Đại Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni chú – Uṣṇīṣa-Vijaya Dhāraṇī

Đại Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu
Đại Phật Đỉnh Tôn Thắng Phật Mẫu

Phật Giáo Tây Tạng thờ phụng Tôn Tượng Tôn Thắng Phật Mẫu có ba mặt, tám cánh tay, trên mỗi mặt có ba con mắt
– Mặt chính giữa màu trắng, mặt bên phải màu vàng, mặt bên trái màu xanh lam.
– Bên phải: tay thứ nhất cầm chày Yết Ma Kim Cương hình chữ Thập để trước ngực, tay thứ hai nâng Đức Phật A Di Đà (hay Đại Nhật Như Lai) ngồi trên tòa sen, tay thứ ba cầm mũi tên, tay thứ tư kết Ấn Thí Nguyện đặt trên đùi phải.
– Bên trái: tay thứ nhất kết Ấn Phẫn Nộ Quyền cầm sợi dây (quyến sách), tay thứhai kết Ấn Thí Vô Úy, tay thứ ba cầm cây cung, tay thứ tư kết Định Ấn nâng bình Cam Lộ

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni – Tina Tình

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni – Nhạc nhẹ

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni – Tiếng Việt (Thượng Tọa Thích Lệ Trang tụng – rất nhanh)

Bản tiếng Phạn phiên âm:

namo bhagavate trai-lokya prativiśiṣṭāya buddhāya bhagavate
tad-yathā oṁ viśodhaya viśodhaya
asamasama samanta-avabhāsa spharaṇa gati gahana svabhāva viśuddhe
abhiṣiñcatu māṁ
sugata vara vacana
amṛta-abhiṣeke mahā-mantra pāne
āhara āhara āyuḥ sandhāraṇi
śodhaya śodhaya gagana viśuddhe
uṣṇīṣa vijaya viśuddhe
sahasra-raśmi sañcodite
sarva tathāgata-avalokana ṣaṭ-pāramitā paripūraṇi
sarva tathāgata hṛdaya-adhiṣṭhāna-adhiṣṭhita mahā-mudre
vajra-kāya saṁharaṇa viśuddhe
sarva-āvaraṇa-apāya-durgati pari-viśuddhe
prati-nivartaya-āyuḥ śuddhe
samaya-adhiṣṭhite maṇi maṇi mahā-maṇi
tathātā bhūta koṭi pariśuddhe
visphuṭa buddhi śuddhe
jaya jaya vijaya vijaya smara smara
sarva buddha-adhiṣṭhita śuddhe
vajre vajra-garbhe vajraṁ bhavatu mama śarīraṁ
sarva sattvānāṁ ca kāya pari-viśuddhe
sarva gati pariśuddhe
sarva tathāgatāś ca me sama-āśvāsayantu
sarva tathāgata sama-āśvāsa-adhiṣṭhite
budhya budhya vibudhya vibudhya
bodhaya bodhaya vibodhaya vibodhaya
samanta pariśuddhe
sarva tathāgata hṛdaya-adhiṣṭhāna-adhiṣṭhita mahā-mudre svāhā

Tiếng Pali phiên âm

namo bhagavate trailokya prativiśiṣṭaya buddhāya bhagavate.
tadyathā, om, viśodhaya viśodhaya, asama-sama
samantāvabhāsa-spharaṇa gati gahana svabhāva viśuddhe,
abhiṣiñcatu mām. sugata vara vacana amṛta abhiṣekai mahā mantra-padai.
āhara āhara āyuḥ saṃ-dhāraṇi. śodhaya śodhaya gagana viśuddhe.
uṣṇīṣa vijaya viśuddhe sahasra-raśmi sam-codite.
sarva tathāgata avalokani ṣaṭ-pāramitā-paripūraṇi.
sarva tathāgata mati daśa-bhūmi prati-ṣṭhite.
sarva tathāgata hṛdaya adhiṣṭhānādhiṣṭhita mahā-mudre.
vajra kāya sam-hatana viśuddhe.
sarva āvaraṇa apāya-durgati pari viśuddhe, prati-nivartaya āyuh śuddhe.
samaya adhiṣṭhite. maṇi maṇi mahā maṇi.
tathatā bhūta-koṭi pariśuddhe. visphuṭa buddhi śuddhe.
jaya jaya, vijaya vijaya. smara smara, sarva buddha adhiṣṭhita śuddhe,
vajri vajragārbhe vajram bhavatu mama śarīram.
sarva sattvānām ca kāya pari viśuddhe. sarva gati pariśuddhe.
sarva tathāgata siñca me samāśvāsayantu.
sarva tathāgata samāśvāsa adhiṣṭhite.
budhya budhya, vibudhya vibudhya,
bodhaya bodhaya, vibodhaya vibodhaya samanta pariśuddhe.
sarva tathāgata hṛdaya adhiṣṭhānādhiṣṭhita mahā-mudre svāhā.

Tiếng Việt

Na mô ba ga pha tê
Sạt hoa tát răn lô ki da
Bờ ra di vi ti sắc tra da
Bút đà da ba ga phê tê
Tát đi da tha
Um! Bút rum, bút rum, bút rum
Suýt đà da, suýt đà da
Vi suýt đà da, vi suýt đà da
Á sá ma sá ma
Sa măn tá phạ hoa sát
Sa phả ra na ga ti ga gạ na
Xoa phạ hoa vi suýt đi
Á vi chuân da đu măn
Sạt hoa tát thá ga đá
Sủ ga đa
Phạ ra phạ ca nã
A mi rị tá, bi sá cu
Ma ha muýt dơ ra măn đarabana
Um! Á hạ ra, á hạ ra
A du săn đà ra ni
Suýt đà da, suýt đà da
Ga ga na xoa phạ hoa visuýtđi
U sắc ni sá vi ca da visuýtđi
Sá hạ sa ra, ra sa mi santônitê
Sá ra hoa tát thá ga đa
A hoa lô ki ni
Sạt hoa tát thá ga đa mát tê
Sá tra bá ra mi tá
Ba rị bủ ra ni
Na sá bủ mi bơ ra đi sắc ni tê
Sá ra hoa tát thá ga đa hất rị đà da
Đi sắc sá na
Đi sắc si tê
Um! Muýt đơ ri, muýt đơ ri, ma ha muýt đơ ri
Hoa dí ra ca da
Săn hạ da nã vi suýt đi
Sá ra hoa ca ma, phạ ra na vi suýt đi
Ba ra đu ri ca ti, bi ri vi suýt đi
Bơ ra ti na hoa ra đá da, a dục suýt đi
Sam ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê
Um! ma ni, ma ni mạ hạ ma ni
Á ma ni, á ma ni
Vĩ ma ni,vĩ ma ni, mạ hạ vĩ ma ni
Mát đi mát đi, mạ hạ mát đi
Tát thá đá, bủ đa
Cu thi vi ri suýt đi
Vi sa phổ ra, bút đi vi suýt đi
Um! Hi hi
Dá ra, dá ra
Vĩ dá ra, vĩ dá ra
Sa ma ra, sa ma ra
Sa phạ ra, sa phạ ra
Sá ra phạ bút đa
Đi sắc sá na
Đi sắc si tê
Suýt đi, suýt đi
Họa di ri, họa di ri, mạ hạ họa di ri
Á họa di ri
Hoa di ra gạ bi
Dá ra gạ bi
Vĩ dá ra gạ bi
Hoạ di ra, rít họa lã gạ bi
Họa di rô, na ga tê
Họa di rô, na bà vê
Họa di ra, sam bà vê
Họa di rô, họa di rị na
Họa di rảm, hoa phạ đô mạ mạ
Sá rị sảm, si ra phạ sát ta phạ năng
Tả ca da, bi ri, vi suýt đi
Sất da hoa phạ, đô mi sát na
Sá ra phạ, ga ti, bi rị suýt đi
Sá ra phạ, tát tha gạ đa, sất da mi
Sá ma sa phạ, sát dăn tu
Sạt hoa tát tha ga đa
Sá ma sá phạ sa, đi sắc si tê
Um! Sất đi da, sất đi da
Bút đi da, bút đi da
Vi bút đi da, vi bút đi da
Bồ dà da, bồ đà da
Vi bồ đà đa, vi bồ đà da
Mô ca da, mô ca da
Vi mô ca da, vi mô ca da
Suýt đà da, suýt đà da
Vi suýt đà da, vi suýt đà da
Sa măn tá, tát bi rị mô ca da
Sa măn đá da, sa mi bi rị suýt đi
Sá ra phạ, tát thá ga đá,sam ma da hất rị đà da
Đi sắc sá na, đi sắc si tê
Um! Muýt đơ ri, muýt đơ ri, mạ hạ muýt đơ ra
Mạn đà ra bá na
Đi sắc si tê
Sóa ha

Lời giới thiệu:

Theo truyền thống Mật tông thì Phật Đỉnh Tôn Thắng là một trong 5 Phật Đỉnh của viện Thích Ca thuộc Thai Tạng Giới Mạn Đà La có tên là Trừ Chướng Phật Đỉnh biểu thị cho Đỉnh Thần Thông không có chỗ sợ hãi của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Tôn này có công năng nhiếp phục, làm tiêu trừ mọi nghiệp cấu của tất cả chúng sinh và khiến cho chúng hữu tình trở thành thanh tịnh. Trong 5 Phật Đỉnh hóa hiện từ đỉnh kế của Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai thì Phật Đỉnh này là thù thắng nhất cho nên hệ Mật tông dùng Phật Đỉnh Tôn Thắng làm Bản Tôn cho Pháp tu trì về Tức Tai, trị bệnh, … và xưng là Tôn Thắng Pháp.

Do Kinh Điển ghi nhận rằng chư Phật, các vị Bồ Tát, các vị Hiền Thánh, Đại Phạm Thiên, Phạm Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, Hóa Lạc Thiên, Đâu Suất Thiên, Dạ Ma Thiên, Đế Thích Thiên, Đao Lợi Thiên, Hộ Thế Tứ Thiên Vương, Thiện Trụ Thiên Tử, Tán Chỉ Đại Tướng, Diêm La Pháp Vương…. với các quyến thuộc đều phát tâm thủ hộ cho người trì Pháp này cho nên trước khi trì tụng Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni, Hành Giả nên đọc bài kệ Khải Thỉnh là :
Cúi lạy Tôn Thắng Vương
Ngồi ở Tòa Kim Cương
Trên hoa sen ngàn cánh
Tướng lưỡi rộng dài che khắp cõi
Viên mãn vô lượng các Công Đức
Phật Đỉnh Văn Trì Đại Chương Cú
Tám mươi tám ức Như Lai truyền
Đế Thích Thiên Vương vì Thiện Trụ
Hay diệt bảy lần đọa bàng sinh
Giáo Bí Mật Tổng Trì hiếm có
Hay phát Tâm rộng lớn tròn sáng
Nay con chỉ là kẻ phàm phu
Nguyện tán Tổng Trì Nhất Nhiết Trí
Hay đem phước lợi cứu quần sinh
Các Như Lai ở khắp mười phương
Chư Bồ Tát nơi Thế Giới khác
Tám Bộ Trời Rồng, các quyến thuộc
Tán Chỉ Đại Tướng với Dược Xoa
Minh Ty Địa Chủ, Diêm Ma La
Thiện Ác Bộ Quan: hai Đồng Tử
Thánh Hiền , các Chúng Đẳng như trên
Nguyện nghe Khải Thỉnh đều giáng lâm
Ủng hộ Phật Pháp khiến trường tồn
Mỗi mỗi siêng tu lời Phật Dạy
Tất cả hàm linh đến chốn này
Nghe qua Phật Đỉnh Tôn Thắng Vương
Hết thảy đều mau thành Phật Đạo
Nay con phúng tụng Chân Ngôn này
Nguyện xin Như Lai thường cứu hộ
Nguyện xin Hiền Thánh thường cứu hộ
Nguyện xin Hộ Pháp thường ủng hộ
Nam mô Trailokya Uṣṇīṣa
Nam mô Jaya Uṣṇīṣ
Nam mô Vijaya Uṣṇīṣa
Nam mô Vikīraṇa paṃca Uṣṇīṣa
Nam mô Tejoraśi Uṣṇīṣa
Nam mô Trūṃ Uṣṇīṣa
Nam mô Śrūṃ Uṣṇīṣa
Nam mô Indra Deva
Nam mô Kim Cương Giới Hội Nhất thiết chư Phật
Nam mô Đại Bi Thai Tạng Giới nhất thiết chư Phật

Oai lực của Chú Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni
Trong Kinh Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà Ra Ni, Đức Phật có dạy:

1. Nếu có chúng sinh nào bị khổ nạn, tội chướng cực nặng, không ai cứu hộ, nên chọn ngày trăng sáng, tắm gội, mặc y phục sạch sẽ, thọ bát quan trai giới, quỳ trước tượng Phật tụng Đà Ra Ni này 1.080 biến thì tất cả tội nghiệp, chướng nạn đều tiêu diệt. Kẻ ấy sẽ được thanh tịnh giải thoát, được môn Tổng Trì Đà Ra Ni, biện tài vô ngại.

2. Nếu kẻ nào tuy chưa trì tụng, mà chỉ nghe âm thanh của Đà Ra Ni này lọt vào tai, tức liền thành hạt giống Phật. Ví như một chút kim cang rớt xuống đất, tất lần lượt xuyên lọt đến nơi bản tế mới dừng, đất tuy dày không thể làm trở ngại. Chân ngôn này cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân tập khiến cho lần lần thành quả chính giác, phiền não tuy nặng cũng không thể ngăn che. Dù kẻ ấy bị đọa vào cõi Địa Ngục, Ngạ quỉ, bàng sinh cũng không bị nghiệp báo làm cho hạt giống đó tiêu mất, mà còn nương sức thần chú lần lượt tiến tu cho đến khi thành Phật.

3. Nếu chúng sinh nào một phen nghe được Đà Ra Ni này, qua kiếp hiện tại sẽ không còn bị các tật bệnh và các sự khổ não, cũng không còn thọ thân bào thai, tùy theo chỗ hóa sinh hiện nơi hoa sen. Từ đó về sau, ngũ nhãn lần lần thanh tịnh, được túc mạng trí, kiết sử tiêu trừ, sẽ chứng quả vô thượng đẳng giác.

4. Nếu có kẻ nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có người tụng 21 biến Đà Ra Ni này vào một nắm đất hoặc cát, rải lên thi hài, kẻ ấy sẽ được sinh về 10 phương Tịnh Độ. Như người chết thần thức đã bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng sinh, khi đất cát ấy dính vào hài cốt, cũng được thoát khỏi ác thú, sinh lên cõi trời.

5. Nếu chúng sinh nào mỗi ngày tụng Đà Ra Ni này 21 biến, ưng tiêu được sự cúng dàng rộng lớn của tất cả thế gian, khi xả báo thân sẽ sinh về thế giới Cực Lạc, kẻ nào thường niệm tụng sẽ được tăng thọ mạng, hưởng sự vui thù thắng, tương lai sinh về 10 phương Tịnh Độ, nghe pháp mầu, được thọ ký, ánh sáng nơi thân chiếu tất cả cõi Phật, và chứng Đại Niết Bàn.

6. Nếu muốn được oai lực tự tại, hành giả dùng các thứ bột như bột nếp, bột gạo v.v.. nắn thành hình người để 8 phương hướng nơi đàn tràng, ngày đêm đối tám phương mà tụng chú, tất cả sẽ được như ý.

7. Nếu nước lụt dâng, hướng về phương đó tụng chân ngôn này 108 biến cầu nguyện, thì nước sẽ rút lui.

8. Nếu bị nạn vua, nạn quan, nạn binh, nạn giặc cướp, nạn khẩu thiệt, tụng chân ngôn này 21 biến vào năm thứ nước thơm, đem rưới trên đỉnh Phật, các nạn sẽ tiêu diệt.

9. Nếu chúng sinh nào tướng mạng yểu, muốn cầu sống lâu, nên chọn ngày trăng sáng, trai giới, tắm gội, mặc y phục sạch, tụng chân ngôn này đủ 1.080 biến, sẽ được trường thọ, tất cả tội chướng đều trừ diệt.

10. Nếu có người tụng chân ngôn này một biến vào lỗ tai của bất kỳ loài cầm thú nào, thì sinh loại ấy kiếp đó không còn thọ thân cầm thú, dù nó có nghiệp nặng sẽ bị đọa vào địa ngục, cũng được thoát ly.

11. Nếu kẻ nào bị bệnh trầm trọng, chịu nhiều đau khổ, được nghe Đà Ra Ni này, sẽ lìa bệnh khổ, tội chướng tiêu diệt. Cho đến các chúng sinh trong bốn loài nghe được chú này đều xả bệnh khổ, lìa thân bào thai, hóa sinh nơi hoa sen, tùy theo chỗ sinh, nhớ biết đời trước không quên mất.

12. Nếu có chúng sinh nào vừa mới khôn lớn, đã tạo các thứ tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác, cho đến lúc tuổi già, tự suy nghĩ biết mình do nghiệp ác này sau khi mãn phần sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ, chịu sự khổ lớn trải qua nhiều kiếp, rồi xoay vần luân hồi trong 3 đường ác không ai cứu vớt. Người ấy nên chọn ngày rằm, tắm gội mặc y phục tinh khiết, dùng cái bát bằng vàng, bạc hoặc đồng, lượng chứa ước một thăng, đựng nước trong sạch để trước tượng Phật, thọ giới Bồ Tát, trì trai thanh tịnh. Nơi đàn tràng, mình đứng ở phương Đông hướng về tượng Phật ở phương Tây, đỉnh lễ chí thành sám hối. Rồi tụng Đà Ra Ni này 1.080 biến giữa chừng không gián đoạn, kế đó dùng nước ấy rưới bốn phương và trên dưới, nguyện cho tất cả đồng được thanh tịnh. Làm phép này xong, tất cả tội chướng đều được tiêu diệt, thoát khỏi nghiệp báo địa ngục tam đồ, vua Diêm Ma La buông tha, thần Tư Mạng vui đẹp, không sanh giận trách, trở lại chắp tay cung kính, tùy hỉ ngợi khen công đức.

13. Nếu muốn cứu độ người tội nặng, nên chọn ngày rằm, tụng chân ngôn này vào mật hoặc sữa 1.080 biến, rồi cho người đó ăn. Làm như thế, đương nhân sẽ tiêu trừ tội chướng sinh về cõi lành, lần lượt tiến tu, chứng quả vô thượng đẳng giác.

14. Nếu tụng 21 biến chân ngôn này gia trì vào tăm xỉa răng, rồi đem dùng có thể trừ bệnh đau răng, được mạnh khỏe, thông minh, trường thọ.

15. Nếu muốn cứu độ tội khổ của loài súc sinh, nên gia trì chân ngôn này vào cát hoặc đất vàng 21 biến, rồi rải trên mình chúng và bốn phương, tội chướng của chúng nó sẽ tiêu diệt.

16. Nếu có chúng sinh nào muốn được phước đức đầy đủ, muốn cầu tài bảo xứng ý, muốn cứu hộ mình và người nên khởi lòng lành, mỗi ngày phát nguyện sám hối, đối trước tượng Phật, kiết ấn tụng chân ngôn này bảy biến, tâm không tán loạn, mắt nhìn tượng Phật không di động, rồi đem công đức ấy hồi thí cho tất cả chúng sinh. Tác pháp và có tâm lành như thế, quyết định sẽ được như nguyện, tăng phước lộc trong hiện tại, cho đến cả những đời sau.

17. Nếu hành giả ở nơi đàn tràng mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng chân ngôn này 21 biến gia trì vào chén nước sạch, rồi dùng tâm trân trọng bưng chén nước uống. Làm như thế sẽ tiêu trừ các bệnh, sống lâu trăm tuổi, giải mọi oán kết, tiếng nói thanh diệu, biện tài thông suốt, mỗi đời thường được Túc Mạng Thông, nhớ biết tiền kiếp. Nếu đem chén nước ấy rưới trong phòng nhà, cho đến chỗ chuồng trâu, ngựa, thì nơi đó sẽ được oai lực của chân ngôn giữ gìn an ổn, trừ các nạn: La sát, rắn, rồng. Như đem chén nước ấy, miệng tụng chú rưới trên đỉnh người bịnh và cho bệnh nhân uống, các thứ bệnh nặng sẽ tiêu trừ.

18. Nếu muốn tiêu trừ các tai chướng, nên dùng vải lụa vụn năm sắc, kết làm cây phất trần. Kế đó tụng chân ngôn nơi cây phất, quét bụi nơi tượng Phật và kinh. Thường làm như thế, chướng nạn của mình sẽ tiêu, mà tội nghiệp của chúng sinh cũng được trừ diệt.

19. Nếu bị nhiều khẩu thiệt, tai tiếng phát khởi, nên dùng châu sa hòa với bạch mật, hoặc đường cát trắng, tụng chân ngôn vào đó 21 biến, rồi đem thoa vào môi 100 tượng Phật. Làm như thế khẩu thiệt, tai tiếng sẽ tiêu trừ.

20. Nếu vợ chồng chán ghét nhau, muốn được hòa thuận, tụng chân ngôn vào vải hay lụa 21 biến, đem may áo cho chồng hoặc vợ mặc, làm như thế, vợ chồng sẽ hòa thuận.

21. Nếu người nam hay nữ bị ma quỉ khuấy rối, hoặc phần âm yêu đắm, quyến luyến không tha, nên giữ chính niệm vừa tụng chân ngôn vừa xoa khắp mình nạn nhân, kế đó lấy tay vỗ vào thân, ma quỉ liền bỏ chạy.

22. Nếu người nữ không có ai đến cưới hỏi, nên dùng muối tốt sạch, tụng chân ngôn vào đó 108 biến, rồi đem cúng dàng hiện tiền tăng, tất sẽ được như ý.

23. Nếu chỗ ở có quỷ thần dữ khuấy rối, nên tụng Đà Ra Ni vào thức ăn 21 biến rồi đem cúng thí cho ăn. Trong khi ấy lại nói: “Nay tôi cúng thí cho các vị, như không làm tổn hại chúng sinh thì tùy ý ở lại, nếu làm tổn hại thì phải mau đi nơi khác”. Nếu quỷ thần hung hãn không nghe lời, nên dùng nọc sắt dài 12 ngón tay, tụng chân ngôn vào đó 21 biến rồi đem đóng xuống đất. Làm như thế, các quỷ thần dữ phải chạy ra khỏi địa giới.

24. Nếu có bệnh nhân bị tinh mị dựa vào, kẻ cứu hộ nên nhìn chăm chú vào mặt người bệnh mà tụng Đà Ra Ni này, tinh mị sẽ xuất ra.

25. Nếu có quỷ La Sát hoặc các loài quỷ dữ vào quốc giới gây đau bệnh, làm khủng bố và não loạn dân chúng, nên xưng niệm Tam Bảo, ngày đêm tụng trì Đà Ra Ni này, kiết ấn Phật Đỉnh Tôn Thắng rải khắp bốn phương, thì các tai nạn đều tiêu diệt, làm như thế, cũng cứu được chúng sinh thọ khổ ở tam đồ.

26. Nếu muốn thí nước cho loài ngạ quỷ, tụng chân ngôn này vào nước sạch 7 biến, rồi rải khắp 4 phương, tâm tưởng miệng nói, cầu cho chúng được thọ dụng, thì các ngạ quỷ sẽ được uống nước cam lộ.

27. Nếu người nào buôn bán ế ẩm, muốn được khách hàng chiếu cố, thường kết ấn tụng chân ngôn này 21 biến, an trí tượng Phật nơi chỗ tinh sạch kín đáo mà cúng dàng, tất sẽ được như ý.

28. Nếu người nào mỗi ngày 3 thời, mỗi thời tụng Đà Ra Ni này 21 biến, cung kính cúng dàng, chí tâm thọ trì, vì người khác giải nói, người ấy sẽ được an vui, sống lâu, không bệnh, phát sinh trí huệ được túc mạng thông, khi lâm chung như ve thoát xác, liền được sinh về thế giới Cực Lạc, tai không còn nghe tiếng địa ngục, huống chi bị sa đọa. Kẻ ấy sẽ tuần tự tiến trên đường đạo quả cho đến khi thành Phật.

BÌNH LUẬN BẰNG FACEBOOK
BÌNH LUẬN BẰNG EMAIL

Add Comment