Home / THƯỜNG TRỤ TAM BẢO / Quan Thế Âm Bồ tát / Hình tượng Bồ tát Quan Âm / Ý nghĩa ban đầu về danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm

Ý nghĩa ban đầu về danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm

Từ xưa đến nay, dựa vào cách dịch âm tiếng Phạn là: A Phộc Lô Chỉ Đế Thấp Phạt La, A Bà Lô Cát Đế Thước Bát La…. Cùng với cách dịch nghĩa là: Quán Tự Tại, Quán Thế Âm, Quán Âm, Quang Âm, Hiện Âm Thanh, Khuy Âm, Phổ Môn, Đại Bi Thánh Giả… nên Hồng Danh của vị Bồ Tát này đã tạo thành vấn đề tranh luận của các hàng Học Giả Phật Giáo.

Liên quan đến danh hiệu của Quán Âm Bồ Tát thời có nhiều cách phiên dịch khác nhau, căn cứ vào sự nghiên cứu của Học Giả, y theo niên đại nêu ra mà ghi nhận như sau:

Cổ Dịch: nhằm chỉ các bản Kinh được dịch từ niên đại của ngài Cưu Ma La Thập (Kumārajīva: 344-413, hay 350-409) trở về thời trước

1_ Quán Âm: do Chi Diệu dịch Kinh Thành Cụ Quang Minh Định Ý ở đời Hậu Hán.

2_ Khuy Âm: do Ngô Chi Khiêm dịch Kinh Duy Ma Cật

3_ Quán Thế Âm: do Khương Tăng Khải (Saṃgha-varman) dịch Kinh Vô Lượng Thọ ở đời Tào Ngụy

4_ Quang Thế Âm: do Trúc Pháp Hộ (Dharma-rakṣa) dịch Kinh Quang Thế Âm Đại Thế Chí Kinh Thọ Quyết ở đời Tây Tấn

5_ Hiện Âm Thanh: do Vô La Xoa dịch Kinh Phóng Quang Bát Nhã ở đời Tây Tấn

_ Cựu Dịch : nhằm chỉ các bản Kinh được phiên dịch từ niên đại của ngài Cưu Ma La Thập đến trước niên đại của ngài Huyền Trang (600-664, hoặc 602-664)

1_ Quán Thế Âm, Quán Âm: do Cưu Ma La Thập dịch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa ở đời Hậu Tần.

Đời Bắc Lương, Đàm Vô Sấm (Dharma-rakṣa) dịch Kinh Bi Hoa
Đời Đông Tấn, Phật Đà Bạt Đà La (Buddha-bhadra) dịch Kinh Hoa Nghiêm
Đời Lưu Tống, Khương Lương Gia Xá dịch Kinh Quán Vô Lượng Thọ
Đời Lưu Tống, Đàm Vô Kiệt (Dharmodgata) dịch Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Thụ Ký

2_ Quán Thế Tự Tại: do Bồ Đề Lưu Chi (Bodhi-ruci) dịch Pháp Hoa Kinh Luận ở đời Hậu Ngụy

_ Tân Dịch : nhằm chỉ các bản Kinh được phiên dịch từ niên đại của ngài Huyền Trang cho đến thời sau

1_ Quán Tự Tại: do Huyền Trang dịch Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa ở đời Đường.

Đời Đường, Thực Xoa Nan Đà (Śikṣānanda) dịch Kinh Hoa Nghiêm
Đời Đường, Bồ Đề Lưu Chí (Bodhi-ruci, tên đầu tiên là Dharma-ruci) dịch Vô Lượng Thọ Như Lai Hội trong Kinh Đại Bảo Tích.
Đời Tống, Pháp Hiền (Dharma-bhadra) dịch Kinh Đại Thừa Vô Lượng Trang Nghiêm

2_ Quán Thế Âm, Quán Âm: do Bát Lạt Mật Đế (Pramiti) dịch Kinh Thủ Lăng Nghiêm ở đời Đường.

3_ Quán Tự Tại: do Thiện Vô Úy (Śubhākara-siṃha) dịch Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh ở đời Đường Đời Đường, Tam Tạng Huyền Trang dịch Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Trong những phiên dịch này chủ yếu nhất là dùng Hồng Danh Quán Thế Âm, Quán Tự Tại… cũng rất được thông dụng trong thời hiện tại.

_ Thật ra trong văn học Ấn Độ, tùy theo từng trường hợp và tùy theo mỗi một ý nghĩa mà tên gọi của một người được kêu gọi khác nhau. Phần lớn các Kinh Bản Phạn văn đều ghi nhận tên gọi của vị Bồ Tát này là Avalokiteśvara, trong đó

AVA: có nghĩa là phía bên dưới
LOKITA: có nghĩa là nhìn thấy, trông thấy, xem xét kỹ lưỡng
ĪŚVARA: có nghĩa là Tự Tại, vị Chúa Tể, bậc có quyền hành xử mọi việc một cách tự do .

AVALOKITA ĪŚVARA được viết gọn thành AVALOKITEŚVARA nên dịch nghĩa là Quán Tự Tại. Và đây cũng là tên gọi chính xác nhất của vị Bồ Tát này AVALOKITEŚVARA là vị Bồ Tát thực hành Trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, quán sát đốí tượng Đương Thể Tức Không và không bị một chướng ngại bởi các yếu tố giả
hợp tạo thành cái ảo tưởng của đương thể nên được gọi là Quán Tự Tại

Theo ý nghĩa khác, Bồ Tát Avalokiteśvara quán sát tất cả các Pháp tự do tự tại, tất cả Công Đức hợp với chúng sinh khiến cho họ xa rời bể khổ đạt đến sự an vui phỉ lạc nên Ngài được xem là “Bậc có uy lực xem xét và bảo hộ chúng sinh một cách tự tại ” nên Ngài có tên là Quán Tự Tại .

Một danh tự khác của Bồ Tát này là LOKEŚVARA trong đó LOKA là thế gian và ĪŚVARA là Tự Tại hay là vị Chúa Tể nên LOKEŚVARA được dịch là The Tự Tại hoặc là vị Chúa Tể của Thế Gian. Lokeśvara là vị Bồ Tát quán rõ các Pháp Thế Gian là huyễn hoá đồng thời điều dụng được toàn bộ Danh Pháp của Thế Gian một cách vô ngại nên đạt quả Tự Tại. Lại nữa, do Ngài quán biết căn cơ của chúng sinh nên sự giáo hóa được tự tại. Vì vị Bồ Tát này có đầy đủ BI TRÍ, LÝ SỰ vô ngại nên có tên là Quán Tự Tại.

Trích Quán Âm Pháp Kinh – Huyền Thanh



  • Quản trị viên: Thanh Tịnh Lưu Ly

    [Lời tiền nhân] - Tất cả đều là hư huyễn, tạm bợ, không giả, từ một bọt nước, cho tới toàn bộ thế giới, cho đến các tinh tú cũng đều như vậy, không phải là vĩnh hằng và đã không tồn tại vĩnh hằng. - 84000 là thuật ngữ chỉ 84000 pháp uẩn, 84000 pháp tựu, 84000 pháp tạng, 84000 giáo môn và 84000 pháp môn. - Nên chọn tôn phái gần gũi với căn tính của mình, tôn phái mà mình cảm thấy hứng thú, dùng tôn phái đó làm phương tiện nhập môn tu tập.

    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *