[T1484] Phạm Võng Kinh

KINH PHẠM VÕNG

(PHẬT LÔ XÁ NA THUYẾT)
Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập, người nước Quy Tư đời Hậu Tần
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

QUYỂN THƯỢNG

Phẩm 10: GIỚI TÂM ĐỊA CỦA BỒ TÁT

Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong bậc Thiền thứ tư, tại cung của Thiên vương Ma Hê Thủ La, cùng với vô lượng Đại Phạm thiên và chúng Bồ-tát không thể tính kể, không thể nêu bày, nói về phẩm Pháp môn Tâm địa mà đức Phật Lô Xá Na ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng đã nói.. Khi ấy, thân của Đức Phật Thích Ca phóng ra ánh sáng trí tuệ, chiếu từ cung của Thiên vương cho đến thế giới Liên Hoa Đài Tạng. Tất cả chúng sanh trong các thế giới ấy thảy đều nhìn thấy, đều vui mừng, thích thú nhưng không thể biết ánh sáng này do nhân gì, duyên gì, nên đều sanh tâm nghi ngờ. Vô lượng hàng trời, người cũng sanh tâm nghi ngờ.

Lúc này, trong chúng có Bồ-tát Huyền Thông Hoa Quang Vương, từ Tam muội Đại Trang Nghiêm Hoa Quang Minh đứng dậy, do thần lực của Phật, phóng ra ánh sáng sắc kim cang bạch vân, chiếu soi tới tất cả thế giới, trong đó hết thảy các Bồ-tát đều đến tập họp, cùng nhau thưa hỏi:

– Ánh sáng rực rỡ này là điềm tướng gì?

Khi đó, Đức Phật Thích Ca liền nâng đưa đại chúng của thế giới này mau chóng đến thế giới Liên Hoa Đài Tạng, trong các cung điện có trăm vạn ức ánh sáng kim cang đỏ tía, thấy đức Phật Lô-xá-na an tọa trên tòa hoa sen trăm vạn cánh, ánh sáng hết sức rực rỡ. Bấy giờ, Đức Phật Thích Ca và đại chúng cùng lúc cung kính đảnh lễ dưới chân đức Phật Lô-xá-na. Đức Phật Thích Ca nói:

– Trong thế giới này, tất cả chúng sanh nơi đại địa và hư không do nhân gì, duyên gì, đã thành tựu đạo mười địa của Bồ-tát, sẽ thành tựu quả vị Phật. Đó là những tướng gì? Như trong phẩm Bản Nguyên Phật Tánh đã hỏi rộng về hạt giống của tất cả Bồ-tát.

Đức Phật Lô-xá-na rất hoan hỷ, hiện ra ánh sáng nơi hư không là bản nguyên của Thể tánh thành tựu Tam muội của Pháp thân Phật thường trú, dạy cho đại chúng:

– Này các Phật tử! Hãy lắng nghe kỹ, khéo tư duy để tu tập. Ta đã trải qua hàng trăm A tăng kỳ kiếp tu tập tâm địa, lấy đó làm nhân đầu tiên xả bỏ hàng phàm phu thành tựu Đẳng Chánh Giác, hiệu là Lô-xána, an trú trong biển thế giới Liên Hoa Đài Tạng. Đài đó hiện bày khắp có ngàn cánh, mỗi cánh là một thế giới thành ngàn thế giới. Ta đã biến hóa thành một ngàn Đức Thích Ca an trú nơi một ngàn thế giới. Sau cứ một thế giơi của mỗi cánh hoa lại có trăm ức núi Tu Di, trăm ức mặt trời, mặt trăng, trăm ức bốn cõi thiên hạ, trăm ức châu Nam-diêm-phùđề, trăm ức Bồ-tát Thích Ca an tọa nơi trăm ức cây Bồ đề, đều nói về Tâm địa của Bồ-tát giống như các ông đã hỏi. Chín trăm chín mươi chín Đức Thích Ca còn lại, mỗi mỗi vị đều hiện ra ngàn trăm ức Thích Ca cũng lại như vậy. Những đức Phật ở trên ngàn cánh hoa do Ta hóa thân, ngàn trăm ức Đức Thích Ca là ngàn Đức Thích Ca hóa thân, Ta đã hoàn thành bản nguyên nên gọi là “Phật Lô-xá-na”.

Bấy giờ, đức Phật Lô-xá-na ngự trên tòa Liên Hoa Đài Tạng, giải đáp rộng cho một ngàn Đức Thích Ca, ngàn trăm ức Thích Ca đã hỏi về phẩm Pháp Tâm địa.

– Các đức Phật nên biết! Trong tính nhẫn kiên cố gồm mười Tâm phát thú hướng đến quả: Một là tâm Xả, hai là tâm Giới, ba là tâm Nhẫn, bốn là tâm Tấn, năm là tâm Định, sáu là tâm Tuệ, bảy là tâm Nguyện, tám là tâm Hộ, chín là tâm Hỷ, mười là tâm Đảnh.

Chư Phật nên biết! Từ mười tâm Phát thú này (Tâm phát khởi hướng nhập Đại thừa) đi vào mười tâm trưởng dưỡng hướng đến quả trong Pháp nhẫn kiên cố gồm: Một là tâm Từ, hai là tâm Bi, ba là tâm Hỷ, bốn là tâm Xả, năm là tâm Thí, sáu là tâm Phát ra lời nói tốt, bảy là tâm Lợi ích, tám là tâm Đồng, chín là tâm Định, mười là tâm Tuệ.

Chư Phật nên biết! Từ mười tâm trưởng dưỡng này lại đi vào mười tâm Kim cang hướng tới quả trong tu nhẫn kiên cố gồm: Một là tâm Tín, hai là tâm Niệm, ba là tâm Hồi hướng, bốn là tâm Chứng đắc, năm là tâm Ngay thẳng (trực), sáu là tâm Không thối chuyển, bảy là tâm Đại thừa, tám là tâm Vô tướng, chín là tâm Tuệ, mười là tâm Không hoại.

Chư Phật nên biết! Từ mười tâm Kim cang nầy đi vào mười địa hướng tới qua trong Thánh nhân kiên cố: Một là Địa thể tánh bình đẳng, hai là Địa thể tánh thiện tuệ, ba là Địa thể tánh quang minh, bốn là Địa thể tánh nhĩ diệm, năm là Địa thể tánh tuệ chiếu, sáu là Địa thể tánh hoa quang, bảy là Địa thể tánh mãn túc, tám là Địa thể tánh Phật hống, chín là Địa thể tánh hoa nghiêm, mười là Địa thể tánh nhập Phật giới. Bốn mươi phẩm pháp môn này là cội nguồn của Ta khi còn làm Bồ tát tu tập bước vào quả vị Phật. Như vậy, tất cả chúng sanh nhập vào mười phát thú, mười trưởng dưỡng, mười Kim cang, mười địa sẽ thành tựu quả vị lớn, an trú viên mãn trong pháp vô vi, vô tướng, mười lực, mười tám pháp bất cộng, pháp thân, trí thân đều đầy đủ.

Lúc này, đức Phật Lô-xá-na ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng, với ánh sáng rực rỡ nơi tòa ngồi tỏa chiếu đến chỗ các đức Phật trên ngàn cánh hoa, đến trăm ngàn ức Phật nơi tất cả thế giới của chư Phật. Trong các tòa đó, có Bồ-tát tên Hoa Quang Vương Đại Trí Minh từ chỗ ngồi đứng dậy, thưa đức Phật Lô-xá-na:

– Bạch đức Thế Tôn! Ngài đã lược nêu về danh tướng của mười Phát thú, mười Trưởng dưỡng, mười Kim cang và mười Địa, nhưng ở mỗi mỗi nghĩa con chưa thể hiểu rõ, nguyện xin Ngài giảng thuyết cho con về pháp môn Nhất thiết trí của Tạng báu Kim cang hết mực vi diệu mà Như Lai đã giảng thuyết trong phẩm Bách quán.

Đức Phật Lô-xá-na bảo:

– Ngàn đức Phật lắng nghe! Trước ông đã hỏi về nghĩa Phát thú là thế nào?

Này Phật tử! Tâm Xả là xả bỏ tất cả. Cõi nước, thành ấp, ruộng vườn, nhà cửa, vàng bạc, ngọc quý, nam, nữ, thân mình, tất cả những vật hữu vi, xả bỏ cả vô vi, vô tướng,vì biết ngã, nhân là do giả hợp mà thành, vị chủ tạo tác là ngã kiến, do mười hai nhân duyên, không hợp, không tan, không thọ nhận, mười hai nhập, mười tám giới, năm ấm, tất cả là mộtt, tướng hợp là tướng vô ngã, vô ngã sở, chỉ do giả hợp mà thành các pháp. Tất cả các pháp bên trong và bên ngoài đều không xả bỏ, cũng không thọ nhận, khi ấy, Bồ-tát quán các pháp hiện tiền là giả hợp nên Tâm xả đi vào tam muội Không.

Này Phật tử! Tâm Giới là chẳng phải phi giới, không có người thọ, không có thầy nêu giảng về mười giới thiện. Không có người tu tập từ lừa dối trộm cắp cho đến tà kiến. Hiền lành, trong sạch, ngay thẳng đúng thật, chánh kiến, xả, hỷ… là thể tánh của mười giới; ngăn ngừa tám đảo, xa lìa tất cả tánh, một đạo thanh tịnh.

Này Phật tử! Tâm Nhẫn là thể tánh của trí tuệ hữu tướng ,vô tướng, tất cả không không nhẫn, tất cả xứ nhẫn, gọi là vô sanh hành nhẫn, chứng đắc tất cả xứ gọi là như khổ nhẫn, vô lượng hạnh mỗi mỗi pháp đều gọi là nhẫn. Không có thọ nhận, không có đánh đập, không có đao gậy, không có giận dữ, tâm đều như như, không mỗi một đế là một tướng, không có vô tướng mà có vô tướng, hữu tướng chẳng phải phi tâm tướng, duyên vô duyên tướng. Đi, đứng, nằm, ngồi, ngã, nhân, trói, mở tất cả đều là pháp như, tướng nhẫn không thể thủ đắc.

Này Phật tử! Tâm Tấn là trong mọi lúc thực hành bốn oai nghi đều điều phục là không, giả hợp thành pháp tánh. Ví như leo lên núi vô sanh, thấy được tất cả có, không, như có, như không. Đại địa xanh, vàng, đỏ, trắng, tất cả nhập cho đến tánh trí Tam bảo, tất cả Tín, Tấn, Đạo, là Không, Vô sanh, Vô tác, Vô tuệ, khởi Không, nhập vào pháp thế đế, cũng không có hai tướng, tương tục, tâm không, thông tỏ thêm phần thiện căn.

Này Phật tử! Tâm Định là vắng lặng, không tướng. Không tướng nơi người, bấy giờ đi vào nội không. Tâm hợp đạo nơi chúng sanh, không đạo duyên thì chẳng thấy vô tướng, vô lượng hành, vô lượng tâm tam muội. Phàm phu, Thánh nhân đều nhập vào tam muội, thể tánh tương ưng tất cả, nhờ vào năng lực của định nên ngã, nhân, tác giả, thọ giả, tất cả kiến tánh trói buộc là nhân duyên chướng ngại, gió phân tán làm tâm loạn động, không vắng lặng mà vắng lặng hoàn toàn, tám điên đảo không có duyên. Nhờ trí tuệ tĩnh lặng quán soi mà tất cả niệm niệm giả hợp đều dứt trừ, thọ nhận tất cả tội tánh, quả báo trong ba cõi, đều do định vắng lặng, mà sanh tất cả thiện.

Này Phật tử! Tâm Tuệ là tuệ Không, chẳng phải là không duyên. biết rõ thể, danh tâm; phân biệt các pháp giả gọi là chủ thể, cùng chung với Đạo. Lấy quả hành nhân, nhập Thánh, bỏ phàm, diệt hết các tội, sanh khởi phước đức; trói buộc, cỡi mở tất cả là công dụng của thể tánh. Vì không thấy rõ tánh Thường, lạc, ngã, tịnh, phiền não, trí tuệ nên dùng trí tuệ làm đầu, tu quán tuệ không thể kể, nhập vào nhất đế Trung đạo, do vô minh làm chướng ngại trí tuệ, chẳng phải tướng, chẳng phải đến, chẳng phải duyên, chẳng phải tội, chẳng phải tám điên đảo, không sanh diệt, ánh sáng của ngọn đuốc trí tuệ chiếu đến nơi an lạc, phương tiện chuyển hóa thần thông nhờ thể tánh của trí mà làm công dụng của Tuệ

Này Phật tử! Tâm Nguyện là mong cầu lớn, mong cầu tất cả. Vì lấy quả hành nhân, nên tâm Nguyện này liên tục tiếp nối hàng trăm kiếp được thành Phật, diệt các tội, nhất tâm mong cầu đạt đến không vô sanh. Nguyện quán nhập vào định chiếu soi, vô lượng sự trói buộc nhờ tâm mong cầu mà được giải thoát. Vô lượng hành vi diệu nhờ tâm mong cầu mà thành tựu. Vô lượng công đức Bồ đề lấy tâm mong cầu làm căn bản. Từ sự phát tâm cho đến khoảng giữa tu đạo, vì thực hành đầy đủ hạnh nguyện nên thành tựu quả Phật. Quán một đế Trung đạo chẳng phải chiếu soi, chẳng phải cảnh giới, chẳng phải chìm đắm mà sanh khởi các kiến trí tuệ chẳng phải giải thích. Đó là thể tánh của Nguyện là căn bản của các hành.

Này Phật tử! Tâm Hộ là hộ trì Tam bảo, giữ gìn công đức của tất cả hành khiến cho ngoại đạo, tám Đảo, tà kiến ác không nhiễu loạn đến lòng tin chân chánh, diệt trừ trói buộc của ngã, trói buộc của kiến không sanh, thấu rõ hai đế quán tâm hiện tại. Nhờ hộ trì căn bản là hộ trì vô tướng để giữ gìn không, vô tác, vô tướng, nhờ tâm tuệ liên tục đi vào vô sanh, Không đạo, Trí đạo, đều chiếu sáng rực rỡ, giữ gìn quán nhập vào Không, đều giả huyễn mà sanh khởi, như không, thể của pháp là tụ tập, phân tán, không thể giữ gìn, quán pháp cũng như vậy.

Này Phật tử! Tâm Hỷ là thấy người khác được vui thì thường sanh vui mừng theo, cho đến tất cả vật đều giả hợp rỗng không chiếu soi, thường vắng lặng, không nhập vào pháp hữu vi mà không pháp nào không vắng lặng. Nhiều an lạc không với có thọ mà hóa, có pháp mà thấy tánh pháp giả huyễn, bình đẳng nhất quán tâm tâm hành, nghe nhiều hạnh công đức của chư Phật. Trí tùy hỷ nơi tâm vô tướng, tâm tâm sanh niệm mà thông tỏ,. tâm vui thích duyên với tất cả pháp.

Này Phật tử! Tâm Đảnh là trí tuệ tối thượng của con người, diệt trừ vô ngã luân, kiến nghi thân, tất cả sân như đảnh, là thường quán liên tục như đỉnh, là nhân quả trong pháp giới, một đạo như như là tối thượng. Như đỉnh đầu của người là chẳng phải phi thân kiến, sáu mươi hai kiến, diệt trừ năm thứ ngăn che của chúng sanh, thần ngã, chủ thể, hoạt động rộng hẹp của con người đều là vô tác, vô thọ, vô hành không thể nắm bắt. Người nầy lúc ấy đi vào nơi không nên tâm ngay thẳng, nơi chúng sanh không thấy duyên, chẳng thấy phi duyên, an trú nơi đỉnh định tam muội vắng lặng, thực hành hướng đến đạo, thật tánh ngã, nhân, thường thấy, tám điên đảo sanh, duyên nơi pháp môn bất nhị không còn chịu tám nạn, quả hư huyễn hoàn toàn không thọ nhận, duy nhất chúng sanh đến lui, đứng, ngồi, diệt trừ mười tội ác, sanh khởi mười điều thiện, nhập vào đạo chân chánh, người chân chánh, trí tuệ chân chánh, thực hành hạnh Bồ-tát, chứng đắc hiện quán, không còn chịu quả báo trong sáu đường, hoàn toàn không thối lui ở trong chủng tánh của Phật, đời đời sanh vào dòng giống của Phật, không xa lìa lòng tin chân chánh. Trên đây trong phẩm Thập Thiên Quang đã nói. Đức Phật Lô-xá-na đã giảng rõ cho một ngàn đức Phật nghe: Như ông đã hỏi về mười tâm trưởng dưỡng.

Này Phật tử! Tâm Từ là thường thực hành tâm từ, phát sanh nhân an lạc rồi trong trí vô ngã, vui thích tương ưng, quán pháp nhập, những pháp thọ, tưởng, hành, thức trong đại pháp không sanh, không trụ, không diệt, như huyễn hóa, “như như” không hai. Cho nên tu tập tất cả thành tựu pháp luân, giáo hóa hoàn toàn, có khả năng phát sanh lòng tin chân chánh, không do sự dẫn dụ của quân ma, cũng có thể khiến cho chúng sanh được quả an lạc của tâm từ, chẳng phải thật, chẳng phải quả thiện ác, hiểu rõ tam muội thể tánh là không.

Này Phật tử! Tâm Bi là dùng bi không không, vô tướng, nhờ vào tâm bi thực hành đạo, diệt tất cả khổ, trong vô lượng khổ của chúng sanh phát sanh trí tuệ, không duyên sát sinh, không duyên sát pháp, không duyên với chấp ngã nên thường thực hành không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không làm não hại tất cả chúng sanh. Người phát tâm Bồ đề, đối với kiến không là tướng như thật của tất cả pháp, trong chủng tánh hành sanh tâm đạo trí. Đối với sáu thân, sáu oán ở trong ba phẩm thân oán cùng với chín phẩm trong duyên thượng ác và trí an lạc tối thượng đều được an lạc.Lúc quả Không hiện, thì mình và tất cả mọi người đều bình đẳng, thường được an lạc, phát sanh đại bi.

Này Phật tử! Tâm Hỷ là khi tâm vô sanh vui vẻ thì chủng tánh, thể tướng, đạo trí không không. Tâm hỷ không chấp trước vào ngã sở, ra khỏi sự chìm đắm của nhân quả ba đời, không còn tích tập, tất cả hữu, nhập vào quán không, thực hành thành tựu được hỷ bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, phát khởi tâm không nhập vào đạo lìa bỏ bạn ác, mong cầu bạn lành để chỉ dạy đạo mà ta yêu quý, làm cho chúng sanh sanh trong dòng họ Phật pháp, trong giáo pháp thường phát khởi tâm vui vẻ vào trong các vị Pháp, lại làm cho chúng sanh khởi lòng tin chân chánh, xả bỏ tà kiến, diệt trừ khổ não, quay lưng lại sáu đường, nên gọi là hỷ.

Này Phật tử! Tâm Xả là thường sanh khởi tâm xả, trong pháp vô tác, vô tướng, không, đều như hư không. Trong hai pháp đối đãi thiện – ác, hữu kiến-vô kiến, tội-phước bình đẳng quán chiếu chỉ là một, chẳng phải người, chẳng phải ta mà ta và người thể tánh không nắm bắt được, gọi là đại xả. Như thân thể da thịt, tay chân, nam nữ, làng xóm, đất nước của ta đều như huyễn, cho đến dòng nước, đèn đuốc đều nên xả bỏ, được tâm vô sanh, thường tu tập tâm xả.

Này Phật tử! Tâm Thí là ban đầy đủ cho chúng sanh bằng thân thí, miệng thí, ý thí, tài thí, pháp thí để giáo hóa chúng sanh. Trong thân, ngoài thân, làng xóm, đất nước, nam nữ, ruộng vườn, tướng đều như như, cho đến không nghĩ về tài vật, người nhận bố thí và người bố thí cũng bên trong, cũng bên ngoài, không hợp cũng không tan, do thực hành không tâm nên thấu đạt lý bố thí, tất cả tướng đều thể hiện ở việc làm.

Này Phật tử! Tâm phát ra lời nói tốt là nhập vào tam muội, thể tánh ái ngữ Đế nhất nghĩa pháp ngữ, nghĩa ngữ. Tất cả lời nói chân thật là thuận hướng, chỉ một lời điều hòa tất cả chúng sanh mà tâm không sân giận, không tranh chấp. Tất cả pháp trí không, không duyên, thường sanh lòng yêu mến, tâm luôn thực hành thuận theo ý của Phật, cũng thuận hợp với tất cả người khác, dùng lời nói của Hiền Thánh để dạy dỗ chúng sanh, luôn thực hành tâm như như, làm phát khởi thiện căn.

Này Phật tử! Tâm lợi ích là dùng thể tánh của trí chân thật để thực hành rộng lớn về đạo trí, tập họp tất cả pháp môn trí tuệ và tích lũy quán hành bảy Thánh tài, người trước được lợi ích nên thọ được thân mạng, nhập vào tam muội lợi ích, thể hiện bằng tất cả thân, miệng, ý, làm chấn động toàn bộ thế giới, tất cả đều làm được. Vì người khác nhập vào các pháp, các không, các đạo, đem lại lợi ích an lạc, hiện hình trong sáu đường, vô lượng khổ não không cho là hoạn nạn, chỉ làm lợi ích cho người.

Này Phật tử! Tâm Đồng là do trí đạo tánh giống như pháp không, vô sanh do trí vô ngã đồng sanh không hai, do Không đồng với nguyên cảnh là tướng như của các pháp, thường sanh, thường trụ, thường diệt, pháp thế gian lưu chuyển liên tục không ngừng, có thể hiện ra vô lượng thân hình, sắc, tâm, các nghiệp ở trong sáu đường, tất cả mọi việc đều như nhau. Không đồng với không sanh, ngã đồng với không vật, phân tán thân hình nhập vào tam muội đồng pháp.

Này Phật tử! Tâm Không là từ tâm định, nhờ tuệ quán, chứng tâm không và duyên tâm tĩnh, đối với ngã sở, pháp, thức giới, sắc giới không lay động, vượt ra khỏi thuận nghịch, thường nhập vào trăm tam muội, mười thiền chi, nhờ trí tuệ tư duy thấy được tất cả ngã, nhân và các chủng tử trú bên trong và ngoài, tất cả đều không có hợp tan, chỉ do tích tập mà sanh khởi, nên không nắm bắt được.

Này Phật tử! Tâm Tuệ là quán tuệ thấy tâm, quán sự trói buộc của các tà kiến, hoạn nạn là thể tánh không quyết định. Vì thuận theo nhẫn đồng với không nên chẳng phải ấm, chẳng phải giới, chẳng phải nhập, chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chỉ có ngã, chẳng phải nhân quả, chẳng phải pháp ba đời, nên tánh của tuệ phát sanh rực sáng, chiếu soi thấy rõ tất cả là rỗng lặng nên không thọ nhận. Trí tuệ là phương tiện sanh khởi tâm trưởng dưỡng. Tâm này chứng nhập đạo không không, phát khởi tâm vô sanh. Trên đây là ở phẩm Thiên Hải Minh Vương đã nói về tâm trong Bách pháp minh môn.

Đức Phật Lô-xá-na dạy cho một ngàn đức Phật nghe. Như các ông hỏi về chủng tử Kim cang có mười tâm.

Này Phật tử! Tâm Tín là tất cả các hạnh lấy lòng tin làm đầu, nguồn gốc của các công đức, không sanh tâm tà kiến của ngoại đạo, các kiến danh chấp trước, oán kết có tạo nghiệp, chắc chắn không thọ nhận, nhập vào pháp không, vô vi, gồm ba tướng không: Không có vô sanh, không có sanh, Không có trụ , trụ đã không có thì diệt diệt không có, tất cả các pháp Không, Thế đế, Đệ nhất nghĩa đế trí, diệt trừ hết dị không, sắc không, tâm tế, tâm không. Vì tâm tế, tâm tâm không nên lòng tin vắng lặng, không có thể tánh hòa hợp cũng không nương vào, nhưng chủ thể là xử dụng tên gọi của ngã nhân, ba cõi giả gọi là ngã ngã, không có đắc tập tướng, nên gọi là lòng tin vô tướng.

Này Phật tử! Tâm Niệm là khởi niệm, sáu niệm thường quán chiếu biết rõ, cho đến thường thi hành đệ Nhất nghĩa đế, là không vướng mắc, không giải thoát, tướng sanh trụ diệt không lay chuyển, không đến, đi, mà đối với các nghiệp lãnh thọ, tướng một hợp đều hồi hướng vào trí tuệ pháp giới. Mỗi tuệ nối tiếp nhau trong sự vắng lặng, tỏ rõ vô thường, sáng rực vô sanh, do không sanh nên không khởi, biến đổi thành đạo không, biến trước thành sau, mỗi mỗi đều chuyển hóa. Chuyển hóa không ngừng, biến hóa cùng một lúc, cùng an trú trong một tướng sanh diệt tỏ rõ đã biến hóa, chưa biến hóa, đều biến hóa, được thọ nhận một lúc cũng như vậy.

Này Phật tử! Tâm Hồi hướng là Đệ nhất nghĩa Không, ở nơi pháp chân thật trí Không chiếu soi thật đế Nghiệp đạo tương tục, nhân duyên Trung đạo gọi là thật đế, tạm gọi các pháp ngã, nhân, chủ thể gọi là thế đế. Trong hai đế này rất sâu xa, nhập vào không mà không đến đi, huyễn hóa thọ nhận quả mà không lãnh thọ nên tâm được giải thoát.

Này Phật tử! Tâm Đạt chiếu là nhẫn thuận với mọi thật tánh, các tánh không trói, không mở không chướng vô ngại, pháp nghĩa đều thông suốt, từ ngữ, giáo hóa đều thấu đạt, biết các hành, căn tánh của chúng sanh trong ba đời như không hợp, không tàn, không có thật dụng , không có dụng, không có danh dụng, mỗi dụng đều không, không không chiếu soi thấu đạt, không gọi là thông suốt tất cả pháp không. Tướng không không như như, không thể nắm bắt.

Này Phật tử! Tâm Trực là thẳng chiếu duyên theo thần ngã, nhập vào trí vô sanh. Vô minh, thần ngã, không không đều trong không, lý không không, tâm có hữu, có vô mà không hủy hoại hạt giống của đạo. Một quán tưởng Trung đạo, vô lậu mà giáo hóa chúng sanh khắp mười phương. Chuyển hóa tất cả chúng sanh đều nhập vào trí nhất thiết không, tâm tánh chân chánh, hạnh chân chánh đều ở trong không, ba cõi chúng để trói buộc mà không thọ nhận.

Này Phật tử! Tâm Bất thối là không nhập vào quả vị phàm phu, không sanh khởi tạp nhiễm, nuôi dưỡng các kiến chấp, cũng lại không phát sanh các nhân tập khí tương tợ ngã, nhân nhập vào nghiệp của ba cõi, cũng thực hành không mà không dừng lui, giải thoát ở đệ nhất nghĩa nơi trung đạo. Vì một hợp thực hành nên không lui, vì bổn tế không hai mà không nhớ nghĩ về sau, Không sanh quán trí, như như liên tục, nương theo tâm nhập vào không hai, thường Không sanh tâm một đạo một thanh tịnh là không thối lui, một đạo một chiếu soi.

Này Phật tử! Tâm riêng Đại thừa là hiểu rõ không, tất cả tâm hành gọi là Nhất thừa. Thừa là một trí không. Bậc hạnh bậc trí nương vào trí mà mỗi tâm trí gánh vác, cứu giúp tất cả chúng sanh, cứu thoát sông ba cõi, sông trói buộc, sông sanh tử. Hành giả ở thừa này thực hành cứu giúp, tâm trí hướng đến nhập vào biển của Phật, nên chúng sanh chưa chứng đắc không trí dụng thì không gọi là Đại thừa, chỉ gọi là thừa có thể vượt qua biển khổ.

Này Phật tử! Tâm Vô tướng là giải thoát vọng tưởng, trí Bát nhã chiếu soi không hai. Tất cả nghiệp trói buộc trong ba đời chỉ là một đế như như, nhưng thực hành ở không, vô sanh, tự biết mình sẽ chứng thành Phật, tất cả chư Phật là chúng ta, tất cả Bồ-tát là bạn học của chúng ta, đều đồng là không vô sanh, nên gọi là tâm vô tướng.

Này Phật tử! Tâm Tuệ như như là vô lượng pháp giới không tích tập, không thọ sanh, sanh sanh phiền não mà không bị trói buộc. Tất cả pháp môn chư Hiền đã hành đạo, chư Thánh đã quán pháp, hiện có cũng như vậy. Tất cả pháp phương tiện giáo hóa của đức Phật đều tích tập trong tâm ta. Tất cả công dụng, định tà của luận thuyết ngoại đạo đều là huyễn hóa ma thuật, đều khác với Phật giảng nói, nhập vào hai đế chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải có ấm, giới, nhập, chính là ánh sáng trí tuệ, tánh chiếu sáng thể nhập tất cả pháp.

Này Phật tử! Tâm Bất hoại là nhập vào quả vị bậc Thánh, thân cận người trí được giải thoát, vào cửa đạo chân chánh. Tâm Bồ đề sáng tỏ phục nhẫn thuận không, tám ma không thể phá hoại. Chư Phật xoa đầu các bậc Thánh, khuyến khích phát nguyện nhập vào tam muội ma đảnh, từ thần thông phóng ra hào quang chiếu soi quốc độ khắp mười phương, nhập vào oai thần của Phật, xuất ra nhập vào một cách tự tại, làm chấn động cả đại thiên thế giới, tâm địa vẫn bình thản không hai, không khác, nhưng chẳng phải trung quán mà biết đạo, do năng lực của tam muội nên nơi ánh sáng thấy được chư Phật trong vô lượng cõi nước hiện đang thuyết pháp. Khi đó, liền được tam muội xoa đảnh đầu chứng đắc địa hư không bình đẳng, pháp môn tổng trì, các hạnh của bậc Thánh đều đầy đủ, mọi tâm đều hành trong không, các không tuệ, trung đạo vô tướng chiếu soi nên tất cả tướng đều tiêu diệt, chứng đắc pháp môn tam muội Kim cang, nhập vào tất cả hạnh môn, chứng nhập địa hư không bình đẳng như trong kinh Phật Hoa có nói rộng.

Đức Phật Lô-xá-na nói với ngàn đức Phật:

Như trước các ông đã hỏi về ý nghĩa của mười địa là thế nào?

Này Phật tử! Bồ-tát nhập vào địa Thể tánh Bình đẳng tuệ, là pháp chân thật hóa ra tất cả hạnh, bông hoa, ánh sáng đầy đủ. Ở bốn cõi trời, nhờ năng lực như lý, giáo hóa không bờ bến, đạt mười lực, thần thông, mười hiệu, mười tám pháp bất cộng, an trú trong cõi Phật, vô lượng nguyện lớn, biện tài không sợ, tất cả luận, tất cả hành đều chứng nhập, sanh vào nhà Phật, an trú ở tánh của Phật, tất cả chướng ngại nhân quả phàm phu đều không thọ nhận, được an vui lớn, từ một cõi Phật nhập vào vô lượng cõi Phật, từ một kiếp nhập vào vô lượng kiếp, pháp không thể thuyết cũng có thể thuyết, lại chiếu soi thấy tất cả pháp, các pháp nghịch hay thuận đều thấy rõ, thường nhập vào hai đế an trú trong đệ nhất nghĩa đế, dùng một trí biết rõ mười địa, thứ tự mỗi việc để giáo hóa chúng sanh, tâm thường ở trung đạo; dùng một trí biết tất cả phẩm thù thắng trong cõi Phật và sự thuyết pháp của Ngài nhưng thân tâm không thay đổi; dùng một trí biết về mười hai nhân duyên, mười loại tánh ác thường an trú ở đạo thiện; dùng một trí thấy được hai tướng hữu, vô; dùng một trí biết nhập mười chi hành thiền, ba mươi bảy phẩm trợ đạo khéo hiện sắc tâm trong sáu đường; dùng một trí biết được các sắc trong mười phương, mỗi mỗi đều phân biệt rõ, thọ nhận quả báo của sắc, tâm không bị trói buộc, ánh sáng chiếu khắp nên tín nhẫn vô sanh, không tuệ thường hiện trước mắt, từ một địa, hai địa cho đến cõi Phật, trong thời gian đó các pháp môn đều được thực hành. Tóm lại, hạnh nguyện nơi biển tạng công đức của địa bình đẳng được trình bày ở đây như một giọt nước trên đầu sợi lông ở trong biển.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh Thiện Tuệ thanh tịnh, thấu suốt các thiện căn là tuệ từ bi hỷ xả. Tất cả công đức vốn từ quán đầu tiên nhập vào trí tuệ Không lớn, trong phương tiện đạo trí thấy các chúng sanh là khổ đế đều có tâm thức, dao gậy của ba đường ác, tất cả duyên khổ não đều do thức sanh gọi là khổ đế. Ba tướng của khổ đế là như thân cảm giác từ dao, gậy, thân sắc ấm trong hai duyên này mà sanh ra cảm giác gọi là duyên hành khổ. Tiếp đến, tâm nhờ sự nhận biết của thân và cảnh đã duyên do dao gậy và các vết thương tổn ở thân, nên cảm giác duyên khổ khổ, gọi là khổ khổ vì chồng chất lên nên gọi là khổ khổ. Tiếp đến cảm giác của hai tâm thọ, hành hướng tới sự tổn thương hư hoại của thân sắc ấm, sanh ra cảm giác khổ gọi là duyên hoại khổ. Đây là do ba cảm giác theo thứ tự sanh ra ba tâm nên bị khổ, tất cả đều có trong tâm chúng sanh. Thấy biết ba khổ sanh khởi vô lượng nhân duyên khổ não nên Ta ở trong đó thể nhập tam muội để giáo hóa, thị hiện tất cả sắc thân trong sáu đường, mười loại biện tài giảng thuyết các pháp môn , nghĩa là đầy đủ khổ thức, duyên khổ, duyên nơi dao gậy. Khổ thức là thân hành bị thương tổn hủy hoại, mọi tiếp xúc trong ngoài, hoặc đủ hoặc không đủ, đủ hai duyên sanh ra thức, thức tạo tác thức thọ nhận các sự tiếp xúc của thức nên gọi là khổ thức. Vì hiện hành hai duyên nên tâm duyên sắc, khi tâm tiếp xúc mọi phiền não độc hại xúc não gọi là khổ khổ.Tâm ban đầu duyên với thức ở nơi cảm giác của căn gọi là khổ giác. Tâm tạo tác, tâm lãnh thọ, cảm giác về xúc thức khi chưa thọ nhận, nhận các phiền não độc hại gọi là hành khổ. Bức bách sanh khởi cảm giác như đống lửa trong thân tâm, niệm niệm sanh diệt, thân bị hủy hoại thay đổi tan biến, thức nhập vào duyên hoại, do duyên tích tập, tâm bị tán loạn, tâm khổ não, thọ nhận duyên của niệm sau, nên tâm chấp trước không xả bỏ, gọi là hoại khổ. Đó là tất cả khổ đế trong ba cõi. Lại quán chiếu vô minh tích chứa vô lượng tâm tạo các nghiệp liên tục không ngừng, tích tập nhiều nhân gọi là tập đế. Thấy biết chân chánh, giải thoát không, không trí đạo tâm tâm, gọi là trí đạo đạo đế. Diệt hết các quả báo hữu, nhân hữu, thể tánh chiếu sáng thanh tịnh, trí nhiệm mầu vắng lặng nhất đế. Phẩm tuệ đầy đủ gọi là căn. Tất cả tánh tuệ khởi phát Không nhập vào quán là thiện căn đầu tiên. Quán thứ hai là xả tất cả tham đắm, thực hành xả tất cả đều bình đẳng không, vô duyên mà quán các pháp là một tướng của cõi không. Ta quán các cõi ở mười phương đều là thân trước của Ta đã ở đó. Nước trong biển lớn là Ta, nên nước ở tất cả kiếp hỏa là Ta, thân tướng của Ta đã ở nơi chốn lửa đó. Tất cả ngọn gió là Ta nên Ta hít thở khí đó. Hôm nay Ta nhập vào địa này, pháp thân đầy đủ bỏ thân cũ của Ta hoàn toàn không thọ thân cũ bốn đại phân đoạn, không trong sạch, gọi là đầy đủ phẩm xả. Quán thứ ba là đối với tất cả chúng sanh đã hóa độ là sự an vui của hàng trời, người, sự an vui của mười địa, sự an vui xa lìa sự sợ hãi của mười điều ác, sự an vui được trong tam muội Diệu hoa cho đến sự an vui của Phật. Quán đầy đủ như thế là viên mãn phẩm Từ. Bấy giờ, Bồ-tát an trú trong địa này không còn si, không tham, không sân, thể nhập vào một đế trí bình đẳng, gốc của tất cả hạnh đi đến các thế giới chư Phật, thị hiện vô lượng pháp thân như phẩm Nhất thiết chúng sanh Thiên hoa đã trình bày.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh Quang minh, nhờ thiền định đạt được trí, biết rõ những pháp môn của chư Phật nơi ba đời, phẩm mười hai pháp, danh vị, cú, gồm có: Trùng tụng, Ký biệt, Trực ngữ, Kệ, Bất thỉnh thuyết, Luật giới, Thí dụ, cõi Phật, sự tích, Phương chánh, Vị tằng hữu, Đàm thuyết. Đây là sự khác biệt danh, thể tánh của pháp, và đệ nhất nghĩa, là những danh, vị, cú mà nói tất cả pháp hữu vi, từng phần thọ sanh, ban đầu thức nhập vào bào thai, bốn đại thuộc về sắc tâm, đều tăng trưởng gọi là sáu trụ ở trong căn, phát sanh “thật giác” chưa phân biệt về khổ, vui gọi là xúc thức. Lại hiểu rõ về khổ, vui, khổ khổ vui gọi là ba thọ, liên tục tham chấp thọ vô cùng, rồi muốn có ngã kiến giới thủ, thiện, ác, thức bắt đầu gọi là sanh, thức cuối cùng gọi là chết. Mười phẩm này là quả báo, nhân duyên, khổ ở hiện tại, mà quán là trong hành tướng mà nói. Ta từ lâu đã xa lìa, chúng không có tự thể tánh riêng, nên ta nhập vào quang minh thần thông, tổng trì biện tài, mỗi tâm hành rỗng lặng, mà thị hiện trong các cõi Phật khắp mười phương, từ một kiếp biến hóa thành trăm, ngàn kiếp, sống trong đất nước đó, dùng thần thông đến trước đức Phật đảnh lễ lãnh thọ, thưa hỏi pháp. Lại thị hiện thân trong sáu đường, trong một âm thanh thuyết giảng vô lượng pháp, chúng sanh đều được nghe những pháp mình muốn, tất cả âm thanh đều thuyết về khổ, không, vô thường, vô ngã, cõi nước khác nhau nên thân, tâm biến hóa cũng khác. Trong địa Diệu hoa quang minh này chỉ trình bày tóm lược như trên đầu sợi lông, phẩm Pháp và phẩm Giải thích quán các pháp môn một ngàn Tam muội đã thuyết giảng.

Này Phật tử! Bồ-tát ở trong Địa Thể tánh Nhĩ chân diệm tục là không đoạn, không thường, tức là sanh trụ, diệt cùng một đời, cùng thời, cùng hoàn cảnh, vì các loài khác nhau nên sự thị hiện khác nhau. Nhân duyên trung đạo chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải thiện, chẳng phải ác, chẳng phải phàm phu, chẳng phải Phật, cõi Phật cõi phàm đều là một. Đây gọi là Thế đế. Bồ-tát dùng trí đạo để quán phẩm huyền định không phải một cũng không phải hai. Nghĩa là đức Phật dạy tâm tu tập, nhận biết ban đầu là nhân của định gồm: Tín giác, tư giác, tịnh giác, thượng giác, niệm giác, tuệ giác, quán giác, ỷ giác, lạc giác, xả giác, mỗi một phẩm là đạo phương tiện, tất cả tâm đều thể nhập vào quả của định, người an trú trong định này, trí tuệ sáng suốt biết rõ các hành là không, nếu khởi và nhập định niệm, sanh ra tâm tịnh, sanh tâm ái thuận theo pháp của đạo giáo hóa chúng sanh, gọi là nhẫn pháp lạc, nhẫn trụ, nhẫn chứng, nhẫn tịch diệt, nên chư Phật ở trong tam muội quang quang hoa thị hiện vô lượng đức Phật lấy tay xoa đầu, một âm thanh thuyết pháp phát ra trăm ngàn tiếng mà không xuất khởi định, an trụ trong định, thích vị thiền định an lạc, chấp vào định, tham muốn định, an trú trong định từ một kiếp cho đến ngàn kiếp, thấy Phật ngồi tòa hoa sen thuyết pháp trăm pháp môn, người nầy an trú trong định cúng dường nghe pháp một kiếp. Khi ấy trong ánh sáng của chư Phật ở đỉnh đầu phát ra khởi tướng xuất phẩm định, tướng tấn tới, tướng đi đến nên không bị chìm lắng, không thối lui, không rơi rớt, không dừng nghỉ, nhẫn thượng lạc của pháp tam muội đảnh, diệt trừ tất cả, tức là thể nhập tất cả cõi Phật, tu tập vô lượng công đức, mỗi một hành đều sáng tỏ, thể nhập phương tiện thiện xảo, để giáo hóa chúng sanh khiến cho họ thấy được thể tánh Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của đức Phật. Người nầy sanh ra an trú vào địa ấy, tu tập các pháp môn, dần dần quán sự sâu xa vi diệu, như hoa giữa hư không, khi đó trí tuệ nhập vào thể tánh trung đạo, thành tựu tất cả pháp môn, giống như phẩm Kim cang thượng nhật nguyệt đạo, đã nói rõ nghĩa này.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh tuệ chiếu, trong pháp có mười phẩm loại lực sanh, phát khởi lên tất cả hạnh công đức, nhờ trí tuệ phương tiện biết rõ hai việc làm thiện, ác khác nhau. Phẩm xứ lực là năng lực trí biết rõ sự tạo tác của thiện và ác. Phẩm dục lực là năng lực biết được tất cả sự mong cầu nhân quả của chúng sanh sanh trong sáu đường. Phẩm tánh lực là năng lực biết rõ căn tánh trong sáu đường khác biệt không giống nhau. Phẩm căn lực là năng lực biết nguồn gốc các thiện, ác đều không giống nhau. Phẩm định lực là năng lực biết rõ định sai lầm, định chân chánh hay không phải định. Phẩm đạo lực là năng lực biết rõ tất cả nhân quả liên tục, nhân nào theo quả ấy, quả nào theo nhân đó. Phẩm thiên nhãn lực là năng lực của năm nhãn biết được các pháp và tất cả sự thọ sanh. Phẩm túc thế lực là năng lực biết rõ các việc trong trăm kiếp. Phẩm giải thoát lực là năng lực biết được phiền não và vô minh của chúng sanh đã đoạn trừ. Đây là mười phẩm trí lực. Trí lực này biết rõ sự tu tập nhân quả của mình và sự khác biệt nhân quả của chúng sanh nên thân, miệng, ý sử dụng có khác, từ cõi tịnh thành cõi ác, từ cõi ác làm cõi cực lạc; có thể chuyển thiện thành ác, chuyển ác thành thiện; sắc thành phi sắc, phi sắc thành sắc; từ nam thành nữ, từ nữ thành nam; từ sáu đường trở thành chẳng phải sáu đường, chẳng phải sáu đường trở thành sáu đường, cho đến đất, nước, lửa, gió thành chẳng phải đất, nước, lửa, gió. Khi ấy, người nầy dùng năng lực phương tiện lớn, theo tất cả chúng sanh mà hiện ra không thể nghĩ bàn, những địa ở dưới, mọi việc cất chân để xuống không ai có thể nhận biết được. Vị này trí tuệ sáng suốt, rộng lớn dần dần tiến đến từng phần trí, sáng suốt nhiều vô lượng, không thể nói, không thể diễn tả, pháp môn hiện ra trước mắt.

Này Phật tử! Bồ-tát ở nơi Địa Thể tánh ở hoa quang, là có thể ở trong tất cả thế giới, phẩm mười thần thông minh trí. Do thị hiện tất cả chúng sanh biến hóa đủ loại. Do thiên nhãn minh trí mà biết được tất cả sắc như vi trần trong các cõi nước nơi ba đời, tất cả trở thành thân chúng sanh trong sáu đường, mỗi một thân có các sắc nhỏ như vi trần trở thành sắc lớn, biết rõ ràng. Do thiên nhĩ trí nên biết được những tiếng khổ vui của chúng sanh trong sáu đường, ba đời mười phương, chẳng phi âm, chẳng phi thanh, tất cả đều là tiếng pháp. Do thiên thân trí nên biết được tất cả sắc, sắc hay phi sắc, hình tướng phi nam hay phi nữ, ở trong một niệm biến hóa thân nhiều như vi trần trong các cõi nước lớn nhỏ, vô lượng kiếp ở các cõi ba đời, khắp mười phương. Do thiên tha tâm trí mà biết được sự sanh khởi trong tâm của chúng sanh nơi ba đời, biết những việc thiện, ác, khổ, vui, nhớ nghĩ trong tâm và tâm sở của tất cả chúng sanh thuộc sáu đường, mười phương. Do thiên nhân trí nên biết rõ thọ mạng, khổ vui ở đời trước của các chúng sanh trong cõi nước nơi ba đời mười phương, biết hết thọ mạng tiếp nối một trăm kiếp. Do thiên giải thoát trí mà biết rõ chúng sanh ở ba đời mười phương được giải thoát, đoạn trừ tất cả phiền não, hoặc nhiều hoặc ít, từ địa thứ nhất đến địa thứ mười, tất cả phiền não đều diệt sạch. Do thiên định tâm trí nên biết được tâm chúng sanh trong các cõi nước ba đời mười phương, định không phải định, chẳng phải định chẳng phải không định, khởi lên phương pháp về định được tóm thâu trong một tam muội cho đến trăm tam muội. Do thiên giác trí nên biết được tất cả chúng sanh đã thành Phật, chưa thành Phật, cho đến những tâm của mọi người trong sáu đường cũng biết được tâm của chư Phật nơi mười phương đã thuyết pháp. Do thiên niệm trí nên biết được thọ mạng của chúng sanh dài, ngắn trong tiểu kiếp, đại kiếp, trăm kiếp hay ngàn kiếp. Do thiên nguyện trí nên biết rõ tất cả chúng sanh, mười địa của Hiền Thánh, ba mươi tâm trung, tất cả hạnh nguyện, hoặc cầu khổ vui, hoặc pháp, phi pháp, tất cả mười cầu nguyện, trăm ngàn đại nguyện đều đầy đủ, người an trú trong địa này, trong mười thần thông sáng suốt nên hiện ra vô lượng dụng phân biệt của thân, miệng, ý nói về công đức của địa trong trăm ngàn vạn kiếp cũng không cùng tận, đã được Đức Phật Thích Ca tóm lược, trình bày nơi phẩm Thần thông minh như đã nói trong phẩm Quán mười hai nhân duyên.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh mãn túc, thể nhập vào phẩm Thập bát Thánh nhân trí, ở trong pháp nầy, những địa ở dưới không đồng chung được. Nghĩa là thân không còn phiền não, miệng không tạo tội lỗi, ý không còn vọng niệm, xa lìa tám pháp, xả bỏ các pháp, thường an trú nơi tam muội, sáu phẩm đầy đủ đi vào Địa. Từ trí này sanh ra sáu loại trí, vì kết sử tập khí cuối cùng nơi ba cõi không thọ nhận nên Dục tâm đầy đủ công đức, tất cả pháp môn, sự mong cầu được thành tựu, nên Tấn tâm đầy đủ. Tất cả sự vận hành của pháp, tất cả việc đời, tất cả việc của chúng sanh đều do trong một tâm cùng một lúc mà biết được, nên Niệm tâm được đầy đủ. Các pháp của chúng sanh nơi sáu đường thuộc tướng của hai đế này, do trí tuệ đầy đủ biết rõ các vị ở mười phát thú, cho đến chư Phật không còn bị trói buộc, không còn tích tập nên được giải thoát hoàn toàn, tất cả chúng sanh này biết được người khác, mình và đệ tử của Ta không còn tội lỗi, các phiền não, nhờ trí tuệ nên biết được thân người khác hoàn toàn giải thoát. Vị này nhập vào sáu Minh trí đầy đủ liền phát sanh trí tuệ, hiện thân tùy theo tâm hành của chúng sanh trong sáu đường, dùng biện tài thuyết vô lượng pháp môn, giáo hóa tất cả chúng sanh, tùy theo tâm hành của chúng sanh thường thể nhập vào tam muội, nên đại địa nơi mười phương đều chấn động, biến hóa khắp hư không, có thể làm cho tâm của chúng sanh tu tập. Nhờ trí tuệ hoàn hảo, thấy được đức Phật ra đời trong nhiều kiếp ở quá khứ, cũng dạy bảo chúng sanh, nhờ trí tuệ không vướng mắc nên hiện tại thấy tất cả chư Phật trong các cõi khắp mười phương, các hành nơi tất cả tâm và tâm sở của chúng sanh. Do trí thần thông biết chư Phật ra đời trong các kiếp ở vị lai, tất cả chúng sanh được nghe pháp của đức Phật nên an trú trong tam muội tâm tâm của mười tám bậc Thánh nhân. Quán các sắc nhiều như vi trần trong ba cõi là thân của Ta, hết thảy chúng sanh là cha mẹ của Ta nhập vào địa này, tất cả công đức, năng lực thần thông, mọi việc làm của chư Phật cho đến các pháp trong địa thứ tám, địa thứ chín, Ta đều đã thể nhập nên ở trong các cõi Phật thị hiện thành Phật chuyển pháp luân, giáo hóa, nhập Niết bàn, thị hiện đến các cõi nước ở phương khác qua ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh Phật hống nhập vào tam muội của địa vị Pháp vương, trí này như Phật. Vì là tam muội Phật hống nên có mười phẩm môn định ánh sáng lớn thường hiện ra, bông hoa, ánh sáng, âm thanh nhập vào tam muội tâm. Các tuệ Không ấy là môn tuệ của nội Không, môn tuệ ngoại Không, môn tuệ hữu vi Không, môn tuệ vô vi Không, môn tuệ tánh Không, môn tuệ vô thỉ Không, môn tuệ Đệ nhất nghĩa Không, môn tuệ Không Không. Không Không lại là môn tuệ Không, là môn tuệ không không. Mười môn tuệ Không như vậy, các địa dưới không biết, như hư không bình đẳng không thể nói được. Đạo trí thần thông chỉ dùng một niệm trí biết sự khác nhau của các pháp, nhập vào vô lượng cõi Phật, được ở trước quý Ngài thưa hỏi thọ nhận Phật pháp, rồi đem pháp đó giảng cho các chúng sanh, ban thuốc pháp cho chúng sanh, làm bậc thầy lớn dẫn đường, phá diệt bốn loại ma, biến hóa nhiều pháp thân để nhập vào cõi Phật, làm vô số Phật ở trong địa thứ chín, địa thứ mười nuôi lớn Pháp thân, trăm ngàn môn Đà la ni, trăm ngàn môn tam muội, trăm ngàn môn Kim cang, trăm ngàn môn thần thông, trăm ngàn môn giải thoát, như là trong trăm ngàn môn hư không bình đẳng, làm vị đại tự tại. Chỉ trong một niệm, một chốc lát đối với một kiếp cho là chẳng phải kiếp, chẳng phải kiếp cho là kiếp; chẳng phải đạo cho là đạo, đạo cho là chẳng phải đạo; chẳng phải chúng sanh trong sáu đường cho là chúng sanh trong sáu đường; chúng sanh trong sáu đường cho là chẳng phải chúng sanh trong sáu đường; chẳng phải Phật cho là Phật, Phật cho là chẳng phải Phật, ra vào trong tam muội thể tánh của chư Phật. Lại chiếu thuận theo hay trái nghịch, chiếu trước hay sau, chiếu nhân duyên hay quả báo, chiếu không hay có, chiếu vào đệ nhất nghĩa trung đạo. Đó là trí tuệ chỉ đến địa thứ tám mới chứng được, còn những địa dưới thì không bằng. Không động chuyển, không đến đi, không ra vào, không sanh diệt là phẩm pháp môn của địa này, nhiều vô lượng không thể nghĩ bàn. Hôm nay, Ta chỉ khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi lông về địa này trong trăm ngàn phần của phẩm địa, như đã nói rõ trong phẩm La Hán.

Này Phật tử! Bồ-tát ở Địa Thể tánh Phật hoa nghiêm dùng tam muội Phật oai nghi Như Lai mà được tự tại bậc nhất trong các định tối thượng, xuất nhập tùy ý trong các thời ở ba ngàn thế giới khắp mười phương, trong trăm ức ngày tháng, trăm ức thiên hạ, một khi thành quả Phật chuyển bánh xe pháp cho đến diệt độ. Tất cả Phật sự dùng trong một niệm cùng thời thị hiện sắc thân để giáo hóa chúng sanh có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, tự tại an lạc như hư không, vô lượng lòng đại bi tướng tốt tuyệt hảo sáng tỏ, chẳng phải trời, chẳng phải người, chẳng phải đạo. Tất cả pháp bên ngoài thường thực hành sáu đạo, thị hiện vô lượng thân, miệng, ý để thuyết giảng vô lượng pháp môn, có thể chuyển từ cảnh giới của ma nhập vào cảnh giới của Phật, từ cõi Phật có thể vào cảnh giới của ma. Lại chuyển từ những cái thấy biết thành tri kiến của Phật, từ tri kiến của Phật vào các sự thấy biết, từ tánh Phật vào tánh chúng sanh, từ tánh chúng sanh vào tánh Phật. Người ở địa này ánh sáng chiếu rực rỡ, trí tuệ chiếu tỏ sáng rực như đèn, bốn vô sở úy, vô lượng pháp như mười lực, mười tám pháp bất cộng, giải thoát Niết Bàn vô vi, nhất đạo thanh tịnh, với tất cả chúng sanh làm cha mẹ, anh em, vì họ mà thuyết giảng pháp vô cùng, trong nhiều kiếp chứng được đạo quả. Lại thị hiện trong các cõi làm người thân với chúng sanh như cha mẹ, hay người thân với Thiên ma ngoại đạo như cha mẹ, an trú trong địa này từ sanh tử vô cùng đến quả vị Kim cang vô tận, chỉ trong một niệm thị hiện những việc như vậy, nên có thể nhập vào vô lượng cõi chúng sanh, vô lượng như thế, tóm lược mà nói chỉ như một giọt nước ở biển.

Này Phật tử! Bồ-tát nhập vào Địa Thể tánh Phật giới, trí tuệ lớn như hư không, không lại không, không lại không, tánh như hư không, trí tuệ bình đẳng như tánh của Như Lai, đạt mười phẩm công đức đầy đủ, đồng một tướng hư không, thể tánh vô vi, thể của hư không đồng với tánh của pháp, nên gọi là Như Lai, tùy thuận bốn đế, hai đế, diệt trừ tất cả pháp khổ sanh tử nuôi dưỡng pháp thân, không hai gọi là Ứng Cúng. Vị này thị hiện tất cả việc làm trong khắp các thế giới, trí chân chánh, trí bậc Thánh giải thoát, biết rõ tất cả pháp hữu vô, căn tánh của các chúng sanh nên gọi là Chánh Biến Tri, sáng suốt tu tập thành tựu quả Phật đầy đủ gọi là Minh Hạnh Túc. Thiện thệ là pháp Phật trong ba đời đồng với pháp của đức Phật trước, đức Phật đã vượt qua hoàn toàn cùng đến tất cả gọi là Thiện Thệ. Vị này tu tập những công đức trên nhập vào thế gian giáo hóa chúng sanh, khiến chúng sanh giải thoát tất cả những phiền não trói buộc, gọi là Thế Gian Giải Thoát. Vị này đối với tất cả pháp tối thượng thể nhập vào oai nghi thần lực của đức Phật như chỗ hành Phật Bồ-tát để giải thoát cho thế gian gọi là Vô Thượng Sĩ. Điều phục được tất cả chúng sanh gọi là trượng phu. Giáo hóa hàng trời, người và tất cả chúng sanh, thưa hỏi thọ nhận pháp nên gọi là Thiên Nhân Sư. Tánh của đức Phật vi diệu không hai, giác tánh nhiệm mầu luôn luôn tròn đầy, tất cả chúng sanh đều lễ bái, tôn kính gọi là Phật-Thế Tôn. Tất cả người thưa hỏi, lãnh thọ, giáo hóa gọi là địa Phật. Trong địa này tất cả Thánh nhân đều nhập vào một nơi gọi là địa Phật giới.

Bấy giờ, trên tòa hoa sen báu, tất cả đều được thọ ký vui mừng, Pháp thân đức Phật lấy tay xoa đảnh đầu, tất cả đều đồng thấy, đồng học, các Bồ-tát đồng thanh tán thán, tất cả chư Phật, Bồ-tát trong trăm ngàn ức thế giới cùng thời vân tập, thỉnh đức Phật chuyển pháp luân không thể thuyết về pháp môn hư không tạng hóa tạng. Địa này không thể nói, phẩm pháp môn kỳ diệu, pháp môn tam muội kỳ diệu ba minh, pháp môn Đà la ni, chẳng phải những địa dưới theo tâm thức của phàm phu có thể biết được, chỉ có vô lượng thân, miệng, ý của chư Phật mới biết được tận nguồn gốc như trong phẩm Quang âm thiên đã nói về mười vô úy cùng với Phật đạo không khác.

QUYỂN HẠ

Phẩm 10: GIỚI TÂM ĐỊA BỒ TÁT

Bấy giờ, Đức Phật Lô-xá-na khai thị tóm tắt cho đại chúng, chỉ bằng đầu sợi lông, về Pháp môn tâm địa, một trong các pháp môn, số lượng nhiều đến không thể nói hết, như cát của trăm ngàn sông Hằng. Pháp môn này, tất cả chư Phật ở quá khứ đã nói, chư Phật ở vị lai sẽ nói, chư Phật ở hiện tại đang nói. Tất cả Bồ-tát trong ba đời đã học, sẽ học, đang học. Như Lai đã trải qua trăm kiếp tu hành tâm địa ấy, danh hiệu là Lô-xá-na. Nay chư vị Phật Đà, các vị hãy chuyển pháp môn Như Lai đã nói cho tất cả chúng sanh, khai thị tâm địa cho họ.

Khi ấy, trên tòa sư tử, ánh sáng chiếu rực rỡ ở đài Liên hoa, tức thế giới Hoa Tạng, đức Lô-xá-na phóng ra ánh sáng, khuyến cáo ngàn đức Phật trên một ngàn cánh hoa: Các vị hãy đem phẩm Pháp môn Tâm địa của Như Lai mà đi, nói lại tuần tự phẩm ấy cho ngàn, trăm, ức đức Thích Ca cùng tất cả chúng sanh, với lời khuyến cáo: Các người hãy thọ trì, đọc tụng, nhất tâm thực hành.

Lúc đó, ngàn Đức Thích Ca trên ngàn cánh hoa, ngàn trăm ức Thích Ca đứng dậy từ tòa sư tử rực rỡ ở thế giới Hoa Tạng, các vị từ thân đều phát ra ánh sáng không thể nghĩ bàn, hóa hiện vô số đức Phật, đồng thời dùng vô lượng sắc hoa xanh, vàng, đỏ, trắng dâng cúng đức Phật Lô-xá-na, tiếp nhận và ghi nhớ phẩm Pháp môn tâm địa mà Ngài đã tuyên thuyết. Các đức Phật từ thế giới Hoa tạng liên hoa ẩn đi, rồi nhập vào Định Hoa quang của thể tánh thanh tịnh như hư không, trở lại nơi cây Bồ đề ở châu Diêm Phù Đề của thế giới mình, xuất khỏi tam muội Hoa quang thể tánh như hư không, ngồi trên tòa Kim cang có ngàn ánh sáng, tại giảng đường Diệu Quang thuyết giảng về mười biển thế giới, rời tòa ấy đến cung Đế Thích nói về mười Trụ, rời chỗ ấy đến Diệm thiên nói về mười Hạnh, đến cõi trời thứ tư là Đâu Suất nói về mười Hồi Hướng, đến cõi trời Hóa Lạc thuyết về mười Định, đến cõi trời Tha Hóa nói về mười Địa. Lại đến thiền thứ nhất nói về mười Kim cang, đến thiền thứ hai nói về mười Nhẫn, đến thiền thứ ba nói về mười Nguyện, đến cung Thiên vương Ma-hê-thủ-la thuộc thiền thứ tư nói lại phẩm Phổ môn tâm địa, chính là đức Lô-xá-na ở thế giới Hoa Tạng đã nói. Ngàn trăm ức đức Thích Ca khác cũng nói như vậy không khác, như phẩm Hiền kiếp đã nêu rõ.

Lúc này, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầu tiên hiện ra từ thế giới Liên Hoa Tạng hướng về phía Đông đi vào cung Thiên vương nói xong kinh “Ma thọ hóa”, liền hạ sanh ở nước Ca-di-la thuộc châu Nam-diêmphù-đề. Mẹ là hoàng hậu Ma Da, cha là hoàng đế Bạch Tịnh, Như Lai tên Tất Đạt, bảy tuổi xuất gia, thành đạo lúc ba mươi tuổi, danh hiệu Thích Ca Mâu Ni, ngồi tòa Kim cang hoa quang ở đạo tràng vắng lặng, đến cung Thiên vương Ma-hê-thủ-la, tuần tự thuyết cả mười trụ xứ. Khi đó, đức Phật nhìn thấy màng lưới của các Đại Phạm Thiên vương, nhân đấy nên nói: Vô lượng thế giới in như mắt lưới. Tất cả thế giới đều khác nhau vô cùng tận. Pháp môn của đức Lô-xá-na nêu dạy cũng vậy. Hôm nay, đức Như Lai đến thế giới này đã tám ngàn lần, vì thế giới Ta Bà ngồi nơi tòa Kim cang hoa quang, đến cung của Thiên vương Ma-hêthủ-la tóm tắt, khai thị hoàn thành phẩm Phổ môn tâm địa cho tất cả chúng sanh. Rồi từ cung thiên vương trở xuống ngồi nơi gốc cây Bồ đề của châu Diêm Phù, vì tất cả chúng sanh mê mờ trên đất này nói lại giới pháp do chính thân đức Phật Lô-xá-na đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa, giới pháp khi mới phát tâm Ngài đã thường tụng. Giới ấy như ngọc kim cương sáng chói rực rỡ, là căn bản của chư Phật, là nguồn gốc của tất cả Bồ-tát, là những hạt giống của Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Toàn bộ ý thức và sắc tâm của con người đều nhập vào trong pháp giới Phật tánh. Thường có nhân như vậy nên đương nhiên có pháp thân thường trú. Như vậy mười Ba-la-đề-mộc-xoa xuất hiện ở thế giới này, đó chính là giới pháp của Phật, tất cả chúng sanh trong ba đời nên kính nhận thọ trì. Nay Như Lai sẽ nói lại cho đại chúng nghe mười vô tận tạng giới phẩm,chính là bản nguyên là tự tánh thanh tịnh của tất cả chúng sinh.

Như Lai Lô-xá-na
An tọa đài Liên Hoa
Xung quanh trên ngàn hoa
Lại hiện ngàn Thích Ca.
Mỗi hoa trăm ức Phật
Một nước một Thích Ca
Đều ngồi cây Bồ đề
Cùng lúc thành Phật đạo.
Như vậy ngàn, trăm, ức
Bản thân Lô-xá-na
Ngàn trăm ức Thích Ca
Tiếp vô lượng chúng sanh.
Đều đi đến chỗ Ta
Nghe Ta tụng giới Phật
Cửa cam lồ mở bày
Bấy giờ trăm ngàn ức.
Về lại Bồ đề tràng
Ngồi nơi cây Bồ đề
Tụng giới bổn sư Ta
Mười trọng bốn tám khinh.
Giới sáng như mặt trăng
Mặt trời, ngọc anh lạc
Bồ-tát như vi trần
Do giới thành chánh giác.
Giới Lô-xá-na tụng
Như Lai cũng tụng lại
Các Bồ-tát mới học
Tôn kính thọ trì giới.
Đã thọ trì giới rồi
Chuyển trao các chúng sanh
Lắng nghe Như Lai tụng
Giới tạng trong pháp Phật.
Ba-la-đề-mộc-xoa
Đại chúng chí tâm tin
Mình là Phật sẽ thành
Ta là Phật đã thành.
Thường tin tưởng như vậy
Giới pháp đã đầy đủ
Tất cả ai có tâm
Đều lãnh thọ giới Phật.
Chúng sanh thọ giới Phật
Tức vào quả vị Phật
Quả vị đồng Đại giác
Là đích thật con Phật.
Đại chúng đều cung kính
Chí tâm nghe Ta tụng.

Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đầu tiên an tọa nơi cội cây Bồ đề, thành tựu tuệ giác vô thượng, bắt đầu quy định về giới của Bồ-tát, sự hiếu thuận với cha mẹ, thầy dạy, chư Tăng, Tam bảo, sự hiếu thuận là pháp hợp với đạo, sự hiếu thuận gọi là giới, cũng gọi là chế ngự, đình chỉ, tức từ kim khẩu Phật phóng ra vô lượng ánh sáng. Lúc ấy, đại chúng có đến trăm vạn ức Bồ-tát, các vị Phạm thiên ở trong mười tám tầng trời, các vị thiên tử trong sáu tầng trời thuộc cõi Dục, các vị quốc vương của mười sáu nước hùng mạnh đều chấp tay, chí tâm lắng nghe đức Thế Tôn tụng lại giới pháp Đại thừa của hết thảy chư Phật.

Đức Phật dạy:

– Này các vị Bồ-tát! Nay Như Lai cứ nửa tháng nửa tháng đích thân tụng lại giới pháp của Phật pháp. Các người, những vị Bồ-tát mới phát tâm, cho đến những vị Bồ-tát hành mười Phát thú, mười Trưởng dưỡng, mười Kim cang, mười Địa cũng đều tụng y như vậy. Vì thế ánh sáng giới pháp từ kim khẩu của Như Lai phát ra. Ánh sáng đó có lý do chứ chẳng phải không có. Nhưng ánh sáng ấy không phải xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, không sắc, không tâm, không có, không không, không có tính nhân quả mà là bản nguyên của chư Phật, là căn bản của Bồ-tát, căn bản của đại chúng Phật tử. Vì vậy, đại chúng Phật tử nên thọ trì, đọc tụng, tự học.

Này Phật tử! Hãy lắng nghe kỹ, nếu muốn lãnh thọ giới pháp của Phật thì không kể quốc vương, vương tử, trăm quan, tể tướng, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Phạm thiên nơi mười tám tầng trời, thiên tử nơi sáu tầng trời thuộc cõi Dục, dân chúng, hoàng môn, dâm nam, dâm nữ, nô bộc, tỳ thiếp, quỷ thần trong tám bộ, thần Kim cang, súc sinh cho đến những kẻ biến hóa, hễ ai hiểu được tiếng nói của vị pháp sư truyền giới thì đều có thể thọ giới và được đắc giới, đều là người thanh tịnh bậc nhất.

Đức Phật dạy:

– Này các Phật tử! Có mười giới pháp trọng. Nếu thọ giới Bồ-tát mà không tụng mười giới pháp nầy thì không phải Bồ-tát, không phải hạt giống Phật. Vì Như Lai cũng tụng như vậy, tất cả Bồ-tát đã, đang học và sẽ học. Như vậy, Như Lai đã nói vắn tắt đến tướng mạo của Bồtát giới. Các người nên học, kính tâm phụng trì.

Thế Tôn dạy:

– Này Phật tử! Nếu tự mình giết bảo người khác giết, phương tiện khen ngợi giết, thấy người khác giết mà vui mừng theo, cho đến chú

thuật giết, gieo nhân giết, tạo duyên giết, phương pháp giết, hành động giết, cho đến tất cả loài có mạng sống đều không được cố ý giết. Là Bồtát thường nên khởi tâm từ bi, tâm hiếu thuận mà phương tiện cứu giúp và che chở cho tất cả chúng sanh. Nếu tự mặc sức, thích thú giết hại thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình trộm cắp, bảo người khác trộm cắp, phương tiện trộm cắp, gieo nhân trộm cắp, tạo duyên trộm cắp, cách thức, động tác, chú thuật trộm cắp cho đến tài vật của quỷ thần, vật có chủ, vật của giặc cướp. Tất cả tài vật dù chỉ bằng một cây kim, ngọn cỏ cũng không cố ý trộm cắp. Là Bồ-tát nên sanh tâm hiếu thuận, tâm từ bi nơi Phật tánh, thường giúp mọi người, làm phước đức và được yên vui, ngược lại còn trộm cắp tài vật của người thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình dâm dục, bảo người khác dâm dục, cho đến tất cả người nữ cũng không được cố dâm dục, gieo nhân dâm dục,tạo duyên dâm dục,phương pháp dâm dục,hành động dâm dục cho đến đối với giống cái trong súc sinh, phái nữ trong chư Thiên và quỷ thần, hoặc những chỗ không phải bộ phận sinh dục đều không được cố ý dâm dục. Là Bồ-tát nên sanh tâm hiếu thuận, cứu giúp tất cả chúng sanh, bằng cách đem pháp thanh tịnh cho người, ngược lại khởi dậy dâm dục với tất cả người nữ, kể cả súc sinh, đến nỗi đối với mẹ, con gái, em gái, bà con nội ngoại cũng hành dâm, không có lòng từ bi thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình vọng ngữ, bảo người khác vọng ngữ, phương tiện vọng ngữ, gieo nhân, trợ duyên, phương pháp và hành động vọng ngữ, cho đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, thân, tâm đều vọng ngữ. Là Bồ-tát thường nên nói lời chân chánh, nhận thức chân chánh cũng khiến cho chúng sanh nói lời chân chánh và thấy biết chân chánh, ngược lại khởi lên lời nói tà vạy, nhận biết sai lầm, hành động không đúng đắn thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình bán rượu, bảo người khác bán rượu, gieo nhân, trợ duyên, phương pháp và hành động bán rượu, tất cả loại rượu không được mua bán, vì rượu là nhân duyên gây ra tội lỗi. Là Bồtát nên làm cho chúng sanh phát tâm trí tuệ sáng suốt thấu đạt, ngược lại làm cho tâm tánh của chúng sanh điên đảo thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình nói những lỗi lầm của hàng Bồ-tát xuất gia, tại gia, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, lại bảo người khác nói lỗi lầm, gieo nhân nói lỗi lầm, trợ duyên, phương pháp và hành động tác của sự nói lỗi lầm, mà Bồ-tát khi nghe những kẻ xấu ngoại đạo và nhị thừa nói những điều trái giáo pháp, chẳng phải luật còn thường sanh tâm từ bi, giáo hóa kẻ xấu ác ấy, khiến cho họ sinh niềm tin nơi Đại thừa. Nếu ngược lại tự mình nói lỗi lầm trong Phật pháp thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự khen ngợi mình, chê bai người, rồi dạy người khác khen ngợi mình chê bai người gieo nhân, chê bai, trợ duyên, phương pháp và hành động chê bai, mà Bồ-tát nên thay chúng sanh chịu những sự khinh chê, tủi nhục, khổ đau về mình, việc tốt dành cho người khác. Vậy mà ngược lại, tự khoe cái hay của mình, giấu kín cái tốt của người, làm cho họ phải chịu mọi sự khinh khi thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình xẻn tiếc, bảo người khác xẻn tiếc, gieo nhân xẻn tiếc, trợ duyên, phương pháp và hành động xẻn tiếc, mà Bồtát thấy bất cứ người nghèo thiếu nào đến cầu xin còn đều tùy chỗ cần dùng của họ, cung cấp những thứ mình có. Ngược lại, vì tâm địa xấu ác, giận dữ, đến nỗi một đồng, một cây kim, một ngọn cỏ cũng không cho, có người cầu xin pháp đã không nói cho một câu, một bài kệ nhỏ như hạt bụi lại còn nhục mạ họ thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình giận dữ, bảo người khác giận dữ, gieo nhân giận dữ, trợ duyên, phương pháp và hành động giận dữ, mà Bồtát phải nên làm cho chúng sanh phát sanh thiện căn không tranh chấp, thường phát tâm đại bi. Ngược lại, đối với tất cả chúng sanh cho đến chẳng phải chúng sanh, còn nhục mạ bằng lời nói độc dữ, thêm sự đánh đập bằng tay chân và đao gậy vũ khí… vẫn chưa vừa lòng, người ta thưa cầu xin sám hối lỗi lầm, thế mà vẫn giận dữ không thôi thì đó là tội Bala-di của Bồ-tát.

Này Phật tử! Nếu tự mình hủy báng Tam bảo, bảo người khác hủy báng Tam bảo, gieo nhân hủy báng, trợ duyên, phương pháp và hành động hủy báng, mà Bồ-tát nghe tiếng ngoại đạo hay kẻ ác hủy báng Phật, chỉ một tiếng cũng như bị ba trăm mũi nhọn châm vào tim, huống nữa là tự miệng mình hủy báng, không sanh tâm ngưỡng mộ, hiếu thuận.Nếu ngược lại tăng thêm sự hủy báng cho kẻ tâm ác, tà kiến thì đó là tội Ba-la-di của Bồ-tát.

Các nhân giả khéo tu học! Đó là mười giới trọng của Bồ-tát, các người nên tu học. Trong đó không được trái phạm giới nào cả, dù chỉ nhỏ bằng hạt bụi, huống nữa là phạm đủ cả mười giới. Nếu ai phạm thì thân hiện tại không thể phát tâm Bồ đề, ngôi vị quốc vương và Chuyển luân Thánh vương cũng mất, lại mất luôn phẩm vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, mất cả các quả vị Bồ-tát như mười Phát thú, mười Trưởng dưỡng, mười Kim cang, mười Địa và tất cả thành quả vi diệu, thường trú của Phật tánh đều mất sạch, bị sa vào ba đường ác, hai kiếp đến ba kiếp không nghe được tiếng cha mẹ hay danh hiệu Tam bảo. Vì thế nhất nhất không được phạm. Tất cả Bồ-tát, các người nay đang học, về sau sẽ học, quá khứ đã học. Đây là mười giới pháp trọng phải nên kính cẩn phụng trì.

Trong phẩm Bát vạn oai nghi có giảng rộng.

Đức Phật dạy:

– Này chư vị Bồ-tát! Như Lai đã nói mười giới trọng rồi, bây giờ sẽ nói về bốn mươi tám giới khinh.

Đức Phật dạy:

– Này Phật tử! Nếu khi sắp nhận ngôi vị quốc vương, ngôi vị Luân vương, chức vị trăm quan, thì trước nên lãnh thọ giới Bồ-tát. Như thế sẽ được quỷ thần hộ trì thân vua và thân các quan, được chư Phật hoan hỷ. Đã đắc giới rồi nên sanh tâm hiếu thuận, cung kính. Khi thấy các vị Thượng tọa, Hòa thượng, A xà lê, các vị Đại đức, đồng học, đồng kiến, đồng hành thì hãy đứng lên, đón tiếp, kính lễ, hỏi han. Vậy mà ngược lại, Bồ-tát sanh tâm kiêu mạn, khinh lờn, ngu si không đứng lên, đón tiếp, kính lễ, hỏi han, nhất nhất không cúng dường đúng như pháp, như đem mọi giá trị nơi thân mình, quả vị, con cái, bảy báu và các tài vật khác để dâng cúng các vị. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu cố ý uống rượu, mà rượu thì dẫn đến vô số lầm lỗi. Nếu tự tay mình trao rượu cho người khác uống, thì năm trăm đời cánh tay không có, huống nữa là chính mình tự uống. Cũng không được chỉ bảo mọi người uống rượu hay bày cho các chúng sinh khác uống, huống nữa là chính mình uống. Tất cả các thứ rượu đều không được uống. Nếu cố ý uống hay bảo người khác uống thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu cố ý ăn thịt, tất cả loại thịt nào cũng không được ăn. Ăn thịt thì đoạn mất hạt giống Phật tánh vốn rất từ bi, khiến tất cả chúng sanh thấy liền bỏ chạy. Vì thế, tất cả Bồ-tát không được ăn thịt của mọi loại chúng sanh. Ăn thịt chịu vô lượng tội lỗi. Nếu cố ý ăn thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Không được ăn năm thứ cay nồng là tỏi, kiệu, hành, nén, hẹ. Năm thứ ấy trong bất cứ thức ăn nào cũng không được ăn. Nếu cố ý ăn thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu thấy ai phạm tám giới, năm giới, mười giới, các giới khác, bảy tội nghịch, tám tai nạn, tất cả tội phạm giới đều phải chỉ dạy cho họ cách thức sám hối. Nếu Bồ-tát không khuyên bảo sám hối mà cùng họ ở chung, cùng hưởng lợi dưỡng, cùng bố-tát và đồng chúng thuyết giới, lại không cử tội, chỉ bày cách sám hối cho họ thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu thấy các vị Pháp sư Đại thừa, các vị cùng học cùng hiểu và cùng làm về Đại thừa, đến tăng phường, nhà cửa, thành phố, thôn xóm của mình, dù ở xa cách trăm ngàn dặm cũng liền đứng lên, đón rước, tiễn đưa, kính lạy dâng cúng… Mỗi ngày cúng dường ba lần, dù phải tốn kém nhiều đi nữa, tất cả các thứ uống ăn, nằm ngồi, thuốc thang đều cung cấp cho vị Pháp sư. Mọi nhu cầu của vị ấy đều cung phụng đầy đủ. Mỗi ngày ba lần, thường thỉnh vị Pháp sư thuyết pháp. Mỗi ngày kính lễ ba lần, không hề có lòng sân hận, phiền bực. Vì pháp mà phải mất mạng, cũng vẫn cầu pháp không chán. Nếu không như vậy thì phạm tội kinh cấu.

Này Phật tử! Bất cứ chỗ nào có giảng thuyết kinh luật nói về giới pháp. Nơi ấy, dù nhà cửa to lớn mà có giảng thuyết pháp thì các vị Bồtát mới học nên đem kinh luật đến lắng nghe, tiếp nhận và thưa hỏi vị Pháp sư. Dù trong núi rừng, dưới tàng cây lớn, nơi chùa chiền, hay trong nhà, tất cả nơi có thuyết pháp đều nên đến nghe học. Nếu không đến nơi ấy thưa hỏi, thọ học thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu có tư tưởng trái với kinh luật thường trú của Đại thừa, cho không phải lời Phật dạy, rồi thọ trì những kinh luật giới cấm của Nhị thừa Thanh văn và ngoại đạo ác kiến, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu thấy bất kỳ người bệnh tật nào phải nên tận tâm cung dưỡng như dâng cúng Phật Đà. Trong tám ruộng phước đức, chăm sóc bệnh tật là ruộng tốt nhất. Nếu cha mẹ, sư tăng hay đệ tử bị bệnh có tật, trăm bệnh dày vò đều nên chăm sóc lành mạnh. Mà Bồ-tát đem tâm ý không tốt, giận ghét không chăm sóc, cho đến ở nơi tăng phường nơi thành thị, thôn xóm, hoang dã, núi rừng đường sá, thấy người bệnh cũng không cứu giúp thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Không được cất chứa dao gậy, cung tên, giáo, búa và tất cả khí giới chiến đấu khác… cùng với vật dụng để sát sanh như chài, lưới, rập, bẫy. Tất cả vật ấy không được cất chứa. Là Bồ-tát, đến nỗi kẻ giết cha mẹ mình cũng không giết lại để báo thù, huống nữa là người khác. Nếu cố ý cất chứa tất cả vật dụng đánh giết…. thì phạm tội khinh cấu.

Đây là mười giới nhẹ, cần nên vâng học, kính trọng phụng trì.

Trong sáu phẩm sau có giảng rộng.

Này Phật tử! Không được vì lợi lộc hay vì ý ác mà làm sứ thần cho hai nước hiệp hội, quân trận, đem binh đánh nhau, tàn hại vô lượng chúng sanh. Là Bồ-tát không được vào, ra trong quân trận, huống nữa là cố ý làm tên môi giới cho chiến tranh. Nếu cố ý thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu cố ý buôn bán người hiền lành, nô bộc, tỳ thiếp, mua bán súc vật, quan tài và những dụng cụ tẩm liệm, mọi việc ấy còn tự mình không được làm, huống nữa là chỉ bảo người khác. Nếu cố ý hay bảo người khác làm thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì tâm địa xấu ác nên vô cớ phỉ báng những người hiền lành, bậc thiện đức, những bậc Pháp sư, Sư Tăng quốc vương và hàng quý nhân, nói phạm bảy tội nghịch, mười giới trọng. Đối với cha mẹ, chú bác, anh em trong nhà phải nên sanh lòng hiếu thuận, thương yêu. Vậy mà ngược lại tăng thêm sự trái ý, tổn thương khiến họ rơi vào cảnh khổ tâm, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì tâm địa xấu ác nên phóng lửa lớn đốt cháy núi rừng, đồng nội. Từ tháng tư đến tháng chín phóng lửa, hoặc cháy lan đến nhà cửa, thành thị, thôn xóm, tăng phòng, ruộng vườn, cây cối của người và cung điện, tài vật của quỷ thần. Tất cả vật có chủ không được cố ý thiêu đốt, nếu cố ý thiêu đốt thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Với những người từ đệ tử Phật đến ngoại đạo, các người bà con, người quen biết tốt đều phải hướng dẫn họ thọ trì kinh luật Đại thừa, nên giảng giải cho họ hiểu nghĩa lý của kinh, làm cho họ phát tâm Bồ đề: Mười tâm Phát thú, mười tâm Trưởng dưỡng, mười tâm Kim cang. Ba mươi tâm ấy mỗi mỗi đều hướng dẫn cho họ hiểu rõ pháp dụng thứ tự. Là Bồ-tát mà vì tâm xấu ác, tâm giận dữ đem kinh luật của Nhị thừa Thanh văn và học thuyết của ngoại đạo tà kiến để chỉ dạy khắp cho nhiều người thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nên dùng tâm nguyện tốt đẹp, trước tiên nên học oai nghi và giới luật của kinh điển Đại thừa, lý giải rộng sâu diệu nghĩa, ý vị của nó. Sau, thấy các vị Bồ-tát mới học từ trăm, ngàn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa, phải nên nói cho họ đúng như pháp, nói về những khổ hạnh như thiêu đốt thân, cánh tay, ngón tay. Nếu không thiêu đốt thân, cánh tay, ngón tay để cúng dường chư Phật thì không phải là hàng Bồ-tát xuất gia. Cho đến hổ lang, sư tử và quỷ đang đói cũng nên xả thịt, hay tay chân của mình để cung cấp, sau đó nói tuần tự về giới pháp chính yếu, làm cho họ tâm khai ý mở. Là Bồ-tát mà vì lợi lộc nên điều cần giải đáp lại không giải đáp, nói một cách rối loạn văn nghĩa kinh luật, không có trước, sau, chung cục là phỉ báng Tam bảo thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu tự mình vì việc ăn uống, tiền của, lợi dưỡng, danh vọng mà thân cận với các quốc vương, vương tử, đại thần, trăm quan, rồi ỷ thế cậy oai bức bách người khác, hành hung chiếm đoạt tiền tài, sản vật một cách ngang ngược. Những cầu lợi như vậy là ham cầu xấu ác, ham cầu quá đáng, thế mà còn dạy bảo người khác ham cầu nữa, không còn lòng từ bi, hiếu thuận thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu học, tụng giới Bồ-tát thì ngày đêm sáu thời nghiêm trì giới Bồ-tát, hiểu rõ, lý giải về tánh của Phật tánh. Là Bồ-tát mà không hiểu được một câu một kệ và nhân duyên của giới luật, thế mà dối là có thể thông hiểu tất cả pháp Phật. Như vậy là tự lừa dối mình, lừa dối kẻ khác. Tất cả pháp đều mù mờ, không hiểu, vậy mà làm Pháp sư truyền giới cho người khác, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì tâm ý xấu ác nên thấy Tỳ kheo trì giới tay bưng lư hương, thực hành hạnh Bồ-tát mà gây tạo mâu thuẫn cho bên này bên kia, phỉ báng, vu khống người Thánh thiện, không việc ác nào không làm. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì tâm từ bi nên thực hành phóng sanh, phải nghĩ như vầy: Tất cả nam giới là cha ta, tất cả nữ giới là mẹ ta. Ta nhiều đời đều từ họ sanh ra, nên sáu đường chúng sanh đều là cha mẹ ta, ta giết mà ăn tức là giết cha mẹ ta mà ăn, và cũng giết chính thân cũ của ta mà ăn. Tất cả thể cứng, thể lỏng và sức nóng, sức động đều là thân thể cũ của ta. Vì thế nên thường phóng sanh. Đời đời thọ sanh, là pháp thường còn nên dạy bảo người khác phóng sanh. Khi thấy người đời giết hại sinh vật, nên tìm cách cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Thường giáo hóa, giảng dạy giới Bồ-tát cho người để cứu hộ chúng sanh. Nếu gặp ngày mất của cha mẹ, anh em thì nên thỉnh Pháp sư diễn giảng kinh luật Bồ-tát giới. Người chết nhờ phước đức ấy, được diện kiến chư Phật hay sanh trong cõi người hoặc sinh lên cõi trời. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Đây là mười giới nhẹ cần nên vâng học, kính tâm phụng trì. Như trong phẩm “Diệt tội” giảng rõ mỗi giới.

Này Phật tử! Không được dùng sự giận dữ đáp lại sự giận dữ, không được dùng sự đánh đập trả lại sự đánh đập, cũng không được giữ tâm niệm báo thù những kẻ sát hại cha mẹ, anh em, bà con của ta, hay kẻ sát hại quốc chúa. Tàn sát sự sống để trả thù sự sống là điều không thuận với đạo hiếu. Hãy còn không nuôi nô bộc, tỳ thiếp, rồi đánh đập mắng chửi, mỗi ngày dấy lên ba nghiệp nhất là khẩu nghiệp tạo ra vô lượng tội. Huống chi lại cố làm đến bảy tội nghịch. Là Bồ-tát xuất gia không có lòng từ bi mà cố báo thù đến nỗi trong họ hàng bà con cũng quyết không tha, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu mới xuất gia, chưa thông hiểu gì, tự ỷ mình thông minh, cao sang lớn tuổi, dòng họ quyền quý, kiến thức rộng lớn, phước nhiều giàu có, đủ cả bảy báu rồi sanh tâm kiêu mạn, không chịu học hỏi kinh luật với các vị Pháp sư đã học trước. Các vị đó có thể là người ở dòng họ thấp kém, tuổi tác nhỏ hơn, thuộc hàng thấp kém hay có tật nguyền, nhưng thật là người có đức, lý giải thấu đáo các kinh luật. Nếu Bồ-tát mới học mà chỉ chú tâm về dòng họ và địa vị, không chịu đến học hỏi đệ nhất nghĩa đế ở vị Pháp sư ấy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có tâm nguyện tốt muốn lãnh thọ giới Bồ-tát bằng cách tự nguyện lãnh thọ giới trước hình tượng Phật Đà, hình tượng Bồ-tát, thì phải sám hối trong bảy ngày trước hình tượng Phật Đà, hình tượng Bồ-tát, hễ thấy được tướng tốt là đắc giới. Nếu chưa thấy được tướng tốt thì phải hai tuần, ba tuần cho đến một năm, cầu thấy được tướng tốt. Khi thấy được tướng tốt rồi, liền có thể thọ giới trước hình tướng Phật Đà, hình tượng Bồ-tát. Nếu không thấy được tướng tốt, thì dù thọ giới trước hình tượng Phật cũng không thể gọi là đắc giới. Nên lãnh thọ giới Bồ-tát bằng cách hiện diện đối trước vị Pháp sư đã thọ giới trước mình, thì không cần thấy được tướng tốt. Vì sao? Vì vị Pháp sư đã được các vị Pháp sư trước truyền giới rồi nên không cần thấy tướng tốt. Như vậy hễ thọ giới trước Pháp sư liền đắc giới, do tâm hết mực kính trọng sanh khởi nên đắc giới ngay. Nếu trong vòng ngàn dặm, không ai có thể làm vị Pháp sư truyền thọ giới Bồ-tát thì người muốn thọ giới ấy có thể tự nguyện lãnh thọ trước hình tượng Phật Đà, hình tượng Bồ-tát, nhưng cũng phải thấy cho được tướng tốt. Nếu vị Pháp sư ỷ mình lý giải thông kinh luật và giới pháp Đại thừa, chỉ làm bạn với quốc vương, vương tử, trăm quan, còn các vị Bồ-tát mới học đến thưa hỏi ý nghĩa của Luật của Kinh, vị Pháp sư đó vì tâm lý khinh mệt, kiêu ngạo, không chịu tận tâm chỉ bảo những điều họ thưa hỏi, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu có chánh pháp Đại thừa trong kinh luật Như Lai dạy về chánh kiến, chánh tánh, chánh pháp thân, không nỗ lực học tập, mà xả bỏ như bỏ bảy thứ báu, lại học tập sách vở theo tà kiến Nhị thừa, ngoại đạo và thế tục như các bộ A-tỳ-đàm, các luận thuyết hỗn tạp, thi văn truyện ký, thế thì làm mất Phật tánh, cản trở đạo nghiệp không phải thực hành đạo. Nếu cố ý học tập thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu sau khi Phật nhập diệt, làm chủ sự thuyết pháp, làm chủ nơi tăng phường, làm chủ sự giáo hóa, làm chủ sự tọa thiền, làm chủ sự đi lại, nên sanh tâm từ bi, khéo hòa giải mọi việc mâu thuẫn, khéo giữ gìn vật của Tam bảo, đừng sử dụng vô độ như của riêng. Nếu trái lại làm cho Tăng chúng rối loạn, tranh cãi, mặc sức sử dụng của Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu đã ở trước trong tăng phường, sau thấy các vị khách Bồ-tát Tỳ-kheo đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành thị, thôn xóm của mình, hay của vua chúa, đến nơi kiết hạ an cư, hay chỗ trai hội cầu phước thì mình là tăng ở trước, nên đón rước, tiễn đưa cúng dường thức ăn uống, phòng ở, đồ nằm, giường cây hay giường giây, mọi việc đều cung cấp. Nếu không có sẵn thì dù phải bán mình, bán cả con cái cũng gắng cung phụng những vật cần dùng cho những vị ấy. Nếu có thí chủ đến thỉnh chư tăng thì các vị khách tăng ấy cũng có phần. Vị chỉ tăng phường phải theo thứ tự mời các vị khách tăng ấy thọ thỉnh. Nếu chư tăng ở trước chỉ thọ riêng, không mời các vị khách tăng thì vị chủ tăng phường phạm tội lỗi vô lượng, không khác gì loài vật, không phải là Sa môn, không phải là dòng họ Thích Ca. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Trường hợp nào cũng không được thọ thỉnh riêng biệt, thu nhận đồ hiến cúng về cho mình. Vật cúng dường là thuộc về chư tăng mười phương. Nếu thọ thỉnh riêng biệt, tức là lấy vật của chư tăng mười phương gom góp cho mình, xâm phạm đến vật của Phật Đà, Thánh Hiền (Hòa thượng, A-xà-lê), đại sư, chư tăng, cha mẹ và người bệnh trong tám ruộng phước vì chỉ dùng cho riêng mình, nên phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Dù là Bồ-tát xuất gia hay Bồ-tát tại gia hoặc vị thí chủ nào, khi muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, phải đến tăng phường hỏi vị Tri sự mà thưa: Vị Tri sư bảo: Theo thứ tự thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện tức là thỉnh được chư Hiền Thánh Tăng mười phương. Nếu như người đời thỉnh mời riêng biệt, dù thỉnh năm trăm vị La hán và Bồ-tát cũng không bằng thỉnh một vị Tăng phàm phu theo thứ tự của Tăng chúng. Thỉnh riêng là nề nếp của ngoại đạo, bảy đức Phật không có phép thỉnh riêng. Việc đó không thuận với đạo hiếu. Nếu cố ý thỉnh riêng thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì do tâm xấu ác, vì lợi dưỡng nên mua bán dâm nam dâm nữ, tự tay làm thức ăn, tự xay giã, coi tướng nam nữ, đoán mộng tốt xấu, đoán thai trai gái, làm các chú thuật, xảo thuật, luyện tập chim săn, thú săn như chim ưng, pha chế thuốc độc hòa hợp bằng trăm ngàn thứ độc, độc rắn, độc nơi vàng, bạc sống, độc hại dữ, không có lòng từ bi, lòng hiếu thuận. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Vì tâm xấu ác nên chính mình hủy báng Tam bảo, giả vờ như kính mến đối với Tam bảo, miệng nói không mà việc làm thì hoàn toàn là có, làm quản lý cho người đời, vì họ làm mai mối nam nữ kết hợp sắc dục tạo ra đủ thứ hệ lụy. Sáu ngày chay trong mỗi tháng, hay ba tháng chay trong năm cũng sát sánh, trộm cướp, phá trai phạm giới, thì phạm tội khinh cấu.

Đây là mười giới nhẹ, cần nên vâng học kính tâm phụng trì, trong phẩm “Chế giới” có giảng rõ.

Này Phật tử! Sau khi Như Lai nhập diệt, trong đời ác, nếu thấy ngoại đạo và những kẻ tàn ác hay đám giặc cướp chiếm đoạt, buôn bán hình tượng Phật Đà, hình tượng Bồ-tát, hình tượng cha mẹ, bán kinh bán luật, bán các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, bán Bồ-tát mới phát tâm Bồ đề, cho quan lại sai khiến hay cho kẻ khác làm nô bộc, tỳ thiếp. Là Bồ-tát khi đã thấy sự việc ấy nên sanh tâm từ bi, dùng mọi cách để cứu vớt, đi khắp mọi nơi để kiếm tiền chuộc lại hình tượng Phật, Bồ-tát cùng tất cả kinh luật, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Bồ-tát mới phát tâm. Nếu không chuộc như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Không được cất chứa buôn bán dao gậy, cung tên, dụng cụ cân non đong thiếu, dựa vào uy thế của quan quyền chiếm đoạt tài vật của người khác, giam cầm và phá hoại sự thành công của người khác, bằng tâm ác độc, nuôi lớn mèo, chồn, heo, chó. Nếu cố ý làm những việc như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Không được đem tâm đen tối xem sự đấu sức của nam nữ, quân trận của tướng sĩ, giặc cướp… Không được xem ca múa, cờ bạc, đá cầu, đá bóng, bói toán, làm liên lạc cho đám giặc… Những việc như trên đều không được làm. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Phải nghiêm trì giới pháp, mọi cử động đi đứng nằm ngồi, ngày đêm sáu thời đều đọc tụng giới pháp, giữ vững chắc như kim cương, như chiếc phao nổi khi qua biển, như các Tỳ-kheo bị trói buộc bằng cỏ, thường phát khởi đức tin cao đẹp của Đại thừa, tự biết ta là Phật sẽ thành, chư Phật là Phật đã thành, nên luôn phát tâm Bồ đề không thối lui. Nếu khởi lên một ý niệm của Nhị thừa, ngoại đạo, thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Phải thường phát khởi mọi nguyện cầu, như hiếu thuận cha mẹ, đại sư, chư Tăng, Tam bảo, nguyện gặp được vị Pháp sư tuyệt hảo và các vị tri thức thiện cùng một sự học, để luôn luôn dạy cho mình kinh luật Đại thừa và các quả vị Bồ-tát như mười Phát thú, mười Trưởng dưỡng, mười Kim cang, mười Địa làm cho mình lý giải và thực hành chính xác; nguyện kiên trì giới Phật, thà xả bỏ thân mạng chứ niệm niệm không lìa bỏ tâm ấy. Nếu Bồ-tát không phát những lời nguyện như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Khi phát khởi mười lời thề nguyện rộng lớn rồi, để kiên trì giới pháp của Phật, tự thề: Thà đem thân nầy gieo xuống hố lửa, núi đao, quyết không phá hủy giới pháp của chư Phật nơi ba đời bằng cách làm sự bất tịnh với người nữ nào.

Lại thề: Thà bị lưới sắt nóng ngàn lớp quấn lấy thân hình, quyết không đem thân phá giới mặc y phục của tín đồ dâng cúng.

Thề: Thà miệng phải nuốt viên sắt nóng hay dòng lửa dữ đến cả trăm ngàn đời, quyết không đem miệng phá giới ăn thực phẩm của tín đồ dâng cúng.

Thề: Thà thân nầy bị nằm trong lưới sắt đỏ hay trên đất sắt nóng, quyết không đem thân phá giới nằm ngồi giường ghế của tín đồ dâng cúng.

Thề: Thà thân nầy một đời vài đời chịu hàng trăm mũi giáo đâm vào, quyết không đem thân phá giới dùng các loại thuốc men của tín đồ dâng cúng.

Thề: Thà thân nầy gieo vào vạc sắt nóng cả trăm ngàn đời, quyết không đem thân phá giới vào phòng nhà, ruộng vườn, đất đai của tín đồ dâng cúng.

Thề: Thà thân nầy bị chùy sắt giáng đập từ đầu đến chân nát như bụi, quyết không đem thân phá giới nhận sự cung kính lễ bái của tín đồ.

Lại thề: Thà bị cả trăm khí cụ bằng sắt móc mất đôi mắt, quyết không đem mắt với tâm phá giới nhìn vào sắc đẹp của người.

Thề: Dù một đời hai đời bị cả trăm ngàn dùi sắt đâm vào hai tai, quyết không đem tai ấy với tâm phá giới nghe tiếng hay ho.

Thề: Thà bị trăm ngàn dao bén cắt mắt mũi đi, quyết không đem mũi ấy với tâm phá giới ngửi đến hương thơm.

Thề: Thà lưỡi bị cả trăm ngàn dao bén cắt đứt, quyết không đem lưỡi ấy với tâm phá giới nếm vào vị ngon.

Thề: Thà thân nầy bị chặt bị chém bằng búa sắt, quyết không đem thân ấy với tâm phá giới chạm vào chỗ ưa thích. Lại phát nguyện: Nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật. Nếu Bồ-tát không phát khởi những lời thề như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Thường mỗi năm có hai kỳ thực hành hạnh đầu đà, mùa đông, mùa hạ phải tọa thiền an cư. Thường dùng nhánh dương làm tăm, đậu để rửa, ba pháp y, bình bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, đãy lọc nước, khăn tay, con dao, đồ lấy lửa, nhíp, giường giây, kinh luật Bồ-tát, hình tượng Phật và Bồ-tát. Là Bồ-tát khi thực hành hạnh đầu đà và du hóa, dù đi lại cả trăm ngàn dặm cũng phải mang mười tám vật ấy theo mình. Hai kỳ đầu đà là từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba, từ rằm tháng tám đến rằm tháng mười. Trong hai kỳ này, mười tám vật vẫn mang theo mình như hai cánh của con chim. Đến ngày bố tát, các vị Bồ-tát mới học mỗi nửa tháng phải bố tát, tụng mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Khi tụng, đối trước tượng Phật, Bồ-tát mà tụng. Một người bố tát thì một người tụng. Nếu hai, ba cho đến hàng trăm ngàn người cũng chỉ tụng một người. Người tụng ngồi cao người nghe ngồi thấp, ai cũng mang pháp y chín điều, bảy điều hay năm điều. Kiết hạ an cư nhất nhất phải đúng như pháp. Khi thực hành hạnh đầu đà, đừng đến chỗ tai nạn, chỗ nguy hiểm, quốc chúa tàn ác, chỗ đất quá cao thấp, chỗ cây cối rậm rạp, chỗ có cọp beo sư tử, chỗ hay bị nạn nước lửa gió, chỗ có giặc cướp, chỗ đường sá lắm rắn độc, những nơi tai nạn như vậy đều không được đến đó. Thực hành hạnh đầu đà cho đến kiết hạ an cư đều không được đến những nơi tai nạn như vậy. Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Phải nên theo thứ tự đúng pháp mà ngồi, người thọ giới trước thì ngồi trước, người thọ giới sau thì ngồi sau. Không kể già trả, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, người sang như quốc vương, vương tử, cho đến huỳnh môn, nô bộc, tỳ thiếp… tất cả đều nên theo thứ tự mà ngồi: Người thọ giới trước thì ngồi trước, người thọ giới sau thì ngồi sau. Đừng như ngoại đạo ngu si già cũng như trẻ không trước không sau, ngồi trước ngồi sau lộn xộn như binh nô. Trong chánh pháp của Như Lai, người trước ngồi trước, người sau ngồi sau. Là Bồ-tát mà không theo thứ tự mà ngồi thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Thường nên khuyến hóa mọi người xây dựng tăng phường nơi núi rừng, ruộng vườn, xây dựng tháp Phật, chỗ an cư tọa thiền trong mùa đông, mùa hạ, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến tạo. Là Bồ-tát nên diễn giảng cho mọi người về kinh luật Đại thừa. Những lúc tật bệnh, nước có nạn giặc giã, ngày cha mẹ, anh em, Hòa thượng, A-xà-lê mạng vong thì từ ngày ấy cho đến ngày thất thứ ba và chung thất cũng nên trì tụng và diễn giảng kinh luật Đại thừa. Những lúc làm chay cầu phước đi lại làm ăn bị lửa dữ thiêu đốt, nước lớn trôi chìm, gió bão thổi dạt thuyền bè nơi sông to biển lớn gặp nạn quỷ la sát, cũng nên trì tụng giảng nói kinh luật Đại thừa. Cho đến hết thảy khổ báo, ba ác, bảy nghịch, tám nạn, gông cùm, xiềng xích, trói buộc, nhiều dâm dục, sân giận, ngu si, tật bệnh đều nên giảng nói kinh luật Đại thừa. Nếu Bồ-tát mới học không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Chín giới như vậy cần nên vâng học kính tâm phụng trì, trong phẩm “Phạn đàn” có giải rộng.

Này Phật tử! Khi nhận người thọ giới không được lựa chọn. Tất cả quốc vương, vương tử, tể tướng, trăm quan, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thiện nam, thiện nữ, dâm nam, dâm nữ, Phạm thiên nơi mười tám tầng trời, thiên nhân nơi sáu tầng trời thuộc cõi Dục, những kẻ vô căn, hai căn, huỳnh môn, nô bộc, tỳ thiếp, tất cả quỷ thần ai cũng được thọ giới Bồ-tát. Phải nên dạy người thọ giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc cho hợp với chánh pháp. Hoại sắc là nhuộm tất cả pháp y và ngọa cụ bằng màu sắc phá hủy của các màu sắc chính là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, tía. Mọi thứ y phục đều nhuộm như vậy. Bất cứ quốc độ nào, dân chúng mặc y phục thế nào thì vị Tỳ-kheo phải ăn mặc khác họ. Khi sắp thọ giới Bồ-tát, vị Pháp sư phải xét hỏi: Ở đời nay, ông có tạo bảy tội nghịch không? Vị Pháp sư Bồ-tát không được cho người ở đời này làm bảy tội nghịch thọ giới Bồ-tát. Bảy tội nghịch là làm thân Phật chảy máu, giết cha, giết mẹ, giết Hòa thượng, giết A-xà-lê, phá yết ma tăng và Pháp luân tăng, giết Thánh Hiền. Nếu tạo đủ bảy tội nghịch thì kẻ ấy thân hiện tại không thể được giới Bồ-tát. Ngoài ra ai cũng có thể thọ và đắc giới. Các pháp của người xuất gia không lạy quốc vương, cha mẹ, bà con, không lạy quỷ thần, hễ ai hiểu lời nói của vị Pháp sư đều được thọ giới. Có người từ trăm ngàn dặm đến cầu pháp, nếu vị Pháp sư ấy vì tâm ác, giận ghét không truyền ngay cho họ giới pháp mà tất cả chúng sanh đều có phần thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu giáo hóa cho người phát sanh đức tin Đại thừa rồi, Bồ-tát làm Pháp sư chỉ bảo cho người, khi thấy học muốn thọ giới Bồ-tát phải chỉ bảo cách thỉnh hai vị đại sư là Hòa thượng và A-xà-lê. Hai vị đại sư phải hỏi người ấy có phạm bảy tội nghịch làm trở ngại không? Nếu người ấy đời này có phạm bảy tội nghịch thì Pháp sư không được cho người ấy thọ giới Bồ-tát, nếu không phạm bảy tội nghịch thì cho họ được thọ. Nếu người nào phạm mười giới trọng nên dạy họ sám hối, bằng cách đối trước hình tượng Phật, Bồ-tát, ngày đêm sáu thời tụng mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, thiết tha đảnh lễ ba ngàn đức Phật ở ba thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai, cầu cho được thấy tướng tốt. Sám hối như thế cứ một tuần, hai, ba tuần cho đến một năm phải làm sao thấy được tướng tốt. Tướng tốt là thấy Phật đến xoa trên đỉnh đầu, thấy ánh sáng của Phật, thấy hoa sen hoặc thấy các tướng kỳ lạ khác thì tội lỗi liền diệt hết. Nếu không thấy được tướng tốt như vậy, dù có sám hối cũng không có lợi ích. Người ấy, ở thân đời này không được đắc giới, nhưng có lợi ích cho việc thọ giới. Nếu ai phạm bốn mươi tám giới khinh nên chỉ bảo người ấy sám hối trước một vị khác thì tội lỗi sạch ngay, không như bảy tội nghịch. Làm Pháp sư chỉ dạy phải thấu hiểu các cách trên đây. Nếu không hiểu rõ kinh luật Đại thừa, những giới khinh, giới trọng, không rõ sự đúng, sai, không lý giải đệ nhất nghĩa đế, tánh tập chủng, tánh trưởng dưỡng, tánh không thể hoại, tánh đạo chủng, tánh chánh pháp, trong tất cả các tánh như vậy không thấu rõ quán hạnh nhiều ít và ra vào thế nào, mười chi thiền định và bao nhiêu quán hạnh khác cũng đều không hiểu ý nghĩa của nó. Là Bồ-tát vì quyền lợi, danh vọng, cầu điều xấu xa, cầu quá nhiều, vì tham nhiều đệ tử mà làm như thấu hiểu tất cả. Đó chính là tự lừa dối mình lại lừa dối kẻ khác. Vậy mà còn cố ý truyền giới cho người thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Không được vì lợi dưỡng mà giảng nói giới pháp vĩ đại của ngàn đức Phật cho người chưa thọ giới Bồ-tát, những kẻ ngoại đạo và người xấu ác. Trước những kẻ tà kiến cũng không được nói. Trừ quốc vương, ngoài ra không được nói cho ai cả. Những người ác ấy không thọ giới của Phật thì như súc sinh đời đời sanh ra không gặp Tam bảo, như cây cỏ đất đá không hồn, nên gọi là hàng ngoại đạo tà kiến, người xấu ác chẳng khác gì đầu gỗ. Là Bồ-tát trước những kẻ như vậy mà nói đến giáo pháp của bảy đức Phật thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu đem hết lòng tin mà xuất gia và lãnh thọ giới pháp chân chánh của Phật rồi, lại cố ý khởi tâm hủy phạm giới thì không được nhận mọi sự hiến cúng của thí chủ, không được đi trên đất của đất nước, cũng không được uống nước của đất nước, bị cả năm ngàn quỷ dữ thường ngăn chận trước mặt bảo: Đó là giặc lớn. Khi vào nhà cửa, thành thị, thôn xóm thì bị đám quỷ thường quét dấu chân của người ấy, người đời ai cũng nhục mạ: Đó là tên giặc trong pháp Phật. Chúng sanh không ai muốn nhìn, kẻ phạm giới chẳng khác gì loài vật, đầu gỗ.

Nếu cố ý vi phạm giới pháp chính yếu thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nên thường xuyên nhất tâm thọ trì, đọc tụng kinh luật Đại thừa, lột da làm giấy, chích máu làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm bút để sao chép giới pháp của Phật trên vỏ cây giấy; trên giấy như giấy dó, giấy dạ; trên lụa như lụa trắng, lụa tơ tằm; trên thẻ tre. Thường dùng bảy thứ báu hay những thứ tạp ngọc vô giá, thơm đẹp làm hộp để tôn trí kinh luật Đại thừa đó. Nếu không cúng dường đúng pháp như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nên thường xuyên phát khởi tâm đại bi, khi vào những nơi thành thị, thôn xóm, nhà cửa, thấy bất cứ ai đều nên nói: Này các người! Hãy nên lãnh thọ ba quy y và mười giới pháp. Nếu thấy tất cả các loài súc sinh như bò, ngựa, heo, dê, đều tâm nghĩ miệng nói: Súc sinh các con! Các con nên phát tâm Bồ đề. Là Bồ-tát đi đến đâu dù là nói non, rừng rú hay khe suối, đồng nội cũng đều làm cho tất cả chúng sanh phát tâm Bồ đề. Nếu Bồ-tát không giáo hóa chúng sanh như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nên thường thực hành giáo hóa bằng khởi tâm đại bi. Khi vào nhà tín đồ hay nhà quyền quý, đối với tập thể nào người xuất gia cũng không được đứng thuyết pháp cho người tại gia. Phải ngồi ở chỗ cao, trước mặt họ. Pháp sư Tỳ-kheo cũng không được đứng đất nói pháp cho bốn chúng. Khi thuyết pháp, vị Pháp sư được mời ngồi chỗ cao, hương hoa cúng dường, còn bốn chúng ngồi nghe ở chỗ thấp với ý niệm như kính thuận cha mẹ, cung kính lời giáo huấn của Pháp sư như các đạo sĩ thờ thần lửa. Nếu người thuyết pháp không đúng pháp như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Như quốc vương, thái tử, trăm quan, đối với bốn chúng đệ tử, đã đem đức tin Đại thừa lãnh thọ giới của chư Phật rồi, mà lại tự ỷ quyền quý cao sang để phá hoại giáo pháp giới luật của Phật, lập ra quy chế ràng buộc bốn chúng đệ tử của Như Lai, không cho họ xuất gia, hành đạo, cũng không cho họ tạo lập hình tượng, chùa tháp và truyền ba kinh luật. Lại đặt chức thống quản để chế ngự chư Tăng, lập sổ sách để kiểm soát chư Tăng, Bồ-tát Tỳ-kheo để đứng ở đất, bạch y cư sĩ lại tự ngồi cao, làm nhiều điều trái chánh pháp, giới luật như binh nô thờ chủ. Nhưng Tỳ-kheo Bồ-tát chính nên được mọi người kính trọng lại bắt làm kẻ tay sai của đám quan quyền một cách trái giáo pháp với giới luật. Nếu hàng quốc vương, trăm quan đã có tâm tốt lãnh thọ giới của Phật rồi chớ gây tạo những tội lỗi phá Tam bảo như thế. Nếu cố ý làm những pháp phá hoại Tam bảo thì phạm tội khinh cấu.

Này Phật tử! Nếu đã có tâm tốt xuất gia rồi, lại vì danh vọng, quyền lợi, nên trước mặt quốc vương, trăm quan nói về giới pháp của bảy đức Phật một cách phi lý, làm cho các vị đệ tử Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni và Bồ-tát bị trói buộc bằng lao tù hay quân dịch. Như con sâu trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử, không phải con sâu ở ngoài. Cũng thế, chính Phật tử tự hủy phá pháp Phật chứ không phải ngoại đạo, ma vương phá được. Người lãnh thọ giới pháp của Phật, nên hộ trì giới luật của Phật như thương yêu con một, như kính thờ cha mẹ, không được vi phạm. Là Bồtát khi nghe ngoại đạo và người ác dùng lời xấu ác hủy báng giới pháp của Phật, thì đau đớn chẳng khác nào cả ba trăm mũi nhọn đâm vào tim mình, hay cả ngàn lưỡi dao, vạn cây gậy đánh đập vào thân. Thà tự mình vào trong địa ngục cả trăm kiếp, chứ không muốn nghe tiếng nói của kẻ ác hủy báng, phá hoại giới pháp của Phật, dù một lần, huống nữa là tự mình phá hoại giới pháp của chư Phật, hay tạo điều kiện khuyến khích kẻ khác phá hoại pháp Phật, không còn gì là tâm hiếu thuận. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.

Chín giới nhẹ như vậy, cần nên vâng học, kính tâm phụng trì.

Này Phật tử! Bốn mươi tám giới pháp khinh (nhẹ) như trên đây, các người hãy thọ trì, chư Bồ-tát quá khứ đã tụng, chư Bồ-tát vị lai sẽ tụng, chư Bồ-tát hiện tại đang tụng.

Này Phật tử! Hãy lắng nghe kỹ, mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh ấy, chư Phật trong ba đời đã tụng, sẽ tụng và đang tụng. Như Lai nay cũng tụng như vậy. Đại chúng các người không kể quốc vương, vương tử, trăm quan, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, thiện nam, thiện nữ, hễ lãnh thọ giới Bồ-tát thì phải thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết, viết chép kinh nói về giới pháp của Phật tánh thường trú, truyền bá cho tất cả chúng sanh trong ba đời, khiến sự cảm hóa được liên tục. Như vậy, sẽ thấy được ngàn đức Phật, Ngài nào cũng trao tay cho, đời đời không sa vào đường dữ, tám nạn, thường được sanh trong loài trời, người. Hôm nay, Ta ở nơi cây Bồ đề này, đã khai thị tóm tắt giới pháp của bảy đức Phật, các người hãy nhất tâm học tập, hoan hỷ phụng hành giới pháp ấy, như Như Lai đã khai thị tất cả trong phần khuyến học của phẩm Vô tướng thiên vương.

Khi ấy, ba ngàn người học hạnh Bồ-tát lắng nghe đức Phật tụng giới, hết lòng kính trọng, hoan hỷ phụng hành.

Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói xong mười phẩm pháp giới vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa của đức Lô-xá-na ở thế giới Hoa Tạng đã nói, ngàn trăm ức Thích Ca khác cũng nói như vậy. Từ cung thiên vương Ma hê thủ la đến cội Bồ đề, trải qua mười chỗ thuyết các pháp phẩm cho chư vị Bồ-tát và vô lượng đại chúng không thể kể hết được thọ trì, đọc tụng, giảng nói, lý giải nghĩa lý như nhau. Một ngàn trăm ức thế giới, thế giới Hoa Tạng, các thế giới nhiều như vi trần đều giảng thuyết về kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng hạnh nguyện, kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú. Như vậy, chư Phật đã nói xong vô lượng kho tàng chánh pháp. Tất cả chúng sanh trong ngàn trăm ức thế giới đều thọ trì, hoan hỷ phụng hành. Nếu khai thị tướng nghĩa của tâm địa rộng rãi thì phải như trong phẩm Phật hoa quang vương đã nói.

Người sáng tuệ nhẫn mạnh
Thọ trì được pháp nầy
Khi chưa thành Phật đạo
Được hưởng năm điều lợi.
Một là thập phương Phật
Thương tưởng hộ trì cho
Hai là lúc lâm chung
Chánh niệm, tâm an vui.
Ba là sanh nơi nào
Cùng Bồ-tát làm bạn
Bốn là những công đức
Giới độ đều thành tựu.
Năm, đời này, đời sau
Đủ phước tuệ giới tánh
Là hành xứ của Phật
Người trí khéo suy nghĩ.
Kẻ vướng tướng, chấp ngã
Không thể tin pháp nầy
Diệt tận, chứng Niết Bàn
Không gieo giống nơi ấy.
Muốn nảy mầm Bồ đề
Tuệ giác soi thế gian
Thường nên quan sát kỹ
Thật tướng của các pháp.
Không sanh cũng không diệt
Không thường lại không đoạn
Không giống cũng chẳng khác
Không đến cũng không đi.
Trong thể nhất tâm ấy
Nỗ lực tu trang nghiêm
Việc Bồ-tát nên làm
Phải tuần tự học tập.
Nơi học nơi vô học
Chớ sanh tưởng phân biệt
Gọi là đệ nhất đạo
Cũng là pháp Đại thừa.
Mọi hý luận lỗi lầm
Đều do đây dứt sạch
Trí toàn giác của Phật
Đều do đấy mà thành.
Thế nên các Phật tử
Phải phát tâm dũng mãnh
Nghiêm trì giới của Phật
Trong sạch như minh châu.
Chư Bồ-tát quá khứ
Đã học tập giới này
Vị lai thì sẽ học
Như hiện tại đang học.
Đây là đường Phật đi
Là chỗ Phật khen ngợi
Ta đã tùy thuận nói
Tụ vô lượng phước đức.
Hồi hướng cho chúng sanh
Cùng đến Nhất thiết trí
Nguyện người nghe pháp này
Chóng thành tựu Phật đạo.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*