Tổ Khánh Anh (1895-1961)

Tổ Khánh Anh (1895-1961)

THÀNH TÂM KÍNH LỄ KỶ NIỆM 58 NĂM (1961 – 2019)
NGÀY VIÊN TỊCH ĐỨC SƯ TỔ KHÁNH ANH

Hoà thượng họ Võ tên Hóa, hiệu Khánh Anh sanh năm Ất Tỵ (1895), tại xã Phổ Nhì, Tổng Lại Đức, Huyện Mô Đức, Tỉnh Quảng Ngãi (Trung phần Việt Nam) Hoà thượng theo đòi Nho học, từ nhỏ đã tỏ ra một bậc xuất sắc thời ấy.


Hòa thượng Tổ Khánh Anh (1895-1961)
– Thượng thủ Giáo hội Tăng già Toàn quốc (1959)
– Pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt (1957)
– Chứng minh Đạo sư Hội Phật học Nam Việt (1955)
– Pháp sư Hội Lưỡng Xuyên Phật học Trà Vinh (1935)
– Giáo sư Trường Gia Giáo chùa Giác Hoa – Bạc Liêu (1927)
– Trụ trì chùa Long An (1931), Phước Hậu (1942), Trà Ôn – Vĩnh Long

 

Năm 1916, vì chán cảnh thế phù hoa, cuộc đời vô thường giả tạm, Ngài quy y thọ giới nơi Sư cụ Chùa Cảnh Tiên với Pháp danh Chơn Húy và nhập chúng làm đạo tu ở Chùa Quang Lộc, tỉnh Quãng Ngãi năm 1917. Ngài thọ giới Sa di và nghiên cứu Kinh, Luật, Luận rồi thọ giới Tỳ kheo, Bồ tát với Pháp hiệu là Khánh Anh.

Năm 1927, Ngài vào Nam dạy học tại trường Gia Giáo Chùa Giác Hoa, Tỉnh Bạc Liêu và năm 1931 Hoà thượng về Trụ trì Chùa Long An (Đồng Đế) Quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Ở nơi đây Hoà thượng có rất nhiều Tăng đồ, tín đồ đến cầu học.

Năm 1932, Ngài nhận chức Pháp sư giảng dạy cho Liên đoàn học xã tại Chùa Thiên Phước, Trà Ôn ba tháng, Chùa Rạch Miễu ở Mỹ tho ba tháng.

Năm 1935, Ngài nhận chức Đốc giáo tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) hợp tác với quí Hoà thượng Tuyên Linh (Lê Khánh Hoà) Hòa thượng Huệ Quang (cố Pháp chủ G.H.T.G.N.V) để xây dựng cơ quan đào tạo Tăng tài hầu truyền trì Đạo Pháp tại miền Nam; và Hòa thượng bắt đầu viết nhiều bài cho báo Phật giáo, trong đó có báo Duy tâm Phật học để cổ xúy việc chấn hưng phong trào Phật học nước nhà hầu kịp các nước Phật giáo bạn như Trung Hoa, Nhật Bản v.v…

Năm 1940, Ngài làm Pháp sư dạy trường hương Chùa Thiên Phước ở Tân Hương (Tân An) ba tháng.

Năm 1941 Ngài đến dạy trường Hương Chùa Linh Phong Tân Hiệp.

Năm 1942, Hoà thượng về trụ trì Chùa Phước Hậu, Quận Trà Ôn (Cần Thơ) mở những lớp Phật pháp cho Phật học cư sĩ, cho đến năm 1945 Hoà thượng đến dạy Tăng, Ni tại Chùa Long Hòa Tiểu Cần (Trà vinh).

Năm 1946, Hoà thượng nhập thất tại Chùa Phước Hậu (Trà Ôn), để nghiên cứu Tam Tạng Kinh, soạn thảo, phiên dịch rất nhiều Kinh sách, đã được ấn hành mãi cho đến năm nay vẫn còn bản thảo.

Đầu năm 1955, Hội Phật học Nam Việt thỉnh Hòa thượng vào Ban chứng minh đạo sư.

Ngày mồng 1 tháng 3 Đinh Dậu (31-3-1957) toàn thể đại hội Tăng, Ni và Phật tử miền Nam tại Chùa Ấn Quang suy tôn Hòa thượng lên ngôi pháp chủ để lãnh đạo tinh thần Phật giáo miền Nam.

Cũng tại Chùa Ấn Quang chợ lớn, một Đại hội Giáo hội Tăng già toàn quốc kỳ II, ngày 10 tháng 9 năm 1959, toàn thể hội nghị đã long trọng suy tôn Hòa thượng lên ngôi Thượng thủ Giáo hội Tăng già toàn quốc, để cầm cương lãnh vận mệnh Phật giáo Việt Nam.

Từ ngày lên ngôi Thượng thủ kiêm Pháp chủ, Hòa thượng vẫn thường lưu trú ở Chùa Ấn Quang, để đôn đốc Phật sự và tiếp tục phiên dịch, trước tác, các bản thảo bây giờ còn chưa viết hết.

Vào hồi 4 giờ ngày 30 tháng giêng năm Tân  Sửu (16/ 4/ 1961) Ngài an nhiên thu thần thị tịch tại Chùa Phước Hậu.

Leave a Comment