Di Đà Sám

DI ĐÀ SÁM PHÁP

Giới Thiệu Di Đà Sám

Sám hối nghiệp chướng là hạnh thứ tư của đức bồ tát Phổ Hiền. Sám nghĩa là nhận biết lỗi xưa, hối nghĩa là từ nay chấm dứt tạo ác. Sám thì tự mình thẹn với lòng, hối thì xấu hổ với người. Sám thì phản tỉnh, hối thì hiện thực sự phản tỉnh trong hành động. Sám thì quằn quại với gút thắt đã tự cột, hối thì quyết tâm tích cực mở gút. Sám thì biết tầm nhìn cũ không còn thích hợp, hối thì nâng cao tới tầm nhìn mới. Sám thì thấu rõ ngọn ngành quá khứ, hối thì lạc quan hướng tới tương lai. Như thế, sám hối là một quá trình tích cực đổi thay, chuyển biến và cải thiện tầm nhìn, giá trị quan, thái độ, và lối sống để ngày càng thêm hạnh phúc. Sám hối là một quá trình cực đẹp và tuyệt diệu trong đời người, bởi vì ai ai cũng sẽ có lúc cần cải thiện để hạnh phúc hơn.
Di Đà Sám được viết trong bối cảnh của triết lý kinh Hoa Nghiêm. Theo đó lý tưởng tu đạo bồ tát là chủ đề của cuộc sống. Khi sống ta cần phát triển một tâm hồn cao thượng, một cái nhìn rộng rãi, một tấm lòng giàu tình thương, giàu tha thứ, và một cuộc sống hiến dâng trọn vẹn cho việc phục vụ lợi ích tha nhân. Đối với cuộc sống sau khi mạng chung, thì ta nên học hạnh của các đại bồ tát, tức là phát nguyện vãng sinh về cõi An Lạc để tiếp tục hành đạo bồ tát và trang nghiêm cõi Phật. Theo kinh Hoa Nghiêm, hạnh vãng sinh tịnh độ của chư Phật là một hạnh vô cùng cần thiết để giúp chư đại bồ tát gần gũi với chư Phật, để hộ trì, trang nghiêm và thành tựu đạo nghiệp của tất cả chúng sinh. Cõi tịnh độ của đức Di Đà cũng như vô số cõi tịnh độ trong Pháp Giới, được tạo dựng và thành hình vì bi nguyện của chư Phật. Công hạnh xây dựng một môi trường sống thuận lợi để chúng sinh tu hành là công hạnh của chư Phật, chư đại bồ tát. Công hạnh vãng sinh về tịnh độ để tiếp tục bi nguyện của chư Phật là việc của phàm phu chúng ta.
Với triết lý đạo bồ tát làm bối cảnh như thế, Di Đà Sám chú trọng vào giải thích ý nghĩa và triết lý của hồng danh A Di Đà Phật để ta có thể thay đổi lối nhìn, do đó thay đổi quan niệm sống, sống sao cho tích cực hơn. Rằng, bản tánh quang minh vốn sẵn có trong ta, nhưng ta quá hướng ngoại không biết quay lại chiếu soi cõi lòng để tự tánh quang minh hiện khởi hướng dẫn cuộc sống. Khi nhận ra quang minh trong tâm thì ngay đây là cõi tịnh độ. Khi chưa nhận ra tự tánh quang minh, ta cũng chớ vội tin vào những ảo ảnh do sợ hãi và một cảm giác thiếu an toàn vẽ ra.
Tin, trong triết lý hạnh Thập Tín của kinh Hoa Nghiêm, nghĩa là trở thành. Lòng tin phải biến đối tượng trở thành chủ thể. Do đó Di Đà Sám chủ trương rằng ta phải tin vào sự hiện hữu của đức Di Đà: rằng ngài luôn hiện diện trong ta và với ta. Ta cũng cần tin vào những giá trị và ý nghĩa mà danh hiệu đức Di Đà tượng trưng. Một khi ta tin vào những giá trị và đặc tính ấy, ta mới trở thành những đặc tính ấy được. Do đó nội dung chính của Di Đà Sám là thay đổi cái nhìn của ta bằng cách tìm hiểu ý nghĩa và nội dung của hồng danh Di Đà.
Thật vậy, sức mạnh tha lực vô biên của đức Phật A Di Đà, được gói trọn trong vỏn vẹn sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật. Nam Mô có nghĩa là quy mạng, tức là đem tánh mạng mình trở về phủ phục trước đối tượng lễ lạy. A Di Đà nghĩa là Vô Lượng Quang. Phật nghĩa là bậc giác ngộ. Như thế Nam mô A Di Đà Phật là trở về, quy mạng với bậc giác ngộ quang minh vô lượng. Nhưng trở về quy mạng thì cứu cánh cũng tức là trở thành. Do đó khi xướng lên Nam mô A Di Đà Phật tức là ta nói với lòng mình rằng: “Con xin trở về và cứu cánh trở thành bậc giác ngộ quang minh vô lượng”, và nếu nói gọn, cũng có nghĩa là “Con trở thành quang minh vô lượng”.
Như thế Di Đà Sám chủ trương rằng ta nên phát tâm tu đạo bồ tát, tích cực phục vụ, chủ động thay đổi vận mạng lúc ta còn khả năng; mãnh liệt tin tưởng vào tiềm năng quang minh, lấy việc khai mở quang minh trong tâm mình và tâm người là công hạnh thiết thực, là sứ mạng của cuộc sống nhỏ bé như hạt bụi không tên tuổi. Nhưng quang minh ấy là gì? Là tuệ giác sáng suốt nhân quả, là tình thương không chiếm hữu, là tánh dễ thương hài hòa, là tâm lượng bao dung, là trí huệ giải mở gút thắt tâm tình, là khả năng buông xả bụi trần ô nhiễm, là ý chí tinh tấn hướng thượng, là nỗ lực không ngừng tiến hóa, là lòng hy sinh không chút tính toán ích kỷ, là lời nói nhẹ nhàng cảm động được lòng người khiến họ hướng thiện, là khả năng vượt thoát những dính, kẹt trong cuộc sống, là năng lượng cho ra, bố thí, cúng dường không hối tiếc, là một từ trường lan tỏa nội tại khiến tha nhân cảm thấu an nhiên tự tại, ấm áp từ bi, là khả năng hội tụ không tán loạn buông lung giữa trần gian đầy cám dỗ, loạn trược.
Nhưng mục đích quan trọng nhất của Di Đà Sám là hướng ta nhận tri tấm lòng vĩ đại của đức từ phụ Di Đà qua bốn mươi tám lời nguyện, để ta hướng đời mình về con đường vãng sinh cõi An Lạc. Thật vậy, với ai đã có lập tín, nguyện, hạnh cầu vãng sinh, thì Di Đà Sám giúp ta tăng trưởng niềm tin vào sức mạnh tiếp dẫn của đức từ phụ Di Đà. Với ai cần sám hối để tiêu nghiệp tăng phước, thì Di Đà Sám khiến tâm ý thay đổi, khai mở tự tánh thánh thiện, do đó tịnh trừ nghiệp chướng. Với ai còn hoài nghi, chỉ tin tự lực, phủ nhận tha lực, thì Di Đà Sám làm nhịp cầu giúp ta thấy tự lực và tha lực không thể tách rời. Với ai tâm ý cực đoan, tin vào thế giới trần lao, phủ nhận tịnh độ, thì Di Đà Sám giúp ta thấy vạn pháp duy tâm, tâm trùm vạn pháp, tâm pháp là một.
Và đó chính là tinh thần của Di Đà Sám: tất cả đều Bất Nhị.

Nhập Sám

Giới thiệu
Nhất tâm đảnh lễ thập phương thường trụ Tam Bảo!
Nhất tâm đảnh lễ đức bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Nhất tâm đảnh lễ tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật!
Hôm nay đại chúng trong đạo tràng này cung kính thiết lập sám pháp Di Đà, với đầy đủ hương hoa cúng dường, đèn nến sáng đẹp, thiết kế trang nghiêm. Đại chúng tụ tập, chí thành khẩn thiết, với nguyện vọng cùng sám hối, cùng tu trì, cùng hồi hướng, cùng tạo sức mạnh cộng hưởng của lòng thành và tình thương, dâng cúng mười phương chư Phật và lan tỏa khắp mạng lưới nhân duyên.
Lý do tạo sám
Kinh thường dạy rằng tội nghiệp sâu dày, chỉ có sám hối mới tiêu sạch; công đức vô lượng chỉ do tinh tấn mới thành tựu. Nỗi khổ, chuyện buồn, việc bất như ý, vô lượng chuyện ngang trái đắng cay. Dày vò trong đau khổ hoặc phủ nhận quá khứ lỡ lầm cũng không vơi dịu những hằn vết trong đáy sâu tâm khảm. Cầu ơn trên giải quyết giùm khó khăn của bản thân thì chẳng bao giờ ta hiểu nhân quả việc đã làm. Nhưng nhận tri tiềm năng, nhận tri tự tánh thanh tịnh, rồi phát huy sức mạnh của tự tánh, thì chắc hẳn một chương mới trong cuốn ‘Tự Truyện Đời Tôi’ sẽ mở ra. Nếu cộng thêm với sức gia trì của chư Phật bồ tát thì cả tự lực và tha lực sẽ phối hợp viên mãn. Chắc chắn con đường xán lạn khai triển! Bởi vì mục đích ấy, chúng con ngày nay hết lòng thiết lập sám pháp!
Chúng con xin lấy hồng danh đức từ phụ A Di Đà Phật làm chủ đề của sám pháp. Vì sao vậy? Vì Phật dạy rằng: sáu chữ ‘Nam mô A Di Đà Phật’ có đủ vô biên phước đức lực, oai thần lực, trí huệ lực, giải thoát lực. Công đức vô biên trong hồng danh ấy được đức từ phụ A Di Đà tập trung công đức tu hành trong vô lượng kiếp số vào đó. Do vậy đời nay chúng sinh chỉ cần trì tụng hồng danh là sẽ đầy đủ công đức như ngài.
Như thế nền tảng để tiêu tội nghiệp là hạnh tinh tấn trì niệm hồng danh. Kinh Vô Lượng Thọ dạy rằng đức từ phụ A Di Đà còn có những danh hiệu là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đối Quang, Diệm Vương Quang, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Trí Huệ Quang, Nan Tư Quang, Bất Đoạn Quang, Vô Xưng Quang, và Siêu Nhật Nguyệt Quang. Tất cả những hồng danh ấy vừa nói lên đặc tính của pháp môn mà đức từ phụ đã tu thành, vừa nói lên sự đặc thù của phương pháp đức từ phụ hoằng pháp độ sinh.
Với lòng thành khẩn, thiết tha tiếp thông với đức từ phụ, tất cả đại chúng trong đạo tràng này nhất tâm đảnh lễ.
Nam mô A Di Đà Như Lai (10 lạy)
Phương pháp sám hối
Nhưng làm sao để bắt đầu nhập sám hữu hiệu? Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng:
“Tín là nguồn Đạo, mẹ công đức.
Nuôi dưỡng tất cả việc tốt lành.
Cắt đứt lưới nghi, thoát dòng ái.
Mở ra Niết Bàn, vô thượng đạo!”
Do đó đại chúng hãy lấy lòng tin làm nền tảng nhập sám, nền tảng tu trì. Chúng con sẽ nỗ lực vận dụng sức mạnh lòng tin để nhập đạo, đào sâu lòng tin để sám hối chuyển nghiệp. Tin, theo triết lý của kinh Hoa Nghiêm là trở thành. Tin vào đức từ phụ là hòa hợp như nhất với đức từ phụ, rồi cứu cánh trở thành những đặc tính mà đức từ phụ đại biểu. Như thế khi tin vào Vô Lượng Quang tức là cứu cánh chúng con sẽ trở thành vô lượng quang minh. Đây chính là niềm vui sướng và hạnh phúc nhất của sám pháp, vì hồng danh của từ phụ không những làm chúng con tiêu trừ nghiệp chướng, lại đem tới hy vọng cho tương lai mà chúng con sẽ trở thành.
Như thế tự lực nghĩa là nỗ lực nhận tri và trở thành đức tính mà hồng danh của từ phụ đại biểu. Tha lực là sức mạnh gia trì vĩ đại trong danh hiệu đức từ phụ. Cả tự lực và tha lực phối hợp viên mãn chính là phương pháp tu trì sám pháp này.
Hồi hướng sám pháp về ai?
Chúng con trong đạo tràng này, thật may mắn có được thiện duyên tu tập, vì thế, xin công đức của việc tu trì sám pháp hồi hướng về ba chỗ: tới đạo quả bồ đề, tới Pháp Giới, và tới mọi chúng sinh trong mạng lưới nhân duyên của chúng con.
Hồi hướng về bồ đề nghĩa là sao? Bồ đề nghĩa là giác ngộ, là đại trí huệ, là sự thức tỉnh khỏi mọi ảo ảnh mà bản ngã tạo ra. Do đó hồi hướng về bồ đề nghĩa là tập trung tất cả năng lượng của tâm thức, hướng năng lượng ấy vào sự khai mở trí huệ thức tỉnh toàn triệt mọi ảo mộng. Khi tâm thức hướng vào bồ đề thì đường tu sẽ hướng vào phát triển Thiền ba la mật và Bát Nhã ba la mật mà kết quả là giác ngộ Chân Tâm.
Hồi hướng về Pháp Giới là gì? Pháp Giới là vũ trụ tâm linh không thuộc về Ngũ Ấm, Sắc Thọ Tưởng Hành Thức và Ngũ Đại, Địa Thủy Hỏa Phong Không. Pháp Giới là vũ trụ không hình tướng, chẳng ở trong phạm vi không thời gian, ra ngoài quá trình suy tư, nhưng là một thực tại trong thiền định, trong tam muội của tất cả chư Phật chư đại bồ tát. Nhưng chính từ Pháp Giới, sản sinh ra sức mạnh vô biên của thiện pháp, sức mạnh của thiền định tam muội, sức mạnh của công đức, sức mạnh lành trị, sức mạnh chuyển hóa vọng thức, sức mạnh thành tựu vạn hạnh, sức mạnh hóa giải nghiệp chướng, sức mạnh tự tại vô ngại, sức mạnh thần thông quảng đại, sức mạnh thấu triệt vạn sự. Hồi hướng về Pháp Giới là hướng tất cả năng lượng tu tập vào sự thể nhập Pháp Giới. Nếu bồ đề là bước đầu giác ngộ Chân Tâm, thì Pháp Giới là cứu cánh của sự giác ngộ ấy. Do đó hồi hướng Pháp Giới là cứu cánh!
Hồi hướng về chúng sinh trong mạng lưới nhân duyên nghĩa là ngày nay con lạy sám, tức là lạy giùm cho tất cả chúng sinh có duyên với con. Bao nhiêu năng lượng, lợi ích và công đức do tu trì lễ lạy thì hoàn toàn hướng về những người ấy, để họ được tăng phước, trừ chướng, mau giải thoát. Do đó, xin những ai không có duyên tới được đạo tràng hôm nay, nhưng là một phần của mạng lưới nhân duyên, sẽ cảm nhận tình thương của đại chúng và của đức từ phụ. Xin những ai bệnh nặng, nan y, sẽ nhờ oai lực đại chúng tu trì sám pháp mà lành bệnh hoàn toàn. Những ai có khổ não sẽ hết khổ não, bức bách. Những ai lòng đầy phiền muộn, thất vọng sẽ có được niềm vui, hy vọng. Những ai gặp khó khăn trong đời sống vật chất sẽ hết khó khăn, tìm được giải đáp. Những ai lạc lối, sẽ tìm ra phương hướng chính đạo. Những vong linh chết bất đắc sẽ đắc vãng sinh. Những anh linh, những vong linh đang kẹt trong thân trung ấm, sẽ tìm thấy quang minh của Phật và vãng sinh về cõi An Lạc. Và cuối cùng, những ai lâm chung sẽ được từ phụ Di Đà và thánh chúng tiếp dẫn về cõi An Lạc.
Với lòng thành khẩn, chúng con xin đảnh lễ hồng danh đức từ phụ A Di Đà Phật.
Nam mô A Di Đà Như Lai
Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai
Nam mô Vô Biên Quang Như Lai
Nam mô Vô Ngại Quang Như Lai
Nam mô Vô Đối Quang Như Lai
Nam mô Diệm Vương Quang Như Lai
Nam mô Thanh Tịnh Quang Như Lai
Nam mô Hoan Hỉ Quang Như Lai
Nam mô Trí Huệ Quang Như Lai
Nam mô Nan Tư Quang Như Lai
Nam mô Bất Đoạn Quang Như Lai
Nam mô Vô Xưng Quang Như Lai
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai

Chính Sám

Giới thiệu Phật A Di Đà
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Trước hết con xin sám hối tri kiến sai lầm về danh hiệu Phật.
Phật, nói cho đủ mười danh hiệu tức là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Phật nghĩa là bậc giác ngộ toàn triệt, tối cao vô thượng. Phật đã liễu thoát sinh tử, hoàn thành tự giác, giác ngộ tha nhân, viên tròn hạnh độ thoát chúng sinh. Phật là chỗ dựa, là chỗ trở về, là tấm gương sáng để con noi theo tu hành giải thoát. Phật là đấng cha lành, là người thật sự có lòng thương vĩ đại, vẫn nhớ vẫn biết tới con và những kẻ thiếu may mắn chưa hề gặp ngài. Thưa đức từ phụ A Di Đà, khi chưa được diện kiến ngài, lòng thương của con không sao có thể lớn bằng lòng ngưỡng mộ, sự gần gũi với ngài không sao cụ thể bằng niềm tin nơi ngài. Bởi thế, xin từ phụ hãy cảm thông cho nỗi niềm của con. Xin ngài hãy thị hiện mãnh liệt trong cuộc sống, khiến lòng thương từ phụ thêm sâu đậm và sự gần gũi thêm gắn bó. Xin đức từ phụ A Di Đà cho phép con nhận cha và mẹ của con làm đấng ‘Di Đà tại gia’, để con có cơ hội bày tỏ tình thương, chăm sóc, phụng sự, và cúng dường như con đối với bản thân đức Phật vậy. Xin đức từ phụ thị hiện mãnh liệt trong tâm tư con, khiến mọi suy tư đều thấm nhuần tình thương và quan hoài. Xin ngài hãy thăng hoa cái nhìn và tư duy, khiến con thấy mọi người là ‘Di Đà tại thế’, rồi hết lòng cảm thông, phục vụ và cúng dường.
Với suy tư như vậy, con thành kính, nhất tâm, thiết tha đảnh lễ.
Nam mô A Di Đà Như Lai (10 lạy)
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Thọ. Nhưng ngoài danh hiệu này, đức từ phụ còn có mười hai hồng danh, đại biểu cho mười hai đặc tính của sự tu hành, công đức và thành tựu. Mười hai hồng danh đó là Vô Lượng Quang Như Lai, Vô Biên Quang Như Lai, Vô Ngại Quang Như Lai, Vô Đối Quang Như Lai, Diệm Vương Quang Như Lai, Thanh Tịnh Quang Như Lai, Hoan Hỉ Quang Như Lai, Trí Huệ Quang Như Lai, Nan Tư Quang Như Lai, Bất Đoạn Quang Như Lai, Vô Xưng Quang Như Lai, Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai.
Kinh dạy rằng:
“Phật Vô Lượng Thọ có oai thần quang minh tôn quý nhất, không có quang minh của Phật nào có thể sánh bằng.”
Và rằng:
“Chúng sinh nào gặp quang minh này, tham sân si tiêu trừ, thân tâm nhu nhuyến, vui mừng hớn hở, sinh ý nghĩ lành.”
Như thế hồng danh và quang minh của đức từ phụ là tối thắng! Chúng con xin đem hết lòng thành kính, nương tựa và trở về với hồng danh đức từ phụ.
Với lòng ngưỡng mộ, con xin nhất tâm, thiết tha đảnh lễ.
Nam mô A Di Đà Như Lai Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai Nam mô Vô Biên Quang Như Lai Nam mô Vô Ngại Quang Như Lai Nam mô Vô Đối Quang Như Lai Nam mô Diệm Vương Quang Như Lai Nam mô Thanh Tịnh Quang Như Lai Nam mô Hoan Hỉ Quang Như Lai Nam mô Trí Huệ Quang Như Lai Nam mô Nan Tư Quang Như Lai Nam mô Bất Đoạn Quang Như Lai Nam mô Vô Xưng Quang Như Lai Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai
1. Vô Lượng Thọ Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Hồng danh của đức từ phụ, A Di Đà nghĩa là Vô Lượng Thọ, tức là thọ mạng vô tận. Thọ mạng này là sức sống của Chân Tâm, cũng là sức sống của Pháp Thân và Báo Thân, không phải là độ dài ngắn của thân xác thô phàm. Như thế bản chất Vô Lượng Thọ là thọ mạng vô tận không thể tính đếm của Chân Tâm bất sinh bất diệt.
Thọ mạng này là sức sống bất tận, hiển hiện trong từng phút từng giây của cuộc sống, cho dù con có nhận tri hay không. Vô Lượng Thọ là sức sống vô biên, hiển hiện trong mỗi sinh linh, cho dù con có sống và chết. Vô Lượng Thọ là sức sống triền miên, không hề gián đoạn, không hề hủy hoại. Sức sống ấy theo tình thương lưu chuyển, dù hơi thở đã lắng dừng trong con tim yên nghỉ. Sức sống ấy, như sắc xanh tươi thắm, vĩnh hiện khắp cỏ cây, dù xuân hạ cứ thay tiếp thu đông. Sức sống ấy không biên tế: nơi đâu có sinh linh, ở đó có thọ mạng vô lượng này.
Vô Lượng Thọ, sức sống vô biên hiện khắp chốn, nhưng con nào chú ý! Vì sao? Vì con quá mải mê với đời sống hữu hạn, quá chấp trước vào thân xác sinh diệt này, lầm tưởng sức sống chỉ nằm trong hít vào thở ra, không hề biết sức sống chân thật bất sinh bất diệt thì vượt ngoài hơi thở, suy tư và thể chất. U mê ấy, con thiết tha cầu sám hối. Thưa đức từ phụ, xin ngài mở mắt con để thấy Vô Lượng Thọ, thấy sức sống vô biên trong hơi thở ngắn ngủi, nhận ra dòng vĩnh hằng trong nháy mắt. Xin đức từ phụ đánh thức con dậy khỏi cơn mộng mê loạn, để thấy sự vận hành của dòng sống chân thật, im lặng và bất tận. Xin cho con hội nhập với nguồn cội Vô Lượng Thọ, xin cho con chia sẻ Vô Lượng Thọ này với những ai hữu duyên, rằng xin từ phụ đem biển cả thọ mạng vô biên vào trong một thoáng nhìn, gói trọn cả vũ trụ tình thương trong nụ cười, mở khai bầu trời vô tận trên từng đầu ngọn lá, để chúng con những kẻ phàm phu bừng tỉnh trong sức sống vô biên trong thứ hữu hạn vô thường. Con xin thành tâm sám hối tất cả những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã giam nhốt con trong tâm thức mê muội, của vọng tưởng bất như thật, nên không thấy được thọ mạng vô biên ngay trước mắt.
Xin đức từ phụ từ bi, thức tỉnh con trong những hơi thở cuối cùng, vô úy nhận ra dòng sống bản hữu, vượt ngoài đối đãi của hít vào, thở ra; lập tức tự tại, rằng: “Con chính là sức sống vô biên, là Vô Lượng Thọ!”. Xin ngài khơi dậy trong tâm con đời sống Vô Lượng Thọ ngay mỗi giây mỗi phút của cuộc hiện sinh này!
Với tất cả lòng thành, với tất cả tình thương, chúng con xin cúi đầu đảnh lễ.
Nam mô Vô Lượng Thọ Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Chắc chắn đức từ phụ biết lòng sợ hãi của con khi đối diện với tử vong. Bởi thế, khi còn là một vị Tỳ Kheo tên Pháp Tạng, ngài đã vô cùng từ bi, tinh tấn tu hành, lập ra những lời nguyện giúp chúng sinh tin tưởng, lòng hết sợ hãi, thay đổi quan niệm về cuộc sống, rằng: nên giác ngộ thọ mạng vô lượng của bản hữu chân tánh. Khi đó ngài có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, thọ mạng con sẽ vô hạn lượng; nếu có hạn lượng, dù là trăm ngàn ức vô số kiếp cũng không phải.
Ngài lại vì chúng con mà phát bốn đại nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều có thọ mạng vô lượng, ngoại trừ họ có nguyện riêng, tự tại rút ngắn thọ mạng.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời, người đều có thân kim sắc.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời, người đều có thân hình đẹp như nhau, chẳng có hơn kém.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều đầy đủ ba mươi hai tướng tốt.
Cúi lạy đức từ phụ, đây là những nguyện vô cùng vĩ đại, rằng không những ngài chứng đắc Vô Lượng Thọ, mà ngài còn làm mọi kẻ phàm giác ngộ Vô Lượng Thọ, chứng đắc chân thân bất hoại. Con thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã tạo từ xưa, khiến không giác ngộ được thọ mạng vô lượng của Chân Tâm.
Trong khi giữa hồng trần lặn hụp, chưa được từ phụ ban chứng thân kim sắc, chưa có thân đẹp, chưa đủ ba mươi hai tướng hảo, xin ngài chữa lành mắt cườm bệnh hoạn, khiến con ngừng nhìn bề ngoài đẹp xấu, ngừng truy ảo ảnh điên đảo; bừng thấy Chân Tâm bản hữu vốn đẹp kim sắc, hoàn thiện tướng hảo.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Lượng Thọ Như Lai (10 lạy)
2. Vô Lượng Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
A Di Đà còn có nghĩa là Vô Lượng Quang Minh, tức là quang minh bản hữu của Chân Tâm, thứ quang minh siêu việt tất cả loại ánh sáng. Vô Lượng Quang là quang minh bất sinh bất diệt, nghĩa là dù con trôi dạt trong kiếp sinh già bệnh chết, nhưng quang minh thì không sinh ra, cũng không tắt mất. Vô Lượng Quang là trí huệ siêu việt, lan tỏa khắp nơi, tận hư không, biến pháp giới; chỗ nào trí huệ siêu việt cũng chiếu tới.
Bản chất của Vô Lượng Quang là khai mở quang minh tự tánh. Do đó Vô Lượng Quang khai mở quang minh ngay tận đáy lòng; như ngọn hải đăng soi sáng, khiến không trôi dạt theo biển sóng u mê giữa đêm đen vị ngã. Vô Lượng Quang khai mở mặt trời chói lọi, chiếu tận hang tối dục vọng cuồng loạn. Vô Lượng Quang khai mở sức lành trị vô song, như diệu dược trị lành giận lẫy đảo điên. Vô Lượng Quang khai mở nguồn năng lượng ấm áp, tỏa ấm tình thương vô hạn, giải thoát vô vàn sợ hãi lo âu.
Tuy Vô Lượng Quang thần diệu như thế, nhưng trong mỗi giây phút của cuộc hiện sinh, con không hề nhận tri quang minh này! Vì sao? Vì tâm con đóng kín. Đóng kín vì tay nắm chặt không buông sỏi đá tham vọng. Đóng kín vì hồn khóa chặt trong so sánh hơn thua. Đóng kín vì mắt tối sầm trước phù danh, quyền lợi. Bởi thế, con xin thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã làm tâm con khép kín, không nhận tri Vô Lượng Quang.
Xin đức từ phụ A Di Đà từ bi, mở khai Vô Lượng Quang trong tim con: mở ra tình thương không điều kiện; mở sâu lòng chấp nhận tha thứ; mở thông trí sáng suốt nhân quả; mở toang lòng vô uý, an định; mở mạnh lòng hy sinh quên mình; mở rộng tay, cho ra chẳng tiếc. Thưa đức từ phụ, như khi con trĩu nặng buồn bã vì bị người thân ruồng rẫy, xin ngài khơi dậy Vô Lượng Quang, dẫn con ra khỏi cơn phiền muộn, biết thương, chấp nhận người ấy. Khi con bị lòng tham lôi kéo, khép cửa lương tri, bỏ quên đạo lý, xin ngài khơi dậy Vô Lượng Quang, khiến con trí sáng nhân quả, về lại nguồn tâm.
Con xin làm ngọn đèn dầu để lửa Vô Lượng Quang tìm về thắp đốt. Như khi ai thất vọng khô héo, xin cho con đem Vô Lượng Quang này khơi lại niềm tin, nụ cười. Khi ai quay cuồng trong cơn mê vật dục, xin cho con đem Vô Lượng Quang này thức tỉnh cơn say, buông tay giải thoát. Khi ai kẹt trong bóng tối sợ hãi, sầu muộn, xin cho con đem Vô Lượng Quang này tỏa sáng hy vọng làm chỗ tựa nương.
Xin Vô Lượng Quang luôn in sâu trong tâm khảm, luôn bừng dậy ánh sáng vô lượng vô biên, để con biết đây là chỗ trở về và cũng là chỗ trở thành.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, quang minh con sẽ vô hạn lượng, ít nhất cũng chiếu thấu trăm ngàn ức, vô số cõi nước Phật.
Đây là đại nguyện lớn thành tựu quang minh vô lượng. Đức từ phụ và chư thánh hiền đều dùng nguyện để hướng dẫn cuộc sống. Thay vì phát nguyện, con lại tạo nghiệp. Thay vì sống trong quang minh, con tạo bóng tối. Thay vì thấy vô biên, con kẹt trong giới hạn. Thay vì thương vô điều kiện, con dính trong yêu này ghét kia. Thói quen cứ đẩy con quanh đi quẩn lại trong vòng tròn hạn lượng, trong khung trời hạn hẹp của cái giếng thành kiến. Những cảm giác quen thuộc, những hình hài yêu dấu giống như thành lũy cực đẹp, rào kín không cho con vượt ra, hít thở không gian vô tận. Ham hố, hờn lẫy và hận thù giống như da thịt, khó lột xác được. Nghiện ngập, như máu huyết lưu chuyển không ngày đổi thay. Bởi vậy con thiết tha sám hối tất cả những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã tạo ra thói quen hạn hẹp, hữu vi, khiến đời sống quang minh dập tắt. Xin sức mạnh sám hối ngừng tất cả thói xấu ấy để con tức thời nhận ra Vô Lượng Quang.
Xin đức từ phụ chia sẻ Vô Lượng Quang với tất cả chúng sinh trong mạng lưới nhân duyên của con. Con xin nỗ lực nhận tri bóng tối, điểm mù, tất cả sự hạn hẹp hữu vi của mình, để Vô Lượng Quang hiển hiện vô ngại. Vì sao? Vì sự nhận tri chính là quang minh! Nhận tri bóng tối, không phải đấu tranh diệt trừ bóng tối, thì sẽ hết tối tăm; đó chính là cách hiển hiện tự tánh quang minh. Xin Vô Lượng Quang triển khai tự tại trong sự nhận tri này, khiến sự nhận tri cứu cánh trở thành trí huệ vô lượng vô biên!
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai (10 lạy)
3. Vô Biên Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Vô Biên Quang, là thứ quang minh lan tỏa không có biên giới. Nếu Vô Lượng Quang khai mở Chân Tâm, thì Vô Biên Quang là cứu cánh của sự khai mở, vượt ngoài mọi hạn lượng. Cả hai song hành để khai mở Chân Tâm, vượt thoát vọng thức; xuyên suốt hữu hạn, khai mở vô hạn.
Vô Biên Quang là tánh sáng suốt không bị hạn chế bởi thành trì của tánh cố chấp, ngoan cố. Vô Biên Quang là tánh sáng suốt không kẹt trong Ngũ Ấm. Vô Biên Quang là tánh sáng suốt thấu tận cội nguồn, rõ ngọn ngành mọi việc.
Vô Biên Quang chẳng bị chận đứng bởi thành hay bại, khen hay chê, nắm hay buông. Vô Biên Quang hiển hiện trong cuộc sống, dù tánh cố chấp, kiêu ngạo tạo nên thành lũy rào kín quang minh. Vô Biên Quang hiển bày chân lý giải thoát; khi ta giam mình trong lớp vỏ thành kiến, trân quý ‘cái mặt’, ‘cái tôi’. Bị nhốt trong thành kiến, quan niệm hẹp hòi, tâm lượng nhỏ nhen, con đã quên đi bầu trời tự do tự tại Vô Biên Quang!
Thưa đức từ phụ, trong những lúc tọa thiền, trùm kín trong bóng tối vọng tưởng, xin Vô Biên Quang tìm về mắt con, để con nhìn xuyên Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, rõ suốt tự tánh là ‘Không’, như mặt trời bình minh hiện chiếu, đẩy tan đêm đen trùm phủ Chân Tâm.
Hay những lúc nhốt trong vòng tròn suy tư lẩn quẩn, chỉ nghĩ tới việc trước mắt; hoặc bị cảnh nghèo xiết tâm, hoặc gặp cảnh khó ép lòng, tâm mất phương hướng, nghĩ chẳng ‘thoát vòng’. Những lúc ấy, xin Vô Biên Quang an trụ trong cõi lòng này, thêm mạnh niềm tin tái tạo, thấy được điểm mù, ‘thoát vòng’ vươn lên.
Có lúc bị ai đụng chạm phê bình, con liền giam mình trong nhà tù giận lẫy; khi bị hàm oan vu khống, con cứ quanh quẩn trong mảnh đất uất ức chật hẹp. Những lúc ấy, xin Vô Biên Quang chiếu mạnh lòng con, cho thấy sự an bình nội tại vô biên, khiến ngục tù tự sập, uất kết tự tan, an lạc tự tại.
Thưa đức từ phụ, không biết bao biên giới ngục tù do vì tâm lượng hẹp hòi, ích kỷ mà con đã dựng lên. Thế rồi con quên mất Chân Tâm vốn không biên giới, không hạn lượng. Vì vậy con thành tâm sám hối cho những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo đã giữ con trong ngục tù hữu biên điên đảo, rồi phủ nhận Vô Biên Quang.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Biên Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có phát nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người sẽ không ai khởi ý tưởng tham chấp vào xác thân này.
Nguyện không khởi ý tham chấp vào xác thân này là nguyện làm quang minh không kẹt trong giới hạn của ảo ảnh sở hữu, của chấp trước vào một đối tượng. Trên cõi An Lạc hẳn nhiên ai ai cũng dễ dàng chẳng chấp; nhưng ở trong trần lao điên đảo này, đụng đâu cũng dính, nghĩ gì cũng kẹt. Do vậy, con thành tâm sám hối mọi nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo tạo nên thói quen tham chấp vào thân xác, xin Vô Biên Quang tìm về tâm con lan tỏa, để chỗ dính kẹt thành nơi giải thoát, chốn hạn hẹp thành cõi vô biên; mắt nhìn gì, thấu liền chân tướng; tai nghe gì, rõ suốt nguồn tâm.
Đức từ phụ lại có nguyện:
Nguyện khi con thành Phật, vô lượng chư Phật ở thế giới khắp mười phương đều biết đến tên con.
Nguyện rằng ‘hồng danh từ phụ Phật nào cũng biết’ là nguyện khiến Phật Phật tương thông, tâm tâm vô ngại. Đối với phàm phu, chúng con chỉ cầu danh, cầu sao người người biết tiếng tăm mình. Mong cầu ấy đúng là ảo ảnh, thiếu nhận tri tự tánh vốn vô danh, thiếu cảm nhận sự tự tại của bụi trần không tên tuổi, sự nhẹ nhàng của gió thoảng chẳng buộc ràng. Con thành tâm sám hối cho tâm thái sợ hãi, thói truy đuổi ảo ảnh, thiếu tự giác; xin đức từ phụ khơi dậy Vô Biên Quang trong tâm con, khiến nỗi sợ hãi truy cầu danh vọng, như lá thu rụng trong gió thoảng qua. Lúc này, ngay đây, con xin nhận tự tánh bất nhị là nhà; nhận quang minh vô giới hạn là thân, nhận Pháp Giới là tâm!
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Biên Quang Như Lai (10 lạy)
4. Vô Ngại Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Vô Ngại Quang, là quang minh chiếu suốt vô chướng ngại. Vô Ngại Quang là trí huệ thấu biết rõ ràng ngọn ngành, nhân quả mọi chuyện, mọi việc, mọi chúng sinh và mọi nghiệp chúng sinh làm. Biết hết mà không rời Chân Tâm Bất Nhị, đó là trí huệ vô ngại.
Nhờ Vô Ngại Quang nên Phật nhìn thấu mọi nơi, rõ ràng từ thiên đường tới địa ngục: gọi là Thiên Nhãn Thông. Khi tai nghe bất kỳ ngôn ngữ, bất kỳ lời nói gì, ngài cũng tự tại thấu hiểu hàm ý và ẩn ý không hề thiếu sót. Chuyện xa chuyện gần, tai đều nghe thấu, là Thiên Nhĩ Thông. Khi muốn tới đâu, hiện thân tự tại, là Thần Túc Thông. Tâm ta nghĩ gì, ngài đều biết rõ, là Tha Tâm Thông. Chuyện đời trước, từng chi tiết nhân quả ngài đều thấu biết, là Túc Mạng Thông. Tất cả phiền não, thói hư tật xấu, tập khí nhiều đời nhiều kiếp đều đã thanh tịnh, là Lậu Tận Thông.
Phàm phu thay vì quang minh vô ngại, lại luôn kẹt trong vô số chướng ngại, bao trùm bởi bóng tối chấp ngã, vị kỷ, chẳng thấy Chân Tâm. Những chướng ngại ấy là lòng tham lam, ham muốn vị ngã, lòng giận dữ lẫy hờn, lòng ngu si mê muội, lòng kiêu ngạo tự cao, lòng nghi ngờ chân lý, lòng sợ hãi lo âu, tâm gian dối lừa đảo, tâm ích kỷ độc hại, tâm nhỏ nhen phá hoại, tâm đố kỵ chướng ngại, thái độ không tha thứ, thái độ không tùy thuận, thái độ thích trả đũa, thái độ ôm hận thù, thái độ khinh khi người, thái độ ruồng rẫy người, thái độ tự cô lập, thái độ tự đày đọa, thái độ tự thắt gút. Những chướng ngại ấy làm con không hội nhập Vô Ngại Quang, không biết khởi phát Vô Ngại Quang.
Thưa đức từ phụ, ngài hẳn thấy trong tâm khảm sâu thẳm của con biết bao tường vách đố kỵ, biết bao rào cản phiền não, biết bao chướng ngại vật ích kỷ! Con thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã cản trở sự khai mở trong con Vô Ngại Quang, giúp nhìn xuyên chướng ngại, chiếu tan mây phiền não, vén màn đen sợ hãi.
Rằng, đối diện với thành công hay thất bại, xin Vô Ngại Quang thức tỉnh con chân lý duyên khởi, hết đảo điên truy đuổi, hết hãi sợ lo âu. Khi gặp nghịch cảnh, xin Vô Ngại Quang thức tỉnh con chân lý vô thường, nhẹ nhàng vượt thoát, không kẹt trong cảm giác bó tay, hờn giận. Khi đối diện với bịnh hoạn nan y, xin Vô Ngại Quang thức tỉnh con Pháp thân bất hoại mới là thân thể chân thật, vượt thoát cảm giác bất lực, sợ hãi tử vong. Khi rơi vào hố thẳm tuyệt vọng, xin Vô Ngại Quang đánh thức niềm tin không điều kiện vào chư Phật, khiến con triển khai sức mạnh lạc quan tái tạo. Xin Vô Ngại Quang trú ngụ trong tim con, thức tỉnh con khỏi tánh tình đố kỵ chướng ngại, biết vui với sự thành công của bạn đồng sự, vui với sự thành tựu của bạn đồng tu. Xin Vô Ngại Quang khởi động tận đáy lòng con, để mỗi lời con nói, vơi dịu nỗi trầm cảm trong lòng người thắt nghẹn. Xin khơi dậy, dầu chỉ chút quang minh, để thấy tự tại tràn đầy trong kiếp người cát bụi bé nhỏ.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Ngại Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có phát những đại nguyện giúp tất cả chúng sinh ở cõi An Lạc thành tựu lục thông, như sau:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều có Thiên Nhãn Thông, ít ra cũng thấy suốt trăm ngàn ức, vô số thế giới chư Phật.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều có Thiên Nhĩ Thông, ít ra cũng nghe thấu trăm ngàn ức, vô số lời pháp chư Phật thuyết.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều có Thần Túc Thông, trong thời gian một niệm, ít ra cũng có thể đi tới trăm ngàn ức, vô số cõi nước Phật.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều có Tha Tâm Thông, ít ra cũng biết rõ tâm niệm của chúng sinh trong trăm ngàn ức, vô số cõi nước Phật.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời, người đều có Túc Mạng Thông, ít ra cũng biết rõ trăm ngàn ức, vô số chuyện kiếp trước.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người, ai muốn quần áo thì tùy niệm liền tới, ngay cả pháp y vi diệu mà Phật khen ngợi, cũng sẽ tự nhiên tới thân, không cần cắt may, giặt giũ, tẩy nhuộm.
Khi chưa về được cõi An Lạc, chưa có Thiên Nhãn Thông, con thành tâm sám hối những thói quen xấu, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự khai mở Vô Ngại Quang, xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang giúp mắt con thấy được nhân quả của hành động, thấy được vẻ đẹp nét hay của mọi người; thấy được tiềm năng vô hạn, thấy với lòng cảm thông, thấy với tâm chấp nhận, thấy mà không phê phán, thấy để phiền não giải trừ.
Khi chưa có Thiên Nhĩ Thông, con thành tâm sám hối những thói quen xấu, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự khai mở Vô Ngại Quang, xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang giúp tai con nghe thấm lý đạo mầu, nghe rõ lời vi tế của lương tâm, nghe trọn tiếng thổn thức vang đau khổ, nghe thấu nghẹn ngào lời hờn lẫy, nghe được mơ ước trên môi không thốt lời, nghe được nỗi buồn nơi lời người cô quạnh, nghe tận ruột gan kẻ bị hiểu lầm, ruồng rẫy.
Khi chưa có Thần Túc Thông, con thành tâm sám hối những thói quen xấu, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự khai mở Vô Ngại Quang, xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang khởi phát dũng khí xả thân; để khi ai cần, con sẵn sàng tới giúp; khi ai bịnh, con sẵn sàng cầm tay chăm sóc; khi ai khóc, con sẵn sàng ngồi nghe tâm sự. Xin dẫn chân con tới chỗ cần giúp, đem thân con tới chốn cần sức, đem trí con nghĩ việc lợi người.
Khi chưa có Tha Tâm Thông, con thành tâm sám hối những thói quen xấu, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự khai mở Vô Ngại Quang, xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang chiếu soi tận đáy lòng, giúp con tự thấy tâm tư ích kỷ, biết lòng gian dối, biết ý không thẳng, biết mặt tự kiêu, biết tánh hiềm kỵ, biết ‘đeo mặt nạ’, biết ‘dấu’ chân tướng, biết thấu điểm mù, biết rõ dã tâm. Xin trước được tự tâm thông, sau cảm thông người; trước, biết mình nhỏ hẹp, sau, thông cảm cảnh khó của người.
Khi chưa có Túc Mạng Thông, con thành tâm sám hối những thói quen xấu, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại sự khai mở Vô Ngại Quang, xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang mở trí huệ bản hữu trong tiềm thức thẳm sâu, giúp con nhận rõ tội nghiệp xưa kia, thấy rõ điểm mù tích lũy, chấp nhận quá khứ lỡ lầm, tha thứ hận thù xưa cũ, thương kẻ đã tổn hại mình, cảm thông uất ức chất chứa không nguôi.
Khi chưa có Lậu Tận Thông, con thành tâm sám hối những thói quen, những nghiệp chướng sâu dày trở ngại Vô Ngại Quang, xin trong mỗi giây phút của cuộc sống nhỏ bé này, con được làm sứ giả quang minh, đem an vui tới ai đang buồn, đem an ủi tới người thất bại, đem an định tới tâm hồn mê loạn, đem nguôi ngoai đến thói lẫy giận, đem ấm áp đến tuổi già đơn độc, đem thiền duyệt tới lòng náo động, đem hy sinh đến tâm vị ngã, đem cách giải tới lòng tự thắt.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, thế giới của con sẽ thanh tịnh, khiến ai ai cũng có thể thấy suốt rõ ràng vô lượng vô biên thế giới chư Phật, giống như thấy hình hiện ra trong gương.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát tùy ý muốn thấy vô lượng cõi Phật nghiêm tịnh thì lập tức thấy ngay. Nơi mỗi cây báu, các ngài có thể thấy rõ vạn sự như nhìn vào gương kiếng.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát, dù cho các ngài có công đức nhỏ bé tới đâu, cũng có thể thấy biết cây bồ đề cao bốn trăm vạn lý, đủ vô lượng quang minh, màu sắc.
Đó là những nguyện vĩ đại khai mở huệ nhãn của tất cả chúng sinh trên cõi An Lạc.
Khi chưa về cõi An Lạc, chưa có huệ nhãn thanh tịnh, con thành tâm sám hối những thói quen xấu và những nghiệp chướng đã cản trở sự khai mở Vô Ngại Quang. Xin năng lực sám hối và sức mạnh Vô Ngại Quang giúp con mắt phàm này thấy được nét đẹp thanh tịnh trong trần gian ô nhiễm. Rằng: Thấy vẻ đẹp vô biên trong đầu lá, giọt sương; thấy chân tướng vô thường trong nếp nhăn, tóc bạc; thấy thanh tịnh lặng yên giữa biển động thị phi; thấy nhẹ nhàng tự tại trong trùng trùng trở ngại. Cho con cảm thấu tình thương vô hạn nơi tay mẹ ôm con. Cho con cảm thấu lòng hiếu sâu dày dù lời vỏn vẹn: “mẹ ơi!”, “ba ơi!”. Cho con cảm thấu giải thoát trong từng hơi thở ngắn ngủi. Cho con thấy bồ đề, ngay trong khoảnh khắc khổ đau.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Ngại Quang Như Lai (10 lạy)
5. Vô Đối Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Vô Đối Quang, là quang minh siêu việt ra ngoài thế tương đối của âm-dương, có-không, tốt-xấu, nhân-ngã, thị-phi, phân biệt. Vô Đối Quang là quang minh bao trùm được âm dương tương đối, mà không bị kẹt vào thế đối đãi. Trong trần gian này, phàm phu chúng con ai ai cũng sống trong vòng tương đối, không chấp vào bên này, cũng chấp vào bên kia; không nhìn từ khía cạnh này cũng nhìn từ khía cạnh kia, không lúc nào tự tại siêu thoát ra ngoài tánh đối đãi được. Một khi đã chọn thế đứng, con lại cố chấp, bảo vệ thành kiến, không chịu đổi thay kiến giải, nên chẳng bao giờ nghĩ tới siêu việt âm dương, bao nạp âm dương. Chính vì kẹt trong vòng đối đãi, con không sao an lạc tự tại. Khổ nỗi, thế kẹt của con thì hệt như chú chuột ở trong lồng sắt hình bánh xe. Chuột càng cố chạy, bánh xe càng quay, nhưng thật sự chuột chỉ chạy tại chỗ! Con càng chấp, bánh xe nghiệp càng quay, con chỉ dậm chân tại chỗ, chẳng giải thoát đặng! Bởi thế con thành tâm sám hối cho nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã giữ con mãi trong vòng tương đối.
Thưa đức từ phụ, xin ngài khai mở Vô Đối Quang sẵn có trong tâm thức con, để khi kẹt trong hai đối cực, con sẽ vượt thoát; như khi gặp tranh biện hơn thua, con sẽ nhìn thấu chân lý bình đẳng, không tranh. Khi gặp so sánh đẹp xấu, con sẽ nhìn xuyên sự tướng, không kẹt trong so đo triền nhiễu. Khi gặp chuyện nhân ngã, thị phi, con sẽ thấu rõ nhân quả, tĩnh lặng như nhiên. Vô Đối Quang sẽ làm con an trụ trong tâm thái hàm dung, luôn luôn cảm nhận sự bình lặng thư thái vượt ngoài tâm thức dính kẹt trong tranh chấp, dính kẹt trong quá trình không ngừng chứng minh ‘mình đúng, họ sai’, ‘ta thắng, người thua’, ‘ta tốt, họ xấu’.
Thưa đức từ phụ, nếu đại bi là tình thương vô biên lan tỏa khắp nơi, tràn lan tới đối tượng là mọi con tim; thì đại từ là tánh dễ thương vô hạn, chuyển hóa chủ thể là ‘cái mặt, cái tôi’.
Đại bi truyền lan tình thương mà không kẹt vào một con tim nào. Đại từ chuyển hóa ‘cái mặt’ mà chẳng hề lưu dấu vết.
Tình thương đem tới sự ấm áp trong lòng người; dễ thương đem lại hài hòa khắp nơi nơi. Tình thương khiến tha nhân hết thù hận, dễ thương khiến lòng mình toàn bao dung.
Tình thương làm ta sống vì người, dễ thương khiến ta sống quên mình.
Tình thương dẫn ta vào Bất Nhị, dễ thương xóa ngõ lối nhị nguyên.
Do đó lòng đại từ vô hạn, làm tiêu dung mọi đối cực, mọi đối kháng trong quan hệ cũng chính là một đặc tính của Vô Đối Quang.
Thưa đức từ phụ, có lẽ không căn bịnh nào nặng hơn căn ‘bịnh nhị nguyên’: kẹt giữa hai thái cực ‘đúng sai, tốt xấu, hơn thua’! Hễ khi cùng người giao đàm, mở miệng là con thị phi, phê bình; động niệm là cứ nghĩ điểm xấu của người! Đến khi bị phê bình thì tức tối, bảo vệ ‘cái mặt’ tới cùng. Rồi gói chặt trong giận lẫy, loanh quanh trong mê cung hận thù, giam kín trong bóng tối trả đũa, con sống trong nghẹt thở. Căn bịnh ấy thiếu thần dược tha thứ của lòng đại từ, thiếu bao dung của tánh dễ thương! Bởi thế, xin đức từ phụ khai hiện Vô Đối Quang trong tâm con, soi chiếu chỗ kẹt của một bản ngã thiếu an toàn. Con thành tâm sám hối để lòng biết chấp nhận tha thứ, cảm thấu nỗi tự do của bầu trời không uất hận, của lối sống tự tại an nhiên. Con thành tâm sám hối tánh không dễ thương, để lòng cảm thông nỗi tủi thân của người bị mất mặt. Con thành tâm sám hối tật khiêu chiến, để lòng biết lắng nghe tâm sự khó nói. Con thành tâm sám hối tất cả những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo đã khiến con không biết dễ thương hài hòa, không tập bao dung, không biết quan hoài, thiếu lòng ấm áp.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Đối Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có phát nguyện giúp chúng sinh trong cõi An Lạc thành tựu lòng đại từ vô hạn, rằng:
Nguyện khi con thành Phật, tất cả chúng sinh ở vô lượng vô số cõi nước Phật khắp mười phương, hễ ai được hào quang của con xúc chạm thì người ấy thân tâm sẽ dịu dàng, vượt hơn trời, người.
Chúng sinh, không phân biệt là ai, đều là đối tượng để Vô Đối Quang xúc chạm, làm cho thân tâm dịu dàng. Thân tâm dịu dàng chính là biểu hiện rõ ràng nhất của lòng đại từ. Vì thế con thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, và nghiệp báo của thói quen thiếu lòng từ; xin sức mạnh sám hối tạo duyên lành cho Vô Đối Quang lan tỏa. Xin hào quang lan tỏa từ đáy lòng, để con suy nghĩ bao dung. Xin hào quang lan tỏa từ con tim, để nội tâm chân thật dịu dàng. Xin hào quang lan tỏa trong đôi mắt, để ánh mắt hiền hòa cảm thông. Xin hào quang lan tỏa từ trong lưỡi, để lời nói nhẹ nhàng ấm áp. Xin hào quang lan tỏa tới hai tay, để tay đem hạnh phúc tới nơi nơi. Xin hào quang lan tỏa toàn thân, để thân này không hối tiếc hy sinh.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, tất cả người nữ ở vô số vô lượng cõi nước Phật khắp mười phương, hễ ai nghe đến danh hiệu của con, vui vẻ tin tưởng, ưa thích, phát tâm bồ đề; nếu họ không thích thân nữ, sau khi mạng chung, họ không còn thọ thân nữ nữa.
Đây là nguyện đức từ phụ quan hoài tới phụ nữ trong bối cảnh xã hội phong kiến, trợ giúp phụ nữ thành tựu sở thích. Trong cõi Ta Bà đời nay, những người thiếu cảm thông, thiếu được quan hoài cũng vô số. Xin sức mạnh của danh hiệu đức từ phụ cũng truyền tới những ai đang cần trợ giúp, cần cảm thông, cần chuyển hóa. Con thành tâm sám hối để Vô Đối Quang đem an lạc tới kẻ thân phận đọa đày, đem no ấm tới người thiếu thốn, đem giáo dục tới những ai cần mở trí, và đem tiếng chuông thức tỉnh tới những tâm hồn hủ bại vì tham lam.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều đắc an trụ chính định, cho tới an trụ Niết Bàn.
Đây là nguyện đức từ phụ giúp chúng sinh trong cõi An Lạc thành tựu chính định, chứng Bất Nhị Niết Bàn. Khi chưa tới cõi An Lạc, con thành tâm sám hối cho thói hỗn loạn, gây rối ren, không tu thiền định, chẳng biết thiền duyệt. Thưa đức từ phụ, khi vấn đề sinh tồn đè nặng cuộc sống, ‘lo sao đủ ăn bữa nay’, thì làm sao tâm an, thần định được? Khi lòng tham tích tụ tiền tài đang như mãnh hỏa đốt rừng, thì làm sao biết dừng, biết cho, để lòng an trụ vị tha? Khi giận lẫy uất hận như biển động sóng thần, làm sao biết tha, biết thương, thốt lời ‘xin lỗi’? Bởi thế, con thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo khiến Vô Đối Quang không được cảm nhận trong những tâm hồn cần cảm thông ấy. Xin niềm vui cõi An Lạc san sẻ dịu vơi khổ đau của chúng sinh nơi hồng trần hỗn loạn này.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ.
Nam mô Vô Đối Quang Như Lai (10 lạy)
6. Diệm Vương Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Diệm Vương Quang; Diệm nghĩa là quang minh rực rỡ như lửa mạnh. Vương nghĩa là vua. Gọi là Diệm Vương là vì lửa này có sức mạnh vô song như quyền lực vô hạn của một vị vua, không ai dám bất tuân bất kính. Diệm Vương Quang là quang minh có sức mạnh vô song như lửa lớn đốt sạch hết mọi thành kiến, mọi phiền não chấp trước, mọi nghiệp chướng vô minh. Thật vậy, chỉ có lòng đại bi là đủ sâu đủ mạnh để đốt cháy mọi ảo ảnh, mọi tập khí chấp trước. Lòng đại bi lan tỏa tình thương vô ngần, chẳng hề bị kẹt trong đối tượng nào. Nhưng khi lòng đại bi vắng bóng thì tất cả biến thành thói chấp trước vào đối tượng. Chính vì thiếu đại bi, con chấp trước vào ảo ảnh rằng cái thân là thật, cái ‘tôi’ là thật, rồi ôm ấp thân này, tạo bao tội nghiệp!
Con tạo nghiệp ra sao? Ví như ngoài đồng không trống trải, trời xanh bao la, đột nhiên xây một ngôi nhà. Nếu ví bầu không gian bao la là Chân Tâm quang minh, thì tạo nghiệp là lúc con nhắm mắt với bầu trời ấy, quay lưng với sự thông thoáng, khép kín mình trong một không gian hạn hẹp. Rồi con yêu thương không gian hạn hẹp ấy, vì nó gọi là ‘nhà con’. Một khi nhà xây rồi, không gian định rõ ràng, bầu trời vô tận còn đó, nhưng chìm trong lãng quên: ‘nó ở bên ngoài’. Khi tình thương biến mất, quang minh quên lãng, tạo nghiệp chỉ tăng. Càng tạo nghiệp thì giống như càng đắp dày lên bốn bức tường, cuối cùng phong tỏa lối vào, đóng bít cửa ngõ; thế là mắt này vĩnh biệt trời sáng, ngực này giã từ khí trong. Trải vô số kiếp tạo nghiệp, tuy không gian vô tận vẫn còn đó, nhưng ngôi nhà nghiệp chướng càng thêm chắc: đó là ngôi nhà Ngũ Ấm, ngôi nhà thành kiến, ngôi nhà vọng tưởng, ngôi nhà phiền não. Chân Tâm còn đó, nhưng con quá bận với vọng tưởng đảo điên. Tình thương còn đó, nhưng con quá cột trong yêu đương, hận thù.
Thưa đức từ phụ, con thành tâm sám hối thói tự mình đóng tâm; xin sức mạnh sám hối khai mở trong con Diệm Vương Quang, đốt cháy hoàn toàn ngôi nhà nghiệp chướng! Khai mở để con thức tỉnh, tri nhận lại chân trời bản tánh. Khai mở để thay đổi thói quen xây nhà nghiệp chướng thành thói quen tri nhận bầu trời quang minh. Con thiết tha sám hối tất cả nghiệp chướng nặng nề, nghiệp nhân xấu ác, nghiệp duyên rối rắm, nghiệp báo khổ đau, nghiệp lực đen tối, để tất cả tiêu tan dưới sức mạnh của Diệm Vương Quang. Xin Diệm Vương Quang, khai mở trí huệ ‘thấy suốt Ngũ Ấm là Không’, do đó thiêu rụi ngôi nhà Ngũ Ấm; khai mở mắt huệ xuyên thấu tường vách thành kiến điên đảo; khai mở quang minh Bất Nhị, bước khỏi ngục tù vọng tưởng; khai mở tình thương vô hạn, vượt thoát yêu chấp buộc ràng.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Diệm Vương Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Thân thể là ảo ảnh sâu nhất, khó phá hoại nhất. Bởi thế đức từ phụ phát nguyện khiến chúng con chứng đắc thân thể chân thật, gọi là thân Na-la-diên hay thân kim cang. Nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát ai ai cũng có thân Na-la-diên (thân kim cang).
Thân kim cang không phải là thân tạo bởi Ngũ Ấm, mà sinh ra từ lòng đại bi vô hạn. Vì vậy, thân kim cang không thể bị phá hoại, bởi vì không có gì tổn hại được lòng đại bi. Thân kim cang không thể bị yêu chấp, vì lòng đại bi không khiến kẹt, dính vào hình tướng. Thân kim cang không làm ai đố kỵ, khiêu chiến, vì lòng đại bi không dấu tích sân giận.
Thưa đức từ phụ, khi chưa chứng thân kim cang tối thắng như thế, con thành tâm sám hối chỉ để xin năng lực biết rung cảm với nỗi đau của xác thân biến hoại, biết cảm thấu nỗi buồn của tuổi già không hẹn, biết lắng nghe nỗi xót xa của kiếp người thoáng chốc. Con xin đem tim này chia sẻ với tất cả, nới tay đây xoa dịu nét phiền ưu, điểm nụ cười trên môi quên hy vọng, ấm lòng người, dù chỉ một lời thương. Xin tình thương vô hạn tới trú ngụ nơi tim những ai chưa có thân Na-la-diên.
Đức từ phụ lại phát nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát, nếu họ phúng tụng, thọ trì, diễn thuyết kinh pháp, thì họ sẽ đắc trí huệ biện tài.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát đều có trí huệ biện tài không thể hạn lượng.
Đây là nguyện khai mở Diệm Vương Quang, giúp chúng sinh thành tựu trí huệ, biện tài vô ngại. Trí huệ cần có đại bi cũng như cá cần nước vì nước là môi trường cá sống. Nhưng trí huệ cũng cần biện tài, như cá cần vi thì cá mới lội ngược xuôi tự tại. Lòng thương nuôi sống, biện tài hiển bày, thì Diệm Vương Quang tối thắng!
Khi chưa có biện tài vô ngại, xin Diệm Vương Quang lan tỏa trong thân ngữ ý con, để con nói lời nhẹ nhàng, lời đúng lúc đúng chuyện, lời làm sinh khởi niềm tin, lời ấm áp quan hoài, lời cảm thông, lời chân thật an ủi, lời tín nhiệm, lời hiếu dưỡng, lời vô úy, lời không tổn hại, lời không làm ai mất mặt, lời không làm sợ hãi, lời đem hy vọng hiện thực, lời khiến thực hành bố thí, trì giới và các ba la mật, lời giải gút thắt tâm tình, lời khiêm nhường dễ thương, lời đưa tới nhận tri thể tánh Bất Nhị.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Diệm Vương Quang Như Lai (10 lạy)
7. Thanh Tịnh Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Thanh Tịnh Quang. Thanh tịnh là bản tánh của Chân Tâm, không hề ô nhiễm, không hề vẩn đục. Thanh tịnh hiển hiện trong cõi nhị nguyên là trạng thái không dính, không tạo ra bụi bặm ô nhiễm của trần thế.
Khi bồ tát nào thấy Thanh Tịnh Quang của Như Lai, ngài sẽ lập tức đăng vị Thập Địa, cho tới đạt cứu cánh ‘nhất sinh bổ xứ’. Chúng sinh nào thấy Thanh Tịnh Quang sẽ tự ngừng bặt mọi hành vi ô nhiễm, ích kỷ. Do đó Thanh Tịnh Quang cũng là quang minh của lòng đại xả, đại thí. Tất cả mọi cảnh vật trên cõi An Lạc nhờ quang minh thanh tịnh chiếu soi, đều thành nghiêm lệ thù thắng: từ mặt đất cho tới cây cối, hoa báu, trái quý, cho tới muôn loài chúng sinh đều trang nghiêm đẹp đẽ. Nhưng quang minh thanh tịnh ấy không phải ở đâu xa xôi, chính là quang minh của Chân Tâm.
Bởi thế xin đức từ phụ khai mở trong con sức mạnh Thanh Tịnh Quang, làm con kiến giải thanh tịnh, không vẩn đục hẹp hòi thị phi; để động cơ tu hành thanh tịnh, không ô nhiễm ích kỷ tự lợi; để hạnh nguyện thanh tịnh, không mong cầu nhỏ hẹp riêng mình; để xả thân thanh tịnh, chỉ vì cầu đạo, độ sinh; để cúng dường thanh tịnh, không cầu phước báo; để phục vụ thanh tịnh, không mong trả ơn; để trang nghiêm hoàn cảnh thanh tịnh, chỉ vì hạnh phúc mọi người.
Thưa đức từ phụ, khi ở trong cảnh hạnh phúc an lạc, khó ai nghĩ tới nỗi đau khổ của người thiếu thốn cùng cực; bởi thế, xin Thanh Tịnh Quang chiếu soi mở lòng đại xả, khiến con cảm thông nỗi buồn khổ, dang tay mở rộng nối kết.
Khi thân thể khoẻ mạnh, khó ai cảm được nỗi niềm kẻ đau yếu, bất lực; bởi thế, xin Thanh Tịnh Quang hãy đến mở lòng thí xả, để con đem sức khỏe này dắt dẫn, đem ánh mắt này chia sẻ, đem nụ cười này xoa dịu.
Lúc còn trẻ, khó cho con biết được nỗi cô quạnh yếu đuối của bậc trưởng bối già nua; bởi thế xin Thanh Tịnh Quang làm cho tim con rung cảm được nhịp tim của người, cho da thịt này cảm thấu được tình thương của người, cho tai này nghe được tiếng nghẹn ngào không lời của người.
Xin Thanh Tịnh Quang làm tim con rung cảm sự im lặng vô biên của Chân Tâm, nhưng cũng cảm xúc được mọi tâm sự của người sống quanh con. Nếu con có may mắn ở trong cõi An Lạc, xin con tim này luôn ở với tất cả trái tim cõi Ta Bà, xin con tim này vơi cạn mọi nỗi niềm khổ đau thầm kín. Đó là vì Thanh Tịnh Quang, thanh tịnh không vì ở cõi An Lạc, hay vì hoàn cảnh an lạc, mà vì bản tánh thanh tịnh của Chân Tâm.
Xin Thanh Tịnh Quang đến với con những lúc tai nghe lời tức giận, hờn lẫy, mắng nhiếc, khổ não, thị phi, để tâm con trỗi dậy tình thương, cảm thông cho gút thắt tâm tình của mình và người.
Xin Thanh Tịnh Quang đem sức mạnh đại xả đến với con khi phải đối diện với hứa hẹn của truy cầu ích kỷ, để con nhẹ nhàng từ giã mọi cám dỗ, chuyển hóa năng lượng thấp kém.
Khi bị cuốn hút vào con đường nghiện ngập tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, và hưởng thụ, xin Thanh Tịnh Quang trỗi dậy sức mạnh đại xả, dẫn con ra khỏi cạm bẫy sa đọa.
Xin đức từ phụ rủ lòng từ bi thương xót, khơi dậy Thanh Tịnh Quang khiến tâm con luôn ở trong tánh bình đẳng, khai mở, như bầu trời xanh thẳm trong sáng, mặc cho gió nghiệp nổi cơn.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Thanh Tịnh Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Ngài có lập hai đại nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người đều chẳng bao giờ nghe lời bất thiện.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người, tất cả vạn vật, đều nghiêm tịnh đẹp đẽ, hình sắc thù thắng, vi diệu vô cùng, khen chẳng hết lời. Cho dù trong chúng sinh có ai đắc thiên nhãn, có khả năng hiểu biết, cũng không sao diễn tả cho xiết.
Thưa đức từ phụ, cõi Ta Bà này còn có tên là cõi trần lao, nghĩa là cõi của kiếp người nhỏ bé như hạt bụi, mệt mỏi với đủ thứ: mệt mỏi dưới sức nặng của núi lớn nghiệp chướng, mệt mỏi giữa biển sóng dạt dào tâm hồn ích kỷ, mệt mỏi phải hít thở không khí ô nhiễm cả thân và tâm, mệt mỏi với thúc dục chạy đua không ngừng nghỉ, mệt mỏi với gút thắt tâm tình không giải gỡ, mệt mỏi với thời gian đi hoài không trở lại. Nhưng cõi An Lạc thì khác hẳn: không ai mệt mỏi với gánh nặng nghiệp lực, không ai tạo ác nghiệp. Như thế, khi chưa được vãng sinh, xin sức mạnh Thanh Tịnh Quang tới với con, hóa tan đi bóng tối mệt mỏi, nhấc bổng gánh nặng ác nghiệp.
Trong cõi Ta Bà thì lời thô tiếng ác, nhiều hơn bụi trần khắp vũ trụ, vì vậy, xin sức mạnh Thanh Tịnh Quang an định lòng con, để dù nghe đủ thứ nhiễm ô mà lòng vẫn thư thái vô nhiễm.
Nhất là khi nghe lời hủy báng, nhục mạ, vu khống, ruồng rẫy, hàm oan, giá họa, đọa đày, dọa nạt, dối trá, gạt gẫm, xin cho con sống với Thanh Tịnh Quang, để không sinh lòng đối kháng, chỉ nhẹ nhàng nhận tri, cảm thông với mọi người nỗi khốn khó bó tay trước sức mạnh của bóng tối vô minh. Bóng tối ấy không hề hiện hữu trên cõi An Lạc, nơi ai ai cũng có hình hài đẹp đẽ, cảnh vật trang nghiêm. Nhưng nơi Ta Bà này, bóng tối ấy, không hình hài, không tên tuổi, không ấn tích, trùm phủ mọi ngõ ngách, len vào mọi tâm khảm, ngự trị từng chót lưỡi. Vì vậy, con hết lòng thỉnh cầu, hổ thẹn sám hối, ngưỡng mong đức từ phụ khơi dậy sức mạnh Thanh Tịnh Quang trong thân tâm này, khiến bóng tối tan biến như sương mai gặp ánh hồng bình minh.
Xin sức mạnh của sám hối và tha lực của Thanh Tịnh Quang thức tỉnh năng lực buông xả: buông xả thói nghiền cảm giác kích thích của tai mắt mũi lưỡi thân; bỏ thói chấp cứng vào thành kiến; bỏ thói lười biếng không chịu tập luyện tu hành; bỏ thói thích ham thích bề ngoài; thôi cách sống ích kỷ nhốt mình trong ‘cái tôi’.
Sỡ dĩ cõi An Lạc không ai nghe lời bất thiện, vì không có ai nói lời bất thiện. Khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, con xin học ngay hạnh không nói lời bất thiện: đó là hạnh không ngừng nỗ lực quan sát nội tâm, nỗ lực nhớ lại cảm xúc và động cơ lúc mới phát tâm; siêng năng suy nghĩ tích cực và hướng thiện; hun đúc tánh tình nhu thuận, dễ thương, và hài hòa.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Thanh Tịnh Quang Như Lai (10 lạy)
8. Hoan Hỉ Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Hoan Hỉ Quang, là niềm vui vô hạn, vô biên trong tâm thức giác ngộ. Ai được Hoan Hỉ Quang chiếu tới cũng hoan hỉ.
Trong một thế giới bất an, đầy hoàn cảnh khốn khó, đầy bất mãn bất bình, ai ai cũng cần niềm vui an định. Bởi thế xin đức từ phụ lắng nghe tâm sự của chúng sinh: có lúc đau lòng vì bị người thân ruồng rẫy nặng lời, có lúc khổ sở vì bị hiểu lầm, có lúc nghẹn ngào quằn quại vì người thương ra đi, có lúc buồn rầu vì mất mát, có lúc cảm thấy nghẹt thở vì ở trong ngõ kẹt không lối thoát, có lúc khổ sở vì người tình bội bạc, có lúc buồn sợ vì bịnh hoạn nan y tới bất ngờ, có lúc buồn khổ vì tuổi già bất lực; có lúc giản dị chỉ vì miếng ăn ngày mai. Vô vàn nỗi buồn mà không lời nói, không hành động của ai có thể làm dịu vơi. Thưa đức từ phụ, những lúc như thế, xin ngài tới ban niềm vui, chỉ lối thoát, giải nguy nan.
Nhưng khi nỗi buồn chưa tới, xin Hoan Hỉ Quang cũng đừng rời tâm con, để con hiểu rằng quả báo của hành động ích kỷ chỉ đem tới khổ quả, và hạt giống vị tha luôn đem tới quả an vui. Xin ngài làm con thức tỉnh, biết vui với tất cả những gì hiện hữu và sở hữu.
Phàm phu ai ai cũng chỉ muốn giải quyết vấn đề tự sinh tồn rồi lo cho mái ấm gia đình, nào thấy được niềm vui trong sự phục vụ, niềm vui vị tha. Bởi thế, xin đức từ phụ khai mở trong con Hoan Hỉ Quang, cho con tìm thấy niềm vui chân thật trong sự hiến dâng cuộc đời phục vụ giúp người.
Xin sức mạnh Hoan Hỉ Quang luôn luôn thị hiện. Để làm gì? Để đem nụ cười cho những đôi mắt đã lâu ngày khô héo vì buồn bã; để tạo nhịp cầu cảm thông giúp nỗi niềm chôn kín tìm ra ngôn từ bay thoát; để những tâm hồn nghẹn ngào vì nỗi buồn mất mát tìm thấy con đường tình thương, quên mình trong hiến dâng, phụng sự; để trong giây phút then chốt quyết định thiện ác, trực giác thánh thiện sẽ ngập tràn cõi lòng người do dự; để nốt nhạc cao vút tự tại luôn ngự trị trong tim can những ai nặng trĩu trầm cảm, uất kết.
Thưa đức từ phụ, xin ngài hãy đem thế giới An Lạc xuống với những ai chưa đủ duyên vãng sinh, với những chúng sinh mà mắt nhòa lệ vì chịu đựng, tâm tình thắt nghẹn vì muộn phiền, chai đá vô tín vì thành kiến. Xin đức từ phụ lắng nghe lời thổn thức của những tâm hồn đau khổ ấy. Con xin sám hối tội nghiệp cho tất cả người ấy, cho những kẻ hữu duyên, để họ có dịp cảm nhận An Lạc, của Hoan Hỉ Quang, dù chỉ một thoáng chốc. Xin đức từ phụ rủ lòng từ bi, hiển hiện trong tâm khảm họ từng giây từng phút Hoan Hỉ Quang.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Hoan Hỉ Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có phát nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời người ai ai cũng thọ niềm vui, hệt như chư tỳ kheo đã hết phiền não.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở cõi nước khác nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, sẽ vui sướng rộn rã, tu hạnh bồ tát, đầy đủ công đức.
Hai đại nguyện này khiến ai ai cũng hoan hỉ. Đức từ phụ đã dùng sức mạnh của hồng danh khiến ai nghe cũng vui sướng! Đó là sức mạnh của Hoan Hỉ Quang! Con xin sám hối tất cả lời nói và hành động dẫn tới quả báo làm ai nghe tới tên con, ai nghĩ tới hình bóng con thì sinh lòng oán ghét, phiền não. Con thành tâm thiết tha sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo con đã tạo mà kết quả là những người trong mạng lưới nhân duyên đều chẳng thể hoan hỉ khi nối kết với con.
Thưa đức từ phụ, chư tỳ kheo đã hết phiền não tức là đã chứng quả La Hán trở lên. Niềm vui hết phiền não thì vượt hơn niềm vui của bốn loại thiền: niềm vui sơ thiền, gọi là vui do tâm lực rời khỏi thân xác và chấp trước vào thân xác; niềm vui nhị thiền, gọi là vui do an trụ trong tâm ý chuyên chú; niềm vui tam thiền, gọi là niềm vui vi diệu thù thắng do rời những niềm vui ở hai thiền trước; niềm vui tứ thiền, gọi là niềm vui do sự thanh tịnh, rời bỏ tâm tưởng và cũng rời bỏ các niềm vui trước. Nhưng chủ thể của tất cả niềm vui ấy tức là sự chấp trước vào bản ngã thì vẫn tồn tại.
Niềm vui không còn bản ngã chỉ hiện hữu với chư La Hán và chư bồ tát an trụ Thập Địa trở lên. Bởi thế niềm vui này chính là kết quả của thiền định chân chính. Đối với chư bồ tát thực hành Thiền ba la mật là niềm vui. Đối với bồ tát Thập Địa, an trụ Chân Tâm Bất Nhị là niềm vui. Đối với Đẳng Giác bồ tát, an trụ trong tam muội tự tại vô ngại là niềm vui. Vì thế con xin sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã trở ngại cho sự phát triển Thiền ba la mật. Xin sức mạnh của Hoan Hỉ Quang khai mở, tăng trưởng năng lực an trụ trong tĩnh lặng, sáng soi Chân Tâm.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát thừa thần lực Phật, có thể trong một khoảnh khắc cúng dường chư Như Lai trong trăm ngàn ức, vô số cõi Phật.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát, khi ở trước mặt Phật, sẽ có đủ tất cả đồ vật cúng dường tùy theo ý thích, để biểu hiện lòng thành của các ngài.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát ai có chí nguyện muốn nghe pháp gì, tự nhiên sẽ được nghe pháp đó.
Cúng dường, bố thí tài, bố thí pháp là nội dung ba đại nguyện trên. Đó là đại nguyện đức từ phụ đem lại niềm vui vô biên cả cho người nhận và người cho. Vì chưa ngộ được lý ấy, chưa được vãng sinh vào cõi An Lạc, con không biết mở lòng mở tay cúng dường bố thí.
‘Cho ra’ vốn là hạnh đầu tiên của mười ba la mật. Quảng tu cúng dường là đại hạnh của đức Phổ Hiền. Trong pháp Thập Hạnh, giai đoạn đầu tiên tu hành tên là Hoan Hỉ Hạnh, cũng lấy bố thí làm hạnh căn bản nhất. Vì sao con chẳng cho ra, cúng dường? Vì con không nhận biết mình vốn giàu có vô tận với kho báu công đức sẵn có trong lòng, nên chưa chịu bố thí. Vì vậy con thiết tha sám hối tâm thái chấp cứng vào số lượng tiền tài vật chất, rồi khóa chặt lòng rộng rãi, tâm ‘cho ra’, cúng dường. Con cũng sám hối những tâm thái như: tâm sợ mình thiếu thốn, tâm so sánh giàu nghèo, tâm lo lắng thua thiệt, tâm lẫn tiếc keo kiệt, tâm tranh giành lợi lộc. Xin Hoan Hỉ Quang chiếu tan những tâm thái khiếp nhược ấy, mở chân trời thông thoáng cho con bay thoát vô ngại.
Vì sao con chẳng chia sẻ niềm vui? Vì con không biết tự tánh vốn luôn có sẵn niềm vui, con không khai quật, không vận dụng nó. Bởi thế con xin mở khai tâm lượng rộng rãi: chia sẻ với những ai con chung sống niềm vui an nhiên vốn không hề giảm thiểu trong từng hơi thở; chia sẻ niềm vui tĩnh lặng bản hữu, khi tâm người rối loạn; chia sẻ niềm vui vô úy vốn tràn đầy tâm khảm, khi áp lực sợ hãi chồng chất lên tâm người; chia sẻ niềm vui vô hạn, khi ngừng lại, thôi hướng ngoại rong đuổi.
Con cũng thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã khiến con không thể phát tâm mở lòng, chẳng hề cảm thông cho nhu cầu của người thiếu thốn, nên không thể thí tài, cho ra; thiếu thành tâm lắng nghe nỗi niềm của kẻ cầu giải đáp, nên không hy sinh thời gian giúp giải; thiếu rung động với nỗi khổ chôn sâu, nên không thể ban niềm vui, an ủi.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Hoan Hỉ Quang Như Lai (10 lạy)
9. Trí Huệ Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Trí Huệ Quang, là quang minh sinh từ trí huệ, là quang minh khai mở suối nguồn trí huệ, là quang minh ban bố trí huệ cho ai ngu tối. Trí huệ này là sự sáng suốt không làm con sợ hãi, không làm con tham muốn, không làm con rơi vào trong mạng lưới nghiệp chướng. Trong một thời đại dục vọng hoành hành, hơn bao giờ cả, ai ai cũng cần Trí Huệ Quang chiếu soi hướng dẫn.
Thật vậy, Trí Huệ Quang là quang minh chiếu thẳng tới Chân Tâm, xuyên qua tất cả mọi mây mù vọng tưởng. Trí Huệ Quang là sự sáng suốt khai mở cái ‘mới’: như khi con truy tìm cảm xúc quen thuộc nào đó mãi, rồi kẹt trong cảm xúc ấy, khước từ tất cả cảm xúc khác; Trí Huệ Quang xuyên phá sự quen thuộc ấy.
Như khi con thích ăn một món ăn nào đó, rồi ăn hoài không chán, chê bai những thứ không giống mùi vị quen thuộc kia; Trí Huệ Quang xuyên phá cái chấp vào sự quen thuộc của mùi vị ấy, để cái lưỡi tự do cảm nghiệm trăm vị.
Như khi con thích nghe một điệu nhạc nào đó, rồi nghe mãi không thôi; Trí Huệ Quang xuyên phá sự nghiện ngập cảm giác quen thuộc ấy, mở ra một khả năng nghe ‘mới’.
Như con suy nghĩ theo một quan niệm, một khuôn phép nào đó, với những định nghĩa, định đề, hình ảnh, giá trị quen thuộc, rồi cảm thấy khó chấp nhận những ý tưởng nào không phù hợp với khuôn khổ suy nghĩ quen thuộc ấy; Trí Huệ Quang phá tung những bức tường thành kiến, mở ra cái nhìn hoàn toàn ‘mới’, với giá trị quan hoàn toàn ‘mới’, một sự sáng tạo mới.
Như con sống với một vũ trụ quan đầy tiền lệ và quy ước, rồi con định luận thế giới xung quanh từ vũ trụ quan này, khiến thế giới con sống chỉ là thế giới tạo ra bởi những tiền lệ, định đề trong ý tưởng, rồi con chấp cứng vào chúng; Trí Huệ Quang phá tan những rào ngăn, những khuôn phép kiến tạo lên ảo ảnh bản ngã ấy, để con cảm nghiệm sự ‘sống’.
Như khi tu luyện, tọa thiền, lập đi lập lại một câu chú, con tạo ra một khuôn phép đóng kín tâm mình lại trong ảo ảnh ‘mai sau sẽ chứng đắc’; Trí Huệ Quang chiếu xuyên qua tâm thái ‘hứa hẹn, đợi chờ’ đầy sợ hãi vi tế, khiến bừng hiện lên cái nhìn trực tiếp, lập tức giải thoát.
Như khi quan hệ với người, con gặp đủ thứ phản ứng cảm xúc, từ khen ngợi tới phê bình tới hủy nhục… Trí Huệ Quang khiến con mỉm cười với tất cả, rồi lan tỏa một tình thương tới mọi người, dù cho họ đối đãi thậm tệ cỡ nào.
Khi ở trong hoàn cảnh phải chờ đợi, Trí Huệ Quang làm tan biến thời gian, giải trừ tâm thái ‘chờ’, để ta an nhiên trong hiện tại vô biên giới. Khi bị đẩy vào trong núi lửa của dục vọng, Trí Huệ Quang ngừng ngay tâm thái ‘mong’, chuyển núi lửa thành ngay núi tuyết, thật trong sáng, nhẹ nhàng tươi mát. Khi tất cả những kinh nghiệm nói trên trở thành quen thuộc, thì Trí Huệ Quang lại trỗi dậy, đưa ta ra khỏi mọi trì trệ, mọi dính kẹt. Trí Huệ Quang là tất cả! Trí Huệ Quang là tối thắng! Chỉ có Trí Huệ Quang thì mới có giải thoát thật sự!
Thưa đức từ phụ, để Trí Huệ Quang dễ dàng trỗi dậy, con xin sám hối hết tất cả những tội nghiệp đã chướng ngại nguồn tâm trí huệ. Con thành tâm sám hối những lời nói, hành động duy trì lòng sợ hãi, duy trì bóng tối và điểm mù. Đó là: hành động dọa nạt, không biết cải thiện, không thích nghe phê bình, không phản tỉnh trong im lặng, ngoan cố, chấp cứng vào quan điểm sai lạc, phủ nhận tha nhân, phủ nhận việc lành, nuôi dưỡng ý tưởng tổn hại, nuôi dưỡng thái độ bạo động, thích hờn lẫy, không chịu tha thứ, không chấp nhận quá khứ lỡ làng.
Chắc chắn rằng trong mạng lưới nhân duyên của con sẽ có người không thể dễ dàng về thế giới An Lạc của từ phụ, vì không có đủ công đức, không đủ phước báu, không đủ cơ duyên, hoặc vì có quá nhiều thành kiến, nghiệp chướng và phiền não, hoặc vì thiếu sự hướng dẫn, thiếu tập luyện tu trì. Đối với những người như thế, xin đức từ phụ kết nối với mạng lưới nhân duyên, truyền lan tới họ thần lực của vô lượng trí huệ, vô lượng công đức, vô lượng thiện căn, vô lượng đại nguyện, khiến họ có thể tin tưởng, rồi khai mở tự tánh quang minh.
Với những ai không thể về với thế giới An Lạc, xin đức từ phụ đem tinh thần, oai lực, phước đức của thế giới An Lạc vào ngay tâm họ, để họ cảm nhận được tình thương vô hạn của đức từ phụ. Nếu họ bị kẹt trong vòng vô minh, dục vọng, sợ hãi của cõi Ta Bà này, xin đức từ phụ thị hiện sự tự do tự tại của thế giới An Lạc trong tâm họ, để họ cảm nhận cái ‘vô hạn’ trong hữu hạn, cái ‘vô ngại’ trong chướng ngại, cái ‘giải thoát’ trong trói buộc vô minh.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Trí Huệ Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Để giúp chúng sinh đạt Trí Huệ Quang đức từ phụ có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư vị bồ tát ai ai cũng có thể diễn thuyết về Nhất Thiết Trí.
Diễn thuyết về Nhất Thiết Trí tức là vì đã chứng ngộ Nhất Thiết Trí. Đây là trí huệ thấu rõ tự tánh, trí huệ không còn tạo nghiệp. Con thành tâm sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo đã tạo, khiến không thể khai mở Nhất Thiết Trí.
Khi chưa về cõi An Lạc, chưa có khả năng diễn thuyết về Nhất Thiết Trí, con xin tu tập hạnh lắng nghe. Xin đức từ phụ khơi dậy Trí Huệ Quang trong lòng con, để con biết lắng nghe nội tâm thuyết pháp: rằng cho con nghe được âm thanh của lòng khai mở, mà tánh buông lung thường lừa đảo; rung cảm được tình thương, mà tình yêu chiếm hữu thường lấn át; nghe được âm thanh vô úy, mà lòng sợ hãi thường đè nặng; cảm nhận được tiếng nói của lương tâm, mà dục vọng thường giết chết; nghe được âm vang ‘hãy xả thân hy sinh’, mà lòng ích kỷ thường ngăn cản; cảm thấu được tiếng nói của mặc cảm tiềm lưu, mà tâm tánh hời hợt thường phủ nhận; nghe được chân lý bất nhị trong im lặng thiền định, mà tánh vị ngã dối trá thường phá hoại; cảm thông được tánh tự tại vô hạn, mà thói truy cầu che mắt, thường không cho thấy biết; cảm nhận được hải hội chư Phật, bồ tát luôn an trụ ngay đây, mà thói chấp trước vào hình tướng thường khóa kín sự nhận tri.
Sau khi đã lắng nghe nội tâm, con xin Trí Huệ Quang khai mở tánh nghe trong con tim nhỏ bé này, để con cảm thông; biết rõ lời pháp lúc nào cũng vang lên khắp mọi chốn: Cảm thông lý vô thường, khi nghe tiếng thổn thức bất lực của người bị mất mát hoặc biệt ly; cảm thông lý khổ, khi nghe tiếng dục vọng thôi thúc không thôi; cảm thông lý Chân Không, khi nghe giọng thành kiến, dính, kẹt, không thoát; cảm thông lý vô ngã, khi nghe lời ích kỷ truy cầu không ngưng.
Xin khai mở tánh nghe để con cảm thông, thực tập đại từ khi nghe lời tổn hại, thiếu dễ thương; cảm thông, thực tập đại bi khi nghe lời tàn nhẫn, giận dữ, hờn lẫy; cảm thông, thực tập đại hỉ khi nghe lời chân thành, hướng thiện sửa đổi; cảm thông, thực tập đại thí xả khi nghe lời ước nguyện, mong muốn, cầu xin; cảm thông, thực tập thí vô uý khi nghe lời kêu cứu, lời hãi sợ bóng tối của quá khứ và lỗi lầm; cảm thông, thực tập bao dung khi nghe lời vị ngã, ích kỷ; cảm thông, thực tập ‘hóa chuyển’, khi nghe lời dối trá, không chân thật.
Thưa đức từ phụ, khi con chưa có Nhất Thiết Trí, chưa có năng lực diễn thuyết biện tài, xin ngài luôn khơi dậy trong con Trí Huệ Quang, nuôi dưỡng khả năng lắng nghe. Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Trí Huệ Quang Như Lai (10 lạy)
10. Nan Tư Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ còn có hồng danh là Nan Tư Quang, nghĩa là quang minh vượt ra ngoài tất cả định nghĩa, tư duy, suy lường. Nan Tư Quang là quang minh của vô lượng phương tiện thiện xảo cứu giúp chúng sinh, vô lượng phương thức để đan kết mạng lưới quang minh. Nan Tư Quang là quang minh biến tất cả những mối ‘quan hệ nghiệp chướng’ của con với chúng sinh thành mối ‘quan hệ giải thoát’, biến mạng lưới nhân duyên thành mạng lưới quang minh.
Thế nào là mạng lưới nhân duyên?
Mỗi một người có rất nhiều mối quan hệ. Nếu ví mỗi quan hệ ấy là một sợi chỉ, thì tất cả mối quan hệ của người ấy sẽ dệt thành một tấm vải. Khi con là sợi chỉ ở trong tấm vải ấy, thì con và tấm vải chỉ là một. Vì sao? Như sợi chỉ không thể sống đơn độc bên ngoài tấm vải; con trở nên vô nghĩa khi sống bên ngoài mạng lưới nhân duyên. Như sợi chỉ, mình nó không thể dệt nên tấm vải; thì mình con tồn tại cũng không tạo thành mạng lưới. Như thế, mệnh hệ của con gắn liền với mạng lưới, chẳng thể tách rời. Tùy từ trường tốt hay xấu của tâm thức con mà cả mạng lưới cảm nhận tốt xấu. Do vậy khi con sống, là sống với toàn mạng lưới nhân duyên. Như thế khi con tu, xin tu cho toàn thể mạng lưới. Nay con sám hối, xin sám hối cho toàn thể mạng lưới về tất cả những cộng nghiệp xấu lúc toàn mạng lưới gieo nhân, lúc tạo duyên, lúc gặt quả báo.
Thế nào là mạng lưới quang minh?
Như ví dụ trên, nếu mỗi sợi chỉ đều làm bằng quang minh thì tấm vải biến thành tấm quang minh. Khi tất cả những sợi dây quan hệ đều là quang minh thì mạng lưới biến thành mạng quang minh.
Làm sao để biến dây chỉ thành dây quang minh? Khi tình thương, lòng đại bi, lan tỏa trong mối quan hệ, thì dây chỉ trở thành dây quang minh. Vì sao dây quan hệ không biến thành quang minh? Vì dây quan hệ có nhiều gút thắt. Gút thắt là những thứ làm con và người sinh phiền não, buồn rầu, tức giận, oán ghét… Gút thắt là những tâm thái làm chết đi tình thương.
Nan Tư Quang của đức từ phụ lúc nào cũng lan tỏa tình thương tới khắp mạng lưới nhân duyên của con. Nhưng không phải ai ai cũng nhận được ảnh hưởng của Nan Tư Quang.
Ví như khi mưa xuống, nước mưa thấm ướt vạn loài cây cỏ, nhưng mỗi loài tùy theo gốc rễ lớn bé, nhu cầu nhiều ít mà hấp thu khác nhau. Cũng vậy, Nan Tư Quang chiếu tỏa hào quang vào trong toàn thể mạng lưới quan hệ, rồi tùy theo căn cơ mỗi người mà hấp thu lợi ích của hào quang khác nhau.
Ví như mặt trời chiếu tỏa ánh sáng khắp nơi, nhà nhà đều được soi chiếu, nhưng tùy theo mỗi nhà cửa ngõ to nhỏ mà nhận được ánh sáng ít nhiều. Cũng vậy, Nan Tư Quang chiếu tỏa hào quang vào khắp mạng lưới nhân duyên, nhưng tùy tâm thức khai mở nhiều hay ít, sẽ đón nhận sự sáng suốt sâu hay cạn.
Ví như bài nhạc giao hưởng trỗi lên như những làn sóng trầm bổng đưa cả hội trường vào trong dòng sóng du dương, ai ai cũng say sưa lắng nghe, nhưng mỗi người một cảm xúc riêng tư, một mức độ thưởng thức khác nhau. Cũng vậy, Nan Tư Quang lan tỏa làn sóng thanh tịnh tới toàn thể mạng lưới nhân duyên, nhưng tùy trình độ tu hành hời hợt hay sâu sắc mà mỗi người thăng hóa theo làn sóng ấy thô thiển hay vi tế.
Trong thời đại khi phương tiện truyền thông tạo thành một mạng lưới liên kết để truyền đạt tư tưởng của mỗi người vào toàn thể mạng lưới vô cùng nhanh chóng, sức mạnh truyền lan của Nan Tư Quang càng cần thiết vô cùng. Thưa đức từ phụ, xin ngài truyền đạt tình thương vào võng lưới tâm thức này, để cả mạng lưới rũ bỏ tâm thức ích kỷ. Xin ngài rung động Nan Tư Quang vô ngã, để ai ai cũng thức tỉnh cơn mộng riêng tư nhỏ hẹp.
Khi trong lòng có gút thắt thì tâm sẽ đóng kín, tiếp nhận rất ít hoặc không tiếp nhận tình thương của đức từ phụ. Khi tâm có gút thắt ‘thành kiến, hiểu biết lệch lạc’, thì cũng như cây cỏ trong hang động sâu kín, không tiếp nhận được mưa rào tình thương. Khi tâm có gút thắt ‘thích phủ nhận, khép kín’ thì cũng như nhà đóng cửa kín mít, không sao để ánh sáng từ bi cảm thông của mặt trời chiếu vào. Khi tâm có gút thắt ‘kiêu ngạo cố chấp, khinh thường tất cả’ thì giống thính giả ngủ gật, không nghe được nhạc tình thương hài hòa đang diễn tấu. Tâm người có gút thì quá bận bịu rối rắm với gút thắt ấy, quên mở lòng để quang minh chư Phật bồ tát chiếu soi.
Con xin sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo đã khiến con tạo nên vô số gút thắt, đóng kín tâm mình và tâm tha nhân. Khi một gút thắt cởi ra thì một ánh quang minh loé hiện; càng nhiều gút thắt mở ra thì càng nhiều quang minh. Nếu nhiều mối quan hệ được cởi mở gút thắt thì mạng lưới nhiều quang minh hơn. Càng nhiều quang minh, tất nhiên càng nhiều hạnh phúc, nhiều phước lành tới với mọi người, với mạng lưới nhân duyên ấy.
Xin đức từ phụ khai mở trong chúng con Nan Tư Quang để chúng con làm nhịp cầu truyền đạt tình thương tới những ai ‘thắt gút thiếu tình thương’, truyền đạt lòng tha thứ tới người ‘thắt gút mặc cảm tội lỗi’, truyền đạt sự cảm thông tới kẻ thân thương ‘thắt gút mất mát, phiền muộn’. Xin đức từ phụ hướng dẫn chúng con trở thành những sứ giả của tình thương, để Nan Tư Quang truyền lan chuyển hóa mạng lưới nghiệp chướng này thành mạng lưới của quang minh vô lượng.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Nan Tư Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ có phát đại nguyện chuyển hóa cả mạng lưới nhân duyên thành mạng lưới quang minh, rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, chư thanh văn sẽ nhiều đến độ không thể tính đếm, cho dù tất cả chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới sau khi đã thành duyên giác để cùng nhau tính đếm trong trăm ngàn kiếp, cũng không sao biết được số lượng này.
Đây là đại nguyện rõ ràng nhất cho thấy đức từ phụ vì toàn thể mạng lưới nhân duyên của ngài mà tu hành, vì ngài muốn thành tựu tất cả, vô lượng vô số vô biên chúng sinh. Bởi vậy, con xin thành tâm sám hối cho tâm lượng hẹp hòi, cho thái độ chỉ biết tu riêng mình, thái độ khinh thường người phát tâm và có tín ngưỡng không giống mình, thái độ kiêu ngạo không nghĩ tới lợi ích người khổ, người kém may mắn hơn mình.
Hôm nay đại chúng trong đạo tràng này nguyện làm nhịp cầu để Nan Tư Quang lan tỏa quang minh trí huệ tới tất cả những ai trong mạng lưới nhân duyên.
Nguyện khi con thành Phật, từ mặt đất lên tới không trung, tất cả cung điện lầu các, hồ nước, cây cối, bông hoa, tất cả vạn vật đều do vô lượng báu vật với trăm ngàn hương thơm tạo thành. Mùi thơm kỳ diệu, vượt hẳn trời người, huân khắp vũ trụ, khiến chư bồ tát ngửi thấy mùi hương, liền tu hạnh Phật.
Đức từ phụ đã tạo ra thế giới An Lạc, là một đại phương tiện thiện xảo để chúng sinh có thể dễ dàng tu tập. Đức từ phụ lại biến tất cả hoàn cảnh sống thành phương tiện tăng trưởng bồ đề tâm. Đó là hạnh nguyện tối vĩ đại trong tất cả mọi hạnh nguyện. Ngày nay đại chúng hết lòng sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đã ngăn cản sự vãng sinh và nhận tri thế giới An Lạc. Chúng con thành tâm xin vì toàn thể mạng lưới nhân duyên trong thế giới này, sám hối thái độ và hành động phá hoại, làm tổn hại, làm ô nhiễm môi trường sống. Xin Nan Tư Quang an trụ trong tâm thức của toàn mạng lưới khiến ai ai cũng thức tỉnh biết trang nghiêm môi trường sống, biết làm đẹp hoàn cảnh sống.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Nan Tư Quang Như Lai (10 lạy)
11. Bất Đoạn Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ A Di Đà còn có hồng danh là Bất Đoạn Quang, nghĩa là quang minh chiếu sáng mãi mãi không hề gián đoạn. Trong cõi tuyệt đối, Phật tánh thì bất sinh bất diệt, nên quang minh của Phật tánh cũng bất sinh bất diệt. Trong cõi tương đối nhị nguyên, quang minh của Phật Tánh không hề gián đoạn chiếu tỏa. Quang minh không ngừng tỏa chiếu của đức từ phụ chính là bốn mươi tám đại nguyện.
Đối với phàm phu, phát nguyện là cách để con tiếp tục tu hành từ đời này sang đời khác, không gián đoạn. Đại nguyện ba la mật giúp con nhớ tìm về căn gốc tu hành kiếp trước, rồi tiếp tục phát triển thiện căn ấy trong đời này và đời sau. Đại nguyện ba la mật giúp con chuyển hóa con đường tạo nghiệp ra con đường tạo phước, bằng cách sống vì người, tu vì người, nhận quả báo khổ đau giùm người, chia sẻ phước đức cho người.
Khi con và mạng lưới nhân duyên chỉ là một, thì tất cả công đức con tu hành chính là vì hồi hướng toàn thể mạng lưới, chớ không phải riêng cá nhân con. Bởi thế con xin học tinh thần phát nguyện của đức từ phụ để tiếp tục tu hành không gián đoạn, không ngừng tạo phước cho mạng lưới nhân duyên. Xin nguyện tu hành cho đến khi toàn thể chúng sinh trong mạng lưới nhân duyên đều thành tựu đạo bồ tát. Xin nguyện đem tinh thần vị tha của đức từ phụ truyền lan tới khắp mạng lưới cho tới khi ai ai cũng giải thoát tự tại.
Nguyện nói ra như vậy thì dễ lắm, nhưng khi sống giữa trần gian đầy cám dỗ, bản thân đầy thói quen tật xấu và thành kiến, thì dù tâm có thành khẩn, cũng không sao nhớ mà làm. Nếu có nhớ nguyện, thì khi gặp thử thách, lại dễ dàng gãy đổ. Bởi thế con xin bắt đầu bằng những công hạnh dễ nhất: Đó là hạnh gần gũi thiện tri thức, cung kính cúng dường.
Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng:
“Khi gần gũi thiện tri thức, thì con mới có thể tinh tấn bất thối, rồi tu tập xuất sinh vô tận Phật pháp!” Thiện tri thức là bậc giúp con nuôi dưỡng tâm bồ đề và chí hướng tu hành. Nhờ thiện tri thức mà những nguyện con phát mới được ngài chỉ dạy tới thành tựu.
Chính đức từ phụ là một vị đại thiện tri thức!
Thưa đức từ phụ, thiện tri thức là đầu mối của tất cả mọi công hạnh, là lý do khiến những nguyện của con được duy trì từ đời này qua đời khác. Đức từ phụ là bậc đại thiện tri thức, hiện hữu để giúp chúng sinh tiếp tục con đường tu đạo bồ tát. Đối với tất cả những bậc thầy, những bậc dạy đạo, con cũng xin thành tâm phụng sự như phụng sự đức từ phụ.
Nhưng làm sao thân cận thiện tri thức? Đức Di Lặc chỉ dạy, rằng:
“Khi cầu học thiện tri thức, con không nên sinh lòng mệt mỏi. Thấy mặt thiện tri thức, con chớ sinh chán chường. Thỉnh vấn thiện tri thức, con chớ nên sợ cực nhọc. Một khi gần gũi thiện tri thức, con chớ tính chuyện rút lui. Khi cúng dường thiện tri thức, con không nên ngừng nghỉ. Khi thọ giáo thiện tri thức, con không nên đảo ngược, lộn lạo giáo pháp. Khi học những hạnh của thiện tri thức, con không nên nghi ngờ. Khi nghe thiện tri thức giảng thuyết pháp xuất ly, con không nên sinh tâm do dự. Khi thấy thiện tri thức tùy thuận việc phiền não, con cũng chớ trách móc. Đối với thiện tri thức, lúc nào con cũng nên sinh lòng tôn kính, một dạ không đổi thay.”
Con thành tâm sám hối những thói xấu khiến khó thân cận với thiện tri thức, đó là: thói kiêu ngạo, cho mình biết nhiều học rộng; thái độ thích tìm lỗi, thích phê phán giáo nghĩa, thích phê bình hạ nhục, thích làm mất mặt, không biết nhường nhịn; biết ít nhưng cho là đủ, không cầu tiến, biếng nhác, chê bai quảng bác đa văn; mê tín, chỉ tin vật dục; không biết nhẫn nại lắng nghe chân lý; háo tranh háo thắng; phủ nhận, áp đảo vô cớ. Muôn vàn thói xấu như thế, con xin thành tâm sám hối.
Xin đức từ phụ làm vị thiện tri thức chỉ đạo, hướng dẫn con, dù lúc thức hay lúc ngủ, để sự tu hành tiếp tục không còn nghi ngờ, thối lui.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Bất Đoạn Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật,
Tất cả bốn mươi tám lời nguyện của đức từ phụ là biểu hiện rõ rệt nhất của Đại Nguyện ba la mật. Mỗi nguyện là một tấm lòng vĩ đại đúc kết tạo thành. Mỗi nguyện là một vũ trụ của lòng đại từ đại bi vô lượng vô biên. Thí dụ như:
Nguyện khi con thành Phật, mười phương chúng sinh, nếu ai chí tâm tin tưởng ưa thích, muốn sinh về thế giới của con, chỉ cần trong mười niệm, đều được vãng sinh.
Đây là nguyện cực kỳ phương tiện, cũng vô cùng từ bi, bởi vì đức từ phụ đã dùng sức mạnh của nguyện lực để giúp chúng con vãng sinh về cõi An Lạc chỉ trong mười tiếng xưng niệm hồng danh. Con xin sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo đưa tới sự cản trở lòng tin vào những giây phút cuối cùng cuộc đời, làm con mất khả năng trì niệm hồng danh. Xin sức mạnh của nguyện lực đức từ phụ sẽ giữ con trong chánh niệm, trì giữ hồng danh A Di Đà Phật cho tới giây phút lâm chung.
Nguyện khi con thành Phật, mười phương chúng sinh, nếu ai phát bồ đề tâm, tu mọi công đức, muốn sinh về thế giới của con; con và đại chúng sẽ hiện ra trước mặt người ấy, vây quanh tiếp dẫn lúc y lâm chung.
Giây phút lâm chung là giây phút linh thiêng nhất của đời người. Điều quý nhất trong giây phút ấy, là con có thể nhẹ nhàng ra đi, và biết chắc chắn đường đi trước mặt. Hạnh phúc nhất là những người thân thương đều cảm thông chia tay. Xin đức từ phụ trong giây phút ấy tới với con như người cha thân thương nhất và thánh chúng bồ tát sẽ là gia đình gần gũi nhất để con hết lo sợ, tan hết mọi mối nghi, trong lòng chỉ có niềm vui, vì đúng là ‘về nhà’. Xin niềm vui ấy mạnh hơn lòng bịn rịn chưa muốn bỏ duyên nợ trần tục. Xin lòng thành mạnh hơn sự tán loạn mê mờ, do dự. Xin tình thương mãnh liệt trong giây phút hội ngộ với từ phụ, và tình yêu lơi tay với mạng lưới thân thương. Xin quang minh của đức từ phụ là thực tại duy nhất tồn tại trong tâm con.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, mười phương chúng sinh, ai nghe danh hiệu của con, mà hệ niệm vào thế giới của con, lại trồng căn lành, chí tâm hồi hướng; muốn sinh về thế giới của con, chắc chắn sẽ được toại nguyện.
Đây là đại nguyện đức từ phụ giúp cho tất cả chúng sinh mười phương đều có thể vãng sinh vào cõi An Lạc. Con xin thay tất cả những chúng sinh trong mạng lưới nhân duyên sám hối dùm họ tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo, để ai ai cũng có duyên với đức từ phụ và dễ dàng vãng sinh về cõi An Lạc.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Bất Đoạn Quang Như Lai (10 lạy)
12. Vô Xưng Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ A Di Đà còn có hồng danh là Vô Xưng Quang, nghĩa là quang minh thù thắng, mãnh liệt, kỳ diệu vượt ra ngoài mọi lời khen ngợi, tán thán. Kinh dạy rằng dù cho tất cả chư Thanh Văn, Duyên Giác, bồ tát cùng họp nhau lại rồi khen ngợi, trải qua vô số kiếp cũng không sao khen ngợi hết sự vi diệu thù thắng của quang minh.
Đức từ phụ đã thành tựu mười sức mạnh của trí huệ mà chỉ có nơi một vị diệu giác Như Lai, cho nên không lời tán dương nào có thể đủ để hình dung sự vĩ đại của ngài. Mười sức mạnh của trí huệ ấy là gì? Là trí huệ biết chuyện nào đúng chuyện nào sai; trí huệ biết nghiệp báo trong quá khứ, hiện tại, vị lai; trí huệ biết tất cả loại thiền định, tam muội, giải thoát; trí huệ biết căn cơ nào sâu, căn cơ nào cạn; trí huệ biết tất cả kiến giải, tri kiến; trí huệ biết tất cả sự việc trong thế giới, vũ trụ; trí huệ biết mỗi con đường tu hành sẽ dẫn tới đâu; trí huệ do thiên nhãn thấy vô ngại; trí huệ biết tất cả những việc đã làm trong kiếp quá khứ; trí huệ vĩnh viễn dứt hết tất cả phiền não, tập khí, chư lậu.
Nhưng sức mạnh vĩ đại nhất của đức từ phụ là ngài đã tạo ra một thế giới An Lạc cho tất cả chúng sinh tới tu hành. Ngài đã tạo ra một hoàn cảnh vô cùng thù thắng mà toàn thể mạng lưới nhân duyên, chúng sinh, thanh văn, duyên giác, bồ tát, ai ai cũng có thể an trụ và tu cho tới lúc thành đạo. Sức mạnh vô biên này thật không một lời khen nào có thể tán thán cho cùng tận.
Thưa đức từ phụ, khi hiểu được sức mạnh của trí huệ, sức mạnh của lòng vị tha, sức mạnh của tình thương, rằng ngài làm tất cả những công hạnh thù thắng chỉ để giúp chúng sinh thành tựu đạo nghiệp, con vô cùng hổ thẹn về tri kiến nhỏ hẹp của mình.
Giống như một người chăm chỉ quét dọn sạch sẽ nhà mình mà thôi, không hề biết làm sạch thành phố, giữ vệ sinh công cộng; tâm thức nhỏ hẹp cũng thế: thiếu cái nhìn toàn diện và thiếu liên kết sức mạnh tập thể.
Giống như hành giả siêng năng tu luyện, tự mình an lạc là đủ, không thích phục vụ và chia sẻ niềm vui với tha nhân; tâm thức hạn hẹp cũng thế: thiếu lòng cảm thông rộng sâu và thiếu đan dệt mạng lưới tình thương.
Bởi thế con thành khẩn sám hối cho tâm lượng ích kỷ chỉ biết tự lợi, không biết tạo điều kiện cho người khác tu hành, không biết ảnh hưởng tốt cho toàn mạng lưới nghiệp duyên. Không những thế, thấy việc tốt, con lười biếng không làm, chỉ muốn kẻ khác làm thay. Thấy quả tốt, con dành ngay, không muốn ai hưởng. Thấy người hơn thì đố kỵ, thấy kẻ kém thì khinh khi, không chân thật với bạn đồng tu, chỉ tính chuyện lợi dụng. Không lúc nào nghĩ tới việc thành tựu đại chúng, nhiều khi chỉ muốn chướng ngại, phá hoại thành công, lo thân mình trước, chẳng cần biết tới ai khác. Thật là ngược hoàn toàn với tinh thần hy sinh của đức từ phụ. Tất cả những thói xấu ấy, con thật hổ thẹn, xin thành tâm sám hối!
Xin đức từ phụ khơi dậy Vô Xưng Quang trong con tim nhỏ bé này, để con thức tỉnh điểm mù ích kỷ và nhận ra sức mạnh vô biên! Ngay đây xả thân, thì ngay đây là sức mạnh vô biên! Xin Vô Xưng Quang bừng hiện ngay đây, để toàn thể mạng lưới nghiệp chướng rung chuyển, tình thương rưới khắp, niềm vui tràn đầy.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Xưng Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Để giúp chúng sinh dễ dàng tu hành thành đạo, đức từ phụ có phát đại nguyện vĩ đại là kiến tạo một thế giới An Lạc, một nơi không có ba đường ác, rằng:
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con sẽ không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
Nguyện khi con thành Phật, trong thế giới của con, tất cả trời, người sau khi chết sẽ không bao giờ bị đọa vào ba đường ác.
Đây thuần túy là sức mạnh của Đại Lực ba la mật, do đức từ phụ đã bao kiếp tu hành thành tựu vô vàn công đức, vô vàn thần lực. Khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, con xin sám hối tất cả nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng, nghiệp báo của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Rằng sám hối những tập khí tạo ra ba đường ác, đó là: tâm địa độc ác, dữ dằn, phá hoại giới luật nhân quả, vi phạm ngũ nghịch, sống trong thập ác, cực kỳ vị ngã cố chấp, hận thù không nguôi, đố kỵ chướng ngại, tổn thương tâm tình, dối trá lường gạt, lạnh lùng vô cảm, vui thích giết chóc, giận lẫy, dâm loạn, nghiện ngập phá đời. Đủ mọi tật xấu vô lượng vô biên như thế! Tất cả những thói ấy, con thành khẩn sám hối để tâm con tương ưng với đại nguyện của từ phụ.
Đức từ phụ lại có nguyện rằng:
Nguyện khi con thành Phật, tất cả bồ tát ở mười phương vô lượng cõi Phật, nếu nghe danh hiệu của con, thì sau khi mệnh chung vẫn thường tu phạm hạnh, cho tới thành Phật.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở cõi nước khác nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, khi thọ mạng của họ hết rồi, họ sẽ được sinh vào nhà tôn quý.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở cõi nước khác nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, thì từ đó cho tới lúc thành Phật, các căn của các ngài sẽ không bao giờ bị khiếm khuyết.
Nguyện khi con thành Phật, tất cả trời người ở mười phương vô lượng vô số cõi Phật, nếu nghe danh hiệu của con mà gieo năm vóc xuống đảnh lễ, vui vẻ tin ưa, tu bồ tát hạnh thì sẽ được trời người trong trần thế ai ai cũng kính trọng.
Đây là những nguyện của Đại Lực ba la mật. Rằng khi đức từ phụ tạo ra vô lượng vô biên công đức phước báu, ngài dùng sức phước đức ấy để giúp chúng sinh thuận duyên tu hành: giúp chúng sinh tiếp tục con đường bồ tát, dưới hình thức tiếp tu phạm hạnh, hay dưới thân phận tôn quý, hay với hình hài tôn thắng, hay với địa vị tôn kính. Sức mạnh phước đức ấy được súc tích, gói ghém trong hồng danh A Di Đà Phật!
Hệt như đem cả biển cả súc tích thành một giọt nước; đem cả vũ trụ nhốt vào trong hạt bụi; đem cả nền văn minh nhân loại dấu trong một làn sóng; và như thế đức từ phụ đem vô biên phước đức, trí huệ gói trọn vào một câu A Di Đà Phật! Đến khi chúng con trì niệm hồng danh của ngài tức là triển khai bản thể nguyên lai vô biên vô hạn: mở giọt nước để biển cả ngập tràn; chẻ hạt bụi để vũ trụ hiển bày, rung làn sóng để văn minh toàn hiện, chỉ một lời A Di Đà Phật mà cõi An Lạc triển khai ngay đây! Đó chính là sức mạnh của Đại Lực ba la mật!
Xin Vô Xưng Quang luôn an trụ trong tâm khảm của mỗi người trong mạng lưới nhân duyên của chúng con để ai ai cuối cùng cũng tin tưởng mãnh liệt, triển khai vô lượng phước đức nơi hồng danh A Di Đà Phật.
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Vô Xưng Quang Như Lai (10 lạy)
13. Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai
Xưng tán hồng danh
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Đức từ phụ A Di Đà còn có hồng danh là Siêu Nhật Nguyệt Quang, nghĩa là quang minh thù thắng hơn cả ánh mặt trời và mặt trăng. Mặt trời là nguồn sáng rực rỡ. Mặt trăng là nguồn phản chiếu mạnh mẽ ánh sáng trong đêm tối. Quang minh của đức từ phụ là sự sáng suốt thông đạt, là trí huệ không có giới hạn và biên tế. Chính trí huệ này ví như nguồn sáng, sáng hơn tất cả nguồn sáng thông thường, kể cả ánh mặt trời và mặt trăng. Nếu cuộc sống phàm phu không thể thiếu nhật nguyệt, thì cuộc sống của bậc giác ngộ không thể thiếu quang minh, trí huệ và tình thương vô biên. Đức đại giác từ phụ thì không thể thiếu quang minh siêu việt nhật nguyệt được.
Thưa đức từ phụ, nhật nguyệt tượng trưng cho hai nguyên lý đối lập, hai trạng thái đối cực phôi thai nhất khi vô minh xuất hiện, cũng là lúc Chân Tâm Bất Nhị mất tánh tự tri. Đối với người tu, siêu việt lên hai đối cực này là giai đoạn tối hậu trước khi hội nhập với thể tánh Bất Nhị. Như thế, rõ ràng Siêu Nhật Nguyệt Quang là tối thù thắng, tối cứu cánh, không còn gì hơn nữa! Trí huệ siêu việt ấy cũng gọi là Đại Trí ba la mật, là trí huệ thấu triệt Pháp Giới của Phật bồ tát và vũ trụ của phàm phu, đồng thời chuyển hóa toàn thể mạng lưới nghiệp chướng của phàm phu thành mạng lưới quang minh.
Thưa đức từ phụ, con xin sám hối cho tâm thức còn quá trì trệ, quá chấp trước; mãi kẹt trong vô minh, không siêu việt được. Xin ngài cảm thông và hướng dẫn khiến con có khả năng nhận tri chỗ kẹt tối ban sơ, trực nhận điểm mù, nhìn thấu dính mắc.
Ngay trong giai đoạn căn bản nhất của tu hành, tức là giai đoạn dùng nhật nguyệt soi sáng đường tu, con đã quá nhiều vướng mắc.
Đáng lẽ phải theo mặt trời chân lý, con lại nghe theo dục vọng đen tối thôi thúc.
Đáng lẽ phải theo mặt trăng sáng suốt, con lại nuôi dưỡng điểm mù và bóng tối của cái ‘tôi’.
Đáng lẽ theo mặt trời tình thương lan tỏa sự ấm áp, con lại lạnh lẽo, chẳng biết quan hoài, chiếu cố người thân.
Đáng lẽ phải nhìn mặt trăng trí huệ chiếu thấu tánh tình tự cao tự đại, con lại ngoan cố bảo vệ cái ‘mặt’ tới cùng.
Đáng lẽ phải vượt thoát, chúng con lại chìm lỉm.
Đáng lẽ phải hy sinh cho toàn mạng lưới, con chỉ biết hết sức cầu tự lợi!
Ngày nay, con thành tâm sám hối những nghiệp nhân, nghiệp duyên, nghiệp chướng và nghiệp báo của một tâm thức đầy vướng mắc, đầy ích kỷ vị ngã. Xin Quang Minh Siêu Nhật Nguyệt ngay đây hiển lộ, chiếu soi và nhấc bổng con ra khỏi vũng bùn tự ngã!
Xin đức từ phụ rủ lòng từ bi, khơi dậy trong con Siêu Nhật Nguyệt Quang, để Pháp Giới hiển bày, để mười phương hải hội chư Phật đồng thời hiện thân, chư bồ tát vân tập. Xin Siêu Nhật Nguyệt Quang trỗi dậy để con mắt phàm này trở nên thanh tịnh, thấy suốt vô biên thế giới Hoa Tạng, rõ thấy ngọn ngành vô biên nhân quả tu hành!
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai (10 lạy)
Xưng tán Đại Nguyện
Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật,
Đức từ phụ có những đại nguyện vô cùng vĩ đại mà không lời lẽ nào đủ sức hình dung tầm vóc và sức mạnh của đại nguyện được. Những đại nguyện ấy là:
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở cõi nước khác, nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, các ngài sẽ mau đắc Thanh Tịnh Giải Thoát Tam Muội; trụ vào tam muội này rồi thì trong khoảnh khắc, các ngài có thể cúng dường vô lượng vô biên chư Phật Thế Tôn, mà không mất định.
Nguyện khi con thành Phật, tất cả chúng sinh ở vô lượng vô số cõi nước Phật khắp mười phương, hễ ai nghe đến danh hiệu của con, người ấy sẽ đắc Vô Sinh Pháp Nhẫn, các môn Tổng Trì thâm sâu của bồ tát.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở các thế giới khác sinh vào thế giới của con thì cứu cánh sẽ tới được quả vị Nhất Sinh Bổ Xứ, ngoại trừ họ có nguyện riêng muốn tự tại đi hóa độ. Vì độ chúng sinh nên bồ tát phát nguyện rộng lớn, tích lũy công đức, độ thoát tất cả. Chư vị bồ tát sẽ tới được mọi cõi Phật, tu hạnh bồ tát, cúng dường mười phương Như Lai, khai hóa vô lượng chúng sinh, khiến họ đứng vững nơi đạo chân, chính, tối cao vô thượng, vượt thoát bánh xe vô thường. Các ngài sẽ tu thành các công hạnh của Thập Địa và đức hạnh của ngài Phổ Hiền.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát trong cõi nước khác, nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, sẽ đắc thành địa vị bất thối chuyển.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát ở cõi nước khác, nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, sẽ mau chứng đắc Phổ Đẳng Tam Muội; trụ tam muội này cho tới khi thành Phật, các ngài sẽ thường gặp vô lượng vô số chư Phật.
Nguyện khi con thành Phật, chư vị bồ tát trong cõi nước khác, nếu chỉ nghe danh hiệu của con thôi, sẽ đắc Đệ Nhất Nhẫn, Đệ Nhị Nhẫn, Đệ Tam Pháp Nhẫn và đắc vị Bất Thối Chuyển đối với Phật Pháp.
Dùng sức mạnh của hồng danh, đức từ phụ khiến hải hội bồ tát đều chứng những quả vị tối cao tối thắng, bất khả tư nghì! Đây là những đại nguyện giúp hải hội bồ tát thành tựu cứu cánh ‘đạo Phổ Hiền’. Đạo Phổ Hiền tức là con đường tu hành như đức bồ tát Phổ Hiền, người cha của tất cả hạnh bồ tát. Con đường tu hành đó đã tới chỗ tột đỉnh, cứu cánh viên mãn nhất; cũng là con đường tu hành bất tận, không hề gián đoạn, không hề mệt mỏi. Với đạo Phổ Hiền thì sứ mạng của hải hội bồ tát là chuyển hóa toàn thể mạng lưới nghiệp chướng của chúng sinh thành mạng lưới quang minh giải thoát. Tu hành không còn là việc của cá thể, mà là cả mạng lưới cùng tu!
Thưa đức từ phụ, không có niềm vui nào sâu hơn niềm vui phát giác ra sức mạnh phước đức lực vô biên trong hồng danh của từ phụ! Bây giờ, không có niềm tin nào mạnh hơn niềm tin vào hồng danh từ phụ! Vĩnh viễn, không có tu hành nào mãnh liệt hơn tu hành triển khai Siêu Nhật Nguyệt Quang!
Với lòng thành sâu đậm, con xin ngừng mọi truy cầu và sợ hãi, thiết tha tin tưởng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai (10 lạy)

Xuất Sám

Cúi lạy đấng đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.
Cảm thông về ý nghĩa của hồng danh
Thưa đức từ phụ, hồng danh của đức từ phụ có vô lượng oai lực, giải trừ vô lượng nghiệp chướng, thành tựu vô lượng thiền định tam muội, phước đức.
Ý nghĩa của hồng danh đức từ phụ thì sâu thẳm, vô lượng vô biên nghĩa lý.
Ngày nay chúng con đem hết lòng thành, với chút hiểu biết hạn hẹp về ý nghĩa hồng danh, cùng nhau xướng tụng, lễ lạy với hy vọng bày tỏ niềm tin vào sức mạnh hồng danh, vào sức mạnh của sự trì niệm. Rằng Vô Lượng Thọ là thọ mạng vô lượng của Phật tánh, cũng là thọ mạng chân thật mà chúng con phàm phu cần giác ngộ và sống với, không phải là thọ mạng của thân xác hữu lượng này.
Trong vũ trụ tâm linh siêu việt gọi là Pháp Giới, bản chất của Vô Lượng Quang là tánh khai mở của Chân Tâm Bất Nhị. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Vô Lượng Quang là sự khai mở của tất cả tâm thái vô hạn lượng. Phương pháp tu khai mở trí huệ ấy trong mạng lưới nhân duyên gọi là khai mở Thí ba la mật.
Trong Pháp Giới, Vô Biên Quang là tánh sáng không biên cương. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Vô Biên Quang là trí huệ không kẹt trong mọi rào cản. Phương pháp tu khiến trí huệ vượt thoát gọi là triển hiện Thí ba la mật.
Trong Pháp Giới, Vô Ngại Quang là tánh tự tại tuyệt đối. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Vô Ngại Quang là trí huệ xuyên suốt mọi hiện tượng. Phương pháp tu để trí huệ vô ngại gọi là cứu cánh Thí ba la mật.
Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang và Vô Ngại Quang là ba đặc tính giúp chúng con khai mở đời sống chân thật, tạo thành bản thể Vô Lượng Thọ. Bản thể này tức là Thí ba la mật với ba khía cạnh là khai mở, triển hiện, và cứu cánh.
Trong Pháp Giới, Vô Đối Quang ví như ‘hạt giống’ của Chân Tâm, là quang minh siêu việt nhị nguyên tánh. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Vô Đối Quang là lòng đại từ vô hạn. Phương pháp tu để mở trí huệ siêu việt là Giới ba la mật.
Trong Pháp Giới, Diệm Vương Quang ví như ‘thể chất’ của Chân Tâm, là quang minh Chân Tâm sáng rực, chiếu đốt mọi mầm mống nhị nguyên. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Diệm Vương Quang là lòng đại bi vô biên, là tình thương vô điều kiện. Phương pháp tu để triển khai lòng thương, trí huệ lửa sáng đốt cháy mọi ảo ảnh, mọi tập khí duy trì sinh tử gọi là Nhẫn ba la mật.
Trong Pháp Giới, Thanh Tịnh Quang ví như ‘hình hài’ của Chân Tâm, tức vẻ đẹp bản hữu của Chân Tâm. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Thanh Tịnh Quang là đại xả, là năng lực buông xả mọi thứ dính kẹt, không đẹp. Phương pháp tu triển khai Thanh Tịnh Quang là Tấn ba la mật.
Trong Pháp Giới, Hoan Hỉ Quang ví như ‘con tim’ của Chân Tâm, tức tâm lý bản hữu của Chân Tâm. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Hoan Hỉ Quang là đại hỉ, niềm vui từ Chân Tâm. Phương pháp tu triển khai Hoan Hỉ Quang là Thiền ba la mật. Trong Pháp Giới, Trí Huệ Quang ví như ‘óc não’ của Chân Tâm, tức trí huệ siêu việt tự tri Chân Tâm. Trong thế giới của mạng lưới nhân duyên, Trí Huệ Quang là trí huệ thấu suốt nhân quả, nhân ngã, thị phi. Phương pháp phát triển Trí Huệ Quang gọi là Bát Nhã ba la mật.
Như thế, Vô Đối Quang, Diệm Vương Quang, Thạnh Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Trí Huệ Quang tạo thành tướng trạng của Vô Lượng Thọ vậy.
Trong Pháp Giới, Nan Tư Quang là mạng lưới quang minh của chư Phật, bồ tát. Trong thế giới nhị nguyên, Nan Tư Quang là sự đan kết của mạng lưới ấy. Phương pháp đan kết gọi là Phương Tiện ba la mật.
Trong Pháp Giới, Bất Đoạn Quang là nhân tố kết thành mạng lưới quang minh. Trong thế giới nhị nguyên, Bất Đoạn Quang là nguyện lực vô biên để đan kết mạng lưới quang minh. Phương pháp phát triển Bất Đoạn Quang chính là Đại Nguyện ba la mật.
Trong Pháp Giới, Vô Xưng Quang là sự hiển hiện vô ngại của mạng lưới quang minh. Trong thế giới nhị nguyên, Vô Xưng Quang là sự vận hành sức mạnh tự tại của mạng lưới quang minh. Phương pháp phát triển sự tự tại ấy chính là Đại Lực ba la mật.
Trong Pháp Giới, Siêu Nhật Nguyệt Quang là toàn thể Pháp Giới, toàn thể mạng lưới quang minh. Trong vũ trụ nhị nguyên, Siêu Nhật Nguyệt Quang là sự chuyển hóa toàn thể mạng lưới nghiệp chướng thành mạng lưới quang minh. Phương pháp chuyển hóa ấy chính là Đại Trí ba la mật.
Nan Tư Quang, Bất Đoạn Quang, Vô Xưng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang tạo thành mạng lưới quang minh trùng trùng bất tận, chính là tác dụng của Vô Lượng Thọ.
Với sự hiểu biết thô thiển như vậy, chúng con thành tâm tán thán, trì tụng hồng danh, thiết tha sám hối, đảnh lễ từ phụ!
Nam mô A Di Đà Như Lai (10 lạy)
Phát nguyện tu tập
Thưa đức từ phụ, khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, chúng con trong đạo tràng này sẽ học theo mười hạnh ba la mật mà danh hiệu của từ phụ biểu hiện: thực hành bố thí cúng dường, trì giới nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, bát nhã, tu tập phương tiện giúp tha nhân tu, phát nguyện, gần gũi thiện tri thức, hy sinh cho đại chúng cho cộng đồng, hồi hướng cho toàn thể mạng lưới nhân duyên.
Khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, chúng con trong đạo tràng này sẽ học tinh thần từ bi hỉ xả, rằng: Tu hạnh dễ thương, quan hoài, nhường nhịn, không để lòng. Tu hạnh đại bi, mở tâm thương mến, tha thứ cho kẻ hại mình, xoa dịu người giận lẫy, làm lành với người chất chứa oán hận. Tu hạnh đại hỉ, an ủi người buồn đau, cảm thông lòng sầu muộn, xoa dịu nỗi mất mát. Tu hạnh đại xả, hy sinh cho đạo pháp, xả mình, trợ giúp vật chất, hiến dâng tinh thần.
Khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, chúng con trong đạo tràng này sẽ học cách phát huy tinh hoa của hồng danh: đem tới sự sáng suốt; đem tới niềm vui và ấm áp; lan tỏa tình thương, tập tha thứ, bao dung; tập cải thiện, hết mình giúp người.
Khi chưa vãng sinh về cõi An Lạc, chúng con trong đạo tràng này nguyện thay đổi cái nhìn về mình, rằng thay vì nghĩ ‘con’ là bản ngã phàm tục, thì ‘Con’ có nghĩa là Chân Tâm Bất Nhị. Khi con đồng hóa ‘Con’ với Chân Tâm thì không thể có kiêu ngạo, tự cao mà chỉ có tình thương, lòng khiêm nhường, ưu ái, quan hoài. Khi ‘con’ đồng hóa với một bản ngã có tên có tuổi, có địa vị, thì không biết bao thị phi nhân ngã và nghiệp chướng sản sinh. Như thế:
‘Con là thọ mạng vô lượng’ chứ không phải thọ mạng hữu hạn của thân xác phù du này. Thọ mạng vô lượng ấy là Chân Tâm bất sinh bất diệt.
‘Con là sự khai mở không hạn lượng’.
‘Con là quang minh không biên giới’.
‘Con là trí huệ vô ngại’.
‘Con là lòng đại từ vô hạn’.
‘Con là tình thương vô biên’
‘Con là sự thanh tịnh bất nhị’.
‘Con là niềm vui bản hữu’.
‘Con là Chân Tâm Bất Nhị’.
‘Con là võng lưới quang minh’.
‘Con là Pháp Giới’.
Như tất cả chư đại bồ tát ở mười phương đều nguyện vãng sinh về cõi Phật để tiếp tục trang nghiêm và phát triển đạo bồ tát ở đó, hôm nay đại chúng trong đạo tràng này cũng xin lập nguyện vãng sinh về cõi An Lạc của đức từ phụ để tiếp tục tu hành đạo bồ tát, tiếp tục hóa độ chúng sinh có duyên với chúng con. Với lòng thành khẩn lập nguyện như thế, chúng con cúi đầu đảnh lễ từ phụ!
Nam mô A Di Đà Như Lai (10 lạy)
Cứu cánh là phát triển tâm bồ đề
Thưa đức từ phụ, trì niệm hồng danh, đồng thời khai mở tâm lượng để nhận biết, nuôi dưỡng, và phát triển quang minh sẵn có chính là phát triển bồ đề tâm. Vì sao? Vì bồ đề tâm là tâm thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh, cũng tức là xu hướng của quang minh: không ngừng tiến hóa, hướng thượng tới giác ngộ; và không ngừng phục vụ, chia sẻ, đem lại an lạc và giải thoát tới chúng sinh. Như thế không ngừng phát triển đặc tính của quang minh: vô lượng, vô biên, vô ngại, vô đối, diệm vương, thanh tịnh, hoan hỉ, trí huệ, nan tư, bất đoạn, vô xưng, siêu nhật nguyệt chính là con đường thành tựu bồ đề tâm vậy!
Thưa đức từ phụ, chỉ có một thực tại duy nhất: đó là quang minh tự tánh, bất sinh bất diệt. Tất cả những kinh nghiệm sống, từ đau khổ tới an lạc, từ buồn vui tới giải thoát, tất cả kinh nghiệm ấy chỉ là ảo mộng của bản ngã. Trong cơn mộng mị ấy, ác mộng hay hảo mộng, mộng thành công hay mộng thất bại, đều chỉ là ảo mộng. Tỉnh mộng tức là nhận ra tự tánh không mộng mị, tức là nhận ra quang minh bản hữu.
Nhưng sứ mạng đầy ý nghĩa nhất của chúng con không phải chỉ lo cho mình tỉnh mộng, mà chính là chuyển hóa mạng lưới nghiệp chướng thành mạng lưới quang minh. Tức là khai mở tự tánh quang minh trong mỗi người ở toàn thể mạng lưới nhân duyên, để chẳng ai tìm an lạc trong cơn mê ngủ, ngừng cầu hảo mộng trong đêm dài đăng đẳng.
Với suy tư đó, cúi xin đức từ phụ phóng quang gia bị, khiến tự lực tha lực phối hợp viên mãn; tâm Phật một niệm chuyển hóa tâm phàm, quang minh sát na chiếu tan vô minh. Cứu cánh Pháp Giới hiển hiện ngay trong hạt bụi; giải thoát tự tại tới ngay trong ảo mộng Ngũ Ấm!
Nam mô A Di Đà Như Lai (10 lạy)
Hồi hướng công đức
Hôm nay đại chúng trong đạo tràng này đã cùng nhau thành tâm xướng tụng hồng danh, lễ lạy hồng danh, học hỏi về ý nghĩa hồng danh, phát khởi tâm ý tu theo hồng danh, và cuối cùng phát nguyện vãng sinh cõi An Lạc. Như thế công đức sám pháp đã viên mãn!
Thưa đức từ phụ, xin ngài từ bi tiếp tục hướng dẫn đại chúng cho tới khi tất cả đều thành đạo quả nơi cõi An Lạc. Rằng xin ngài thành tựu cho những ai tu bồ tát hạnh, trưởng dưỡng tâm bồ đề những ai mới phát tâm. Xin những ai đang ở trong bóng tối, sẽ ra khỏi bóng tối. Những ai bị trĩu nặng bởi nghiệp chướng, thì nghiệp chướng hóa tan. Những ai đang lâm bịnh nặng, sẽ lành bịnh. Những ai tâm có gút thắt, gút thắt giải mở hoàn toàn. Những ai lạc lối, trở về chính đạo. Những ai thiếu vắng tình thương, tràn đầy quan hoài ấm áp. Những ai nghèo khó, đói khổ, được ấm no, hạnh phúc. Những ai quay cuồng trong mê loạn, thức tỉnh nguồn tâm. Những ai mất mát, tìm thấy an vui trong xả mình, cho ra. Những ai thiếu may mắn, may mắn tụ về. Những ai trong giây phút lâm chung, được thấy từ phụ và thánh chúng hiện thân tiếp dẫn.
Thưa đức từ phụ, với những người mong ước được vãng sinh vào cõi An Lạc, xin đức từ phụ từ bi gia trì, khiến họ đều được ‘dự tri thời chí’, tâm hết sợ hãi, lòng vững niềm tin, biết rõ cuộc sống sẽ chuyển hướng, sẵn sàng buông xả trần duyên, an nhiên tự tại trong phút lâm chung.
Xin hồi hướng công đức lễ sám về tất cả thiên long bát bộ, chư hộ pháp thần tôn trong đạo tràng này, cũng như tất cả chúng sinh vô hình, các vong linh bất đắc kỳ tử, các hương linh hữu duyên, tất cả những vị đã hiện diện trong đạo tràng sám pháp này; nguyện tất cả đều khai mở hào quang tự tánh, tiêu trừ nghiệp chướng, cởi mở gút thắt cột trói trong sinh tử luân hồi, tăng trưởng lòng tha thứ và tình thương, phát tâm bồ đề, tu bồ tát hạnh, cứu cánh giải thoát tự tại.
Với nguyện vọng và hồi hướng như vậy, sám pháp kết thúc viên mãn.
Với lòng thành sâu đậm, với lòng thiết tha tu tập, tiếp tục hành đạo, chúng con toàn thể đạo tràng, cúi đầu đảnh lễ từ phụ.
Nam mô A Di Đà Như Lai Nam mô Vô Lượng Quang Như Lai Nam mô Vô Biên Quang Như Lai Nam mô Vô Ngại Quang Như Lai Nam mô Vô Đối Quang Như Lai Nam mô Diệm Vương Quang Như Lai Nam mô Thanh Tịnh Quang Như Lai Nam mô Hoan Hỉ Quang Như Lai Nam mô Trí Huệ Quang Như Lai Nam mô Nan Tư Quang Như Lai Nam mô Bất Đoạn Quang Như Lai Nam mô Vô Xưng Quang Như Lai Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*