nhất định,
Để cảnh giác mọi người;
Nếu cảnh giác thiền tư,
Thì rung cây tích trượng.
Nếu khách sắp vào chùa,
Nên ngoài cửa rửa chân,
Nếu chỗ nước khó tìm,
Dùng lá phủi bụi giày;
Khi đã vào trong chùa,
Trước chào hỏi bậc tôn,
Chủ chào hỏi thiện lai,
Chước lượng cho nghỉ ngơi,
Và uống nước phi thời,
Khiến tâm khách hoan hỉ.
Nên hỏi rõ Tăng chế,
Biết rồi phải hành theo,
Giống như lời Phật dạy.
Các Bí sô cựu trụ,
Đã làm chế lịnh rồi,
Nên y theo lý giáo,
Chớ khiến chúng phiền não.
Bí sô không được gọi,
Tên họ của Đại sư,
Cho đến gọi cụ thọ;
Người nhỏ gọi người lớn,
Nên gọi là đại đức;
Người lớn gọi người nhỏ,
Nên gọi là cụ thọ.
Đại tiểu tiện khạc nhổ,
Cho đến ói ra máu,
Không được trên cỏ tươi,
Và ở trong nước trong,
Cây đẹp và ruộng sạch,
Không bỏ chất bất tịnh.
Bí sô không cạo tóc,
Nơi đất sạch trong chùa,
Có bịnh thì tùy khai,
Cạo xong nên quét dọn,
Bí sô khi cạo tóc,
Theo thứ lớp lớn nhỏ,
Nếu đã hạ tay cạo,
Không nên bảo đứng dậy.
Cạo râu, cắt lông mũi,
Kế cắt móng tay chân,
Theo thứ lớp nên biết.
Không cạo lông chỗ kín,
Nếu có bịnh nên báo,
Cho đồng tịnh hạnh biết.
Bí sô cắt móng tay,
Không được cong hay nhọn,
Trên móng cho trừ dơ,
Không cho làm bóng sáng.
Nếu ở nơi lan nhã,
Tóc không quá hai ngón,
Dài hai ngón không phạm,
Ở thành thôn không cho.
Sau khi cạo tóc xong,
Bí sô nên tắm sạch,
Nếu có việc tùy khai,
Cho rửa sạch năm chi.
Không có thợ cạo tóc,
Bí sô nào biết cắt,
Cho ở trong phòng Tăng,
Cắt tóc giùm không phạm.
Sáng sớm nên đánh răng,
Hoặc sau khi ăn xong,
Không đánh răng liền phạm,
Cây đánh răng có ba:
Dài mười hai ngón tay,
Ngắn chừng tám ngón tay,
Vừa – giữa hai loại trên,
Tùy ngón tay lớn nhỏ,
Loại cây gì cũng được,
Căn đầu mềm rồi xỉa,
Xỉa răng xong nạo lưỡi,
Đồng, sắt, đồng đỏ, thau,
Tùy dùng làm nạo lưỡi;
Không có cây nạo lưỡi,
Bẻ hai cây xỉa răng,
Dùng làm cây nạo lưỡi.
Tiền thân làm rắn độc,
Nay làm con trưởng giả,
Xuất gia làm Bí sô,
Thường dùng cây nạo lưỡi,
Nạo xong bỏ nơi đất,
Ruồi bu đến liền chết,
Mèo đến liếm cũng chết,
Chó liếm cũng mạng qua,
Phật do đây khởi bi,
Chế không bỏ tùy tiện,
Sau khi nạo lưỡi xong,
Rửa sạch rồi mới bỏ,
Không nước, dùng đất chà,
Làm trái – phạm Ác tác.
Bí sô có ba việc,
Nên làm nơi chỗ khuất:
Đại tiểu tiện, xỉa răng.
Bí sô mang giày da,
Khai cho dùng một lớp,
Không được dùng nhiều lớp,
Nếu người tục làm tịnh,
Mang đi vài ba bước,
Bí sô mới được mang;
Bước đi nếu ra tiếng,
Dù tịnh – không được mang.
Nếu ở nước giá lạnh,
Băng tuyết đóng đầy đất,
Cho mang giày phú la.
Không dùng năm loại da:
Sư tử, cọp, voi, ngựa…
Cho đến gân của chúng,
Không được dùng may giày.
Nếu ở Tỳ ha la,
Bí sô không mang guốc,
Trong nhà tục tùy khai;
Cỏ gai, tre làm giày,
Bí sô không được mang,
Chân có bịnh phong huyết,
Cần mang thì tùy khai.
Không có thuyền qua sông,
Cho nắm đuôi bò đực,
Voi đực và ngựa đực…
Thảy đều không ngăn cấm.
Thuế ruộng cho lấy phần,
Nghề nông tuyệt không cho,
Coi giữ nên dụng tâm,
Chớ tổn của Thường trụ,
Đường hiểm gặp nạn duyên,
Được tự mình mang đi,
Nếu có giặc đến chùa,
Cho Bí sô náo loạn,
Để làm cho giặc sợ.
Cầu tịch mang lương thực,
Sức yếu cần giúp đở,
Bí sô nên trợ giúp,
Nhấc lên hay đở xuống,
Chớ để kia buông tay,
Nếu vẫn còn khốn đốn,
Bí sô nên mang giúp,
Hoặc trên bao lương thực,
Cột một sợi dây dài, Bảo
Cầu tịch nắm dây.
Giặc đến sợ bỏ chạy,
Hoặc khi lội qua sông,
Bỏ lại bao lương thực,
Bí sô tự thu lại,
Khi ăn không có lỗi.
Xe chuyên chở lương thực,
Đường hiểm xe bị nghiêng,
Bí sô nên cùng đẩy,
Nếu ngồi xe chở lúa,
Tránh ngồi chỗ tay lái;
Trên thuyền chở đầy lúa,
Gặp cạn nên phụ đẩy,
Ngồi trên thuyền chở lúa,
Tránh ngồi chỗ bánh lái.
Bí sô không nhuộm y,
Ở nơi đất sạch đẹp,
Nhuộm dơ bị chê trách;
Nếu khi hong phơi y,
Bông nhiên có mưa gió,
Sợ bụi bay dơ y,
Nên dời để trong hiên,
Làm dơ nên lau chùi.
Các Bí sô đồng pháp,
Thấy tranh nên hòa giải,
Nếu họ không nghe theo,
Bỏ đi không cần xem.
Giữa phá giới trì giới,
Nên tin người trì giới,
Cả hai đều trì giới,
Nên tin người đa văn,
Cả hai đều đa văn,
Nên tin người thiểu dục,
Cả hai đều thiểu dục,
Tin người thiểu dục nhất,
Thiểu dục nhất không tranh.
Khi bàn luận pháp tướng,
Bỗng phát sanh tranh cãi,
Nếu ác kia không trừ,
Tăng nên cho xả trí.
Hai người cùng tranh cãi,
Ở chỗ lễ gặp nhau,
Dù tranh nên kính lễ,
Lớn nên nói không bịnh,
Trái với đây đều phạm.
Bí sô vào nhà tắm,
Nên bảo người giữ cửa,
Nếu tắm rửa chưa xong,
Người ít tin chớ vào.
Duyên tại rừng Thệ đa,
Trưởng giả xây chùa xong,
Muốn trang nghiêm trong chùa,
Thỉnh hỏi Phật cách thức,
Phật chỉ bảo như sau:
Không dùng các tạp sắc,
Tùy ý vẽ hoa lá…
Không vẽ hình chúng sanh;
Trên vách trong Tăng phòng,
Vẽ xương trắng, đầu lâu,
Người thấy sanh nhàm lìa;
Nơi cửa lớn vẽ thần,
Vẻ mặt vui, mĩm cười,
Hoặc vẽ hình Dược xoa,
Cầm cây ngăn làm quấy,
Vẽ việc đại thần thông,
Trong hoa hiện hình Phật,
Vẽ bánh xe sanh tử,
Ở hai mép cánh cửa;
Cánh cửa nơi Đài hương,
Vẽ Dược xoa cầm hoa;
Trong nhà bếp của Tăng,
Vẽ thần cầm thức ăn;
Cửa kho vẽ Dược xoa,
Tay cầm đãy như ý,
Hoặc cầm binh thiên đức,
Miệng nhả vàng, vật báu…;
Ở trong Cung thị đường,
Vẽ hình Bí sô già,
Với tư thế phu diễn,
Khai dắt các chúng sanh;
Nơi nhà ấm, phòng tắm,
Vẽ hình năm thiên sứ,
Sanh già bịnh chết buộc;
Ở trong nhà dưỡng bịnh,
Vẽ hình tượng Đại sư,
Đang đưa tay đại bi,
Dìu đở người bịnh nặng;
Nếu ở chỗ chứa nước,
Vẽ hình rồng và rắn;
Nếu ở trong nhà xí,
Nên vẽ hình Thi lâm;
Nơi vách tường hành lang,
Vẽ sự việc bổn sanh,
Phật hành hạnh khó hành,
Bố thí vợ, con cái,
Tu nhẫn nhục, xả thân.
Ở dưới mái hiên phòng,
Không cho lửa xông khói,
Nếu có duyên cần lửa,
Hết khói mới mang vào.
Ở trên nền gạch tốt,
Không cố ý đốt lửa,
Nếu có duyên cần thiết,
Nên đốt ở trong lò.
Phật và bậc tôn lão trong chúng,
Quốc vương ban ân cho dân lành,
Thân giáo, quỹ phạm hai bậc tôn,
Năm thiện giáo này không gì hơn.
Nếu Bí sô muốn làm việc gì,
Thế tôn không khai cũng không ngăn,
Thanh tịnh không cùng tục trái nhau,
Việc ấy nên làm chớ do dự,
Nếu là việc bị thế gian chê trách,
Bí sô nhất định không nên làm.
Lược giáo khiến đệ tử được an,
Rõ ràng Phật là Nhất thiết trí,
Nếu không nhớ được phần duyên khởi,
Trong Tỳ nại da, Tu đa la,
Sáu đô thành lớn tùy nơi nói,
Hoặc nói là thành Thất la phiệt,
Thành Bà la nê tư, Chiêm ba,
Thành Tỳ xá ly, Vương xá;
Nếu là trưởng giả, nói Cấp cô độc,
Vua Thắng quang nước Kiều tát la;
Hoặc Ưu bà di Tỳ xá khư,
Nơi ấy lúc ấy tùy xưng nói.
Trong thành lớn Bà la nê tư,
Có quốc chủ là Phạm thọ vương,
Cận trụ nữ tên Bao sái đà,
Có đại trưởng giả tên Tương tục.
Đầu tiên tại Ba la nê tư,
Phật chuyển pháp luân độ quần mê,
Nơi đây thuyết pháp độ năm người,
Để đáp ý nguyện thuở trước kia;
Kế đó độ thêm năm người nữa,
Vì nói sắc… là không, vô ngã,
Quán thấy năm uẩn như bọt nước,
Mà thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Ban đầu do năm người mặc quần,
Cao thấp không ngay bị chê bai,
Phật nhân đây chế môn Thức xoa,
Mặc y tề chỉnh như Phạm thiên.
Kế do Tô trận na… hành dâm,
Phật nhân việc này chế học xứ,
Duyên phạm miễn người phạm đầu tiên,
Giới là đường sanh thiên, niết bàn.
Lại nhân chúng đại đức sáu người:
Ô ba-nan đà, A thấp ca,
Xiển đà, Nan đà, Ô đà di,
Bổ nại phạt tố, khó điều phục,
Đã làm ô uế giáo pháp Phật,
Tùy việc đã làm chế học xứ,
Gọi là Thức xoa ca la ni,
Nhưng việc đã làm không phạm trọng,
Nếu có quyết tâm không phạm giới,
Người này gọi là bậc Thượng trí;
Tuy phạm biết sám cũng dòng thắng,
Để lâu không sám sanh đường ác.
Chư Phật đã đến bờ biển đức,
Bố thí đã làm không kể hết,
Tuyên nói Điều phục cứu chúng sanh,
Và hay dẫn dắt người thắng thiện.
Phàm phu vô thỉ chứa vô minh,
Lưu chuyển đã lâu chỗ hằng mê,
Chỉ Phật mới duỗi tay chánh pháp,
Ân cần kéo khỏi chốn u minh.
Phật trải qua A tăng kỳ kiếp,
Thường hành đại bi xông diệu trí,
Khéo hay điều ngự chúng sanh giới,
Lại có đại sự cần nên làm,
Là thọ ký vị Phật đương lai,
Xá lợi, Mục liên cặp thứ nhất,
Phật ứng hóa thảy đều tự độ,
Việc kết giới cuối cùng nên làm,
Hiện thần thông từ thiên cung xuống,
Cha mẹ đắc quả nói nghiệp duyên,
Niết bàn tối hậu quy mạng lễ.
Kính lễ các đại đức kiết tập,
Để hiển rõ ẩn giáo của Phật,
Thuyền báu chìm sâu khiến nổi lên,
Ánh sáng chiế khắp biển vô biên.
Kính lễ thị giả A-nan đà,
Văn trì khéo kiết tập kinh tạng,
Khiến các chúng sanh đều vui mừng,
Phiền não trói buộc được dứt trừ.
Kính lễ thánh giả Ưu ba ly,
Có thể tuyên thông tạng Điều phục,
Giống như người khéo trì minh chú,
Hay trừ độc xà vương cõi ác.
Kính lể tôn giả Đại Ca Diếp,
Hiển rõ tạng Ma đát lý ca,
Ánh sáng chiếu khắp thế gian này,
Khiến cho nghĩa ẩn phô dương hết.
Năm trăm La hán ở Vương thành,
Kết tập ba tạng là ứng nhân,
Tuôn mưa pháp nhuần thấm thế gian,
Con nay chí thành quy mạng lễ,
Đế thích thiên vương làm thượng thủ,
Chúng A tu la đều cung kính,
Vân tập đầy khắp trên không trung,
Cúi đầu thành kính khen hiếm có,
Lúc đó bên đại thành Vương xá,
Hương hoa trời tỏa khắp núi rừng,
Do các thiên nữ rải hoa thơm,
Và cỏ thơm xuống núi Tu di.
Thời gian sau ở thành Quảng nghiêm,
Bên ao Di hầu lại kết tập,
Bảy trăm La hán kết tập Luật,
Khiến cho luật giáo được thêm sáng.
Phật diệt dộ, ánh sáng Phật tắt,
Để lại Pháp bảo sợ mai một,
May mắn thay Thánh chúng kết tập,
Khiến nhân thiên quy ngưỡng trở lại.
Mâu ni ở lâu trong luân hồi,
Vì cầu chánh pháp trong sanh tử,
Nguyện cứu độ người không ai cứu,
Khiến cho các khổ dứt trừ hết,
Đầu mắt tay chân đều bố thí,
Xương thịt máu huyết cứu giúp người,
Con cái yêu như trăng đầu tháng,
Đều tùy hỉ xả về viên tịch.
Phật Thích ca Mâu ni đã nói,
Cho đến khi chánh pháp chưa diệt,
Dứt trừ lười biếng, đoạn ngu si,
Chí nguyện quyết tâm siêng sách tấn,
Ngôn luận thù thắng trong Phật ngôn,
Tụng tôn thắng trong Chánh pháp tụng,
Con Tỳ xá khưtâm chí thành,
Kết tụng khiến sanh phương tiện dễ,
Nếu đối Thánh thuyết có tăng giảm,
Trước sau sai sót, trái thứ lớp,
Nguyện bậc thấy rộng dung thứ cho.
Con nói luật giáo của Bí sô,
Lược làm tiểu tụng thu quảng văn,
Nguyện được phổ biến khắp quần sanh,
Nhân đây thành tựu nghiệp phước trí,
Bùn lầy năm dục sanh nhàm lìa,
Thường dùng tịnh tín để trang nghiêm,
Đời đời thường được thân Bí sô,
Kiên trì lời Phật tột mé chơn,
Mong cầu giới phẩm thường thanh tịnh,
Thẳng đến cung Niết bàn không nghi,
Thường nơi lược tụng nhớ tu hành,
Chớ lo một đời thân huyễn hết.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*