Tên gọi riêng của mười ngón tay trong Thủ ấn Mật tông

Trong Mật giáo có tên gọi khác đặc thù đối với hai tay cũng như 10 ngón tay kiết ấn, thường gọi hai tay là nhị vũ, nhật nguyệt chưởng, nhị chưởng; gọi mười ngón tay là Thập độ (Thập Ba La Mật), Thập Luận, Thập Liên, Thập Pháp Giới, Thập Chân Như, Thập Phong. Lại đem hai tay phối với Kim Cang giới và Thai tạng giới, hoặc phối với Định và Huệ, Lý và Trí, … như liệt kê ở bảng sau.

Còn dùng năm ngón tay phối với Ngũ Uẩn, Ngũ Phật đỉnh, Ngũ căn, Ngũ đại, … ; Mười ngón tay phối với Thập độ, như Liệt kê trong bảng ở dưới đây.
Trong đó, dùng ngũ tự để đại biểu cho kinh quỹ có: Nhiếp đại quỹ, Liên hoa bộ tâm quỹ.

Trong đó, dùng Ngũ tự để đại biểu cho kinh quỹ có: “Nhiếp đại quỹ”, “Liên hoa bộ tâm quỹ”.
Dùng Ngũ đại để đại biểu cho ngón tay có: “Thai tạng Phạn tự thứ đệ”, “Thai tạng bị tại thứ đệ”, “Đại Nhật kinh”, “Đại Nhật kinh sớ”, “Thai tạng tứ bộ quỹ”, “Tô tất địa kinh”, “Tôn thắng quỹ”, “Hồng già Đà dã quỹ” do ngài Thiện Vô Úy dịch.
Dùng Ngũ căn để đại biểu xuất phát từ “A Chứng quỹ”, dùng Ngũ uẩn để đại biểu xuất phát từ bộ “Tỳ Sa Môn thiên vương quỹ” do Kim Cang Trí dịch. Dùng Ngũ Phật đỉnh để đại biểu xuất phát từ “Nhất tự đỉnh luân vương quỹ”, “Kỳ đặc Phật đỉnh quỹ”, “Dược Sư tiêu tai quỹ” do ngài Bất Không dịch.



  • Leave a Comment