Danh hiệu Đức Bồ tát Địa Tạng

DANH HIỆU và ĐẠI NGUYỆN ĐỊA TẠNG BỒ TÁT

DiaTangBotat
Địa Tạng Bồ Tát tên Phạn là Kṣiti-garbha, dịch âm là Tát Khất Xoa Để Nghiệt Bà.

Kṣi là động từ mang nghĩa: chịu đựng, tồn tại, cư trú, nơi ở.
Kṣiti: nghĩa là trú xứ, nơi đang cư ngụ, căn nhà, đất trồng trọt, đất nước, quê hương, trái đất.
Garbha: nghĩa đen là Tử cung, dạ con, có thai, thọ thai, tưởng tượng, hình thành trong trí óc. Nghĩa bóng là cất chứa, ôm giữ.
Kṣiti-garbha được dịch ý là Địa Tạng, tức là người ôm giữ trái đất hoặc Mẫu Thể của Đại Địa.

Do đất hay chuyên chở vạn vật, giúp cho vạn vật sinh sôi nảy nở, hàm chứa vô số nguồn lợi, tiền tài, vật báu…cho nên Địa Tạng là vị Bồ Tát biểu thị cho kho báu tiềm ẩn trong Đại Địa, hay chuyên chở mọi khổ nạn của tất cả chúng sinh, khiến cho họ phát triển căn lành, được tài bảo vô tận, tròn đủ Phước Đức (Puṇya) Trí Tuệ (Prajñā).

Nếu người tu hành theo Pháp của Địa Tạng Bồ Tát thì có thể khiến cho ngũ cốc [Đại Mạch (Yava), Tiểu Mạch (Godhūma), Lúa gié (Śāli), Tiểu Đậu (Masūra), mè (Atasī)] đầy kho, kéo dài mạng sống, tránh mọi hiểm nạn, tròn đủ tư lương (Sambhāra) Phước Trí vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi

Hồng danh hay được xưng tụng của địa tạng Bồ tát:
– Tiếng Việt:

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ tát

– Tiếng Anh:

Namo Great Vow Ksitigarbha King Bodhisattva
Namo Great vow Earth Treasury King Bodhisattva

– Tiếng Trung: 南無大願地藏王菩薩
Nguồn gốc của danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát được nói ở trong Kinh Địa Tạng Bồ Tát Thập Luân (Daśa-cakra-Kṣitigarbha-sūtra) là:
– “An nhẫn chẳng động giống như đại địa, lặng lẽ suy nghĩ ngầm biết kho tàng bí mật (Bí Tạng) cho nên gọi là Địa Tạng” “An nhẫn chẳng động giống như đại địa” là nói Nhẫn Ba La Mật (Kṣāntipāramitā) bậc nhất của Địa Tạng Bồ Tát, giống như đại địa (đất đai) hay chịu đựng chuyên chở mọi loại nghiệp tội của tất cả chúng sinh.
– “Lặng lẽ suy nghĩ” trong câu “Lặng lẽ suy nghĩ ngầm biết kho tàng bí mật” là hiển rõ sự chẳng thể luận bàn của Trí Tuệ Thiền Định ấy
Kinh Đại Phương Quảng Thập Luân, quyển một nói rằng:”Địa Tạng có ý nghĩa là ẩn chứa (kho báu bị che dấu trong lòng đất)” tức là nói tất cả kho báu ngầm dấu kín trong lòng đất đều là Địa Tạng
Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tính Luận, quyển 4 ghi rằng: “Dùng kho tàng ẩn chứa trong lòng đất ví như hiển bày Như Lai Tạng (Tathāgata-garbha). Nhưng kho báu này, một phương diện là đại biểu cho Phật Tính (Buddhatā) trong sạch không nhiễm bẩn của chúng sinh, hay khiến cho chúng sinh thành tựu viên mãn Phật Quả. Một phương diện khác là đại biểu cho Phước Đức, Trí Tuệ, Tài Bảo vô tận của sinh mệnh, cho nên Địa Tạng đại biểu cho tất cả kho tàng ẩn chứa Công Đức chẳng thể nghĩ bàn”
Địa (đất) còn có bảy ý nghĩa đặc trưng là:
1_ Đất hay sinh ra vạn vật
2_ Đất thu nhiếp vạn vật
3_ Đất chuyên chở vạn vật
4_ Đất cất giữ nhiều kho tàng của cải vật chất
5_ Đất hay nuôi dưỡng giúp cho vạn vật tăng trưởng
6_ Đất hay nâng đỡ, là chỗ dựa của vạn vật
7_ Đất bền chắc vững vàng, chẳng động
Do đó dùng hình dạng cụ thể của Đất (địa) để biểu thị cho Phước Đức có được của Địa Tạng Bồ Tát là:
1_ Địa Tạng Bồ Tát hay sinh ra mọi Pháp lành
2_ Địa Tạng Bồ Tát hay thâu nhiếp mọi Pháp lành trong Tâm Đại Giác
3_ Địa Tạng Bồ Tát hay gánh vác tất cả chúng sinh, dìu dắt họ tiến dần trên con đường giác ngộ.
4_ Địa Tạng Bồ Tát hay cất giữ mọi Pháp màu nhiệm
5_ Địa Tạng Bồ Tát hay dùng mọi Pháp lành bình đẳng giúp cho mọi chúng sinh tăng trưởng Chính Pháp giải thoát.
6_ Địa Tạng Bồ Tát là chỗ dựa vững chắc của tất cả chúng sinh.
7_ Địa Tạng Bồ Tát hay hiển bày tâm Bồ Đề mầu nhiệm, bền chắc như Kim Cương chẳng thể bị phá hoại.
 

Bài viết có sử dụng tài liệu của tác giả Huyền Thanh


  • Leave a Comment