Thiền Phật giáo Tiểu thừa

Trong Phật giáo Tiểu thừa, Thiền được chia thành bốn loại (Tứ Thiền, Tứ Tĩnh Tự):
– Sơ Thiền
– Nhị Thiền
– Tam Thiền
– Tứ Thiền
Sơ thiền: Phương thức tư duy là “tầm” (tìm cầu, giác ngộ), “tứ” (quan sát, quán triệt), từ tác dụng của tầm, tứ, người tham thiền lìa dục giới, đạt được trạng thái hỷ, lạc, gọi là “ly sinh hỷ lạc” (hỷ lạc do lìa xa dục giới).
Nhị thiền: cấp Nhị thiền tiến thêm một bước đoạn diệt tác dụng tầm, tứ vốn lấy danh ngôn văn tự làm đối tượng suy xét, không còn tầm và tứ, hình thành tín căn, gọi là “nội đẳng tịnh” (tức nội tịnh), từ đó đạt đến trạng thái hỷ, lạc do định sinh ra, gọi là “định sinh hỷ lạc”, cao hơn cấp Sơ thiền.
Tam thiền: Phương thức tư duy của Tam thiền là hành xả, chính niệm, chính tri (dùng trí tuệ chân chính để quan sát chân tướng sự vật), ở cấp thiền này xả bỏ hỷ, lạc có được do Nhị thiền, trụ ở cảnh giới “hành xả” phi khổ phi lạc, và dùng chính niệm, chính tri tu tập, đạt đến cảm giác lạc vi diệu do lìa bỏ hỷ, gọi là “ly hỉ diệu lạc”.
Tứ thiền: xả cảm thọ diệu lạc có được ở Tam thiền, gọi là “xả thanh tịnh”, chỉ niệm tu dưỡng công đức, gọi là “niệm thanh tịnh”, từ đó đạt đến cảm thọ “bất khổ bất lạc”.
Thiền pháp tiểu thừa lưu hành trong thời kỳ đầu Phật giáo Trung Quốc chủ yếu là thiền pháp “An-Ban thủ ý” do An Thế Cao truyền bá. Đây là thiền pháp kết hợp đếm hơi thở ra hít vào để làm cho nội tâm tán loạn bất an đạt được yên tĩnh, có nhiều điểm tương đồng với phép hô hấp thổ nạp trong thuật thần tiên của Đạo giáo thời đó.
Trích THIỀN TÔNG PHẬT GIÁO – Tủ sách Bách khoa Phật giáo



  • Leave a Comment