QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA ĐẠO PHẬT

QUAN ĐIỂM VỀ ĂN CHAY CỦA ĐẠO PHẬT
Biên Soạn: Tâm Diệu
—o0o—

ISOFLAVONES ĐẬU NÀNH

GIỚI THIỆU

Hầu như người Việt nam chúng ta ai ai cũng biết đậu hũ nhưng ít ai biết đến chất isoflavone và các hóa chất thảo mộc khác trong đậu nành, có khả năng phòng ngừa và trị liệu một số bệnh như bệnh đau tim, bệnh tai biến mạch máu não, bệnh ung thư vú, ung thư nhiếp hộ tuyến và ung thư kết tràng.

Vì tính chất đa năng và đa hiệu của đậu nành do những khám phá gần đây của khoa học nên chúng tôi đã cố gắng soạn thảo tập tài liệu dưới đây để cống hiến quý bạn và đồng thời cũng để làm sáng tỏ nghi vấn ăn đậu hũ không tốt cho nhiều người. Tất cả những điều chúng tôi trình bầy đều lấy từ các nguồn tư liệu có thẩm quyền như kết quả của các công trình khảo cứu khoa học của Viện Ung Thư Quốc Gia và các viện đại học danh tiếng ở Mỹ

LỊCH SỬ ĐẬU NÀNH

Đậu nành xuất hiện đầu tiên tại Trung Hoa khoảng 5000 năm trước đây nhưng mãi đến năm 300 trước Thiên Chúa giáng sinh mới được ghi vào cổ thư là một nông phẩm chính của miền Bắc Trung Hoa. Từ đây, đậu nành được lan truyền qua Triều Tiên, Nhật Bản, xuống miền Nam Trung Hoa và các nước Đông Nam Á Châu. Đến Nhật Bản vào thế kỷ thứ 8 sau Tây lịch và khoảng một ngàn năm sau đó qua đến Âu Châu.

Bởi vì đậu nành sản sinh nhiều protein hơn bất cứ loại nông sản nào nên nó được ưa chuộng và trở thành thực phẩm chính của nhiều quốc gia Á Châu. Những thực phẩm được biến chế từ đậu nành như sữa, đậu hũ và tầu hũ ky đã có từ hai ngàn năm trước đây, ngày nay đậu hũ là món thực phẩm được ưa chuộng và phổ thông nhất trên thế giới. Tại một vài thành phố Trung Hoa, các xưởng làm sữa đậu nành vào sáng sớm để giao sữa nóng đến từng nhà, và cho đến gần đây, sữa đậu nành tiêu thụ ở Hồng Kông đã nhiều hơn số tiêu thụ Coca-Cola. Người Trung Hoa tin rằng đậu nành có khả năng chữa lành các chứng bệnh về thận, phù thũng, da, tiêu chẩy, anemia và leg ulcers.

Đậu nành được du nhập vào lục địa Hoa Kỳ năm 1765 nhưng chỉ được xem là một loại hạt đậu mới mà thôi cho đến khi Dr. John Harvey Kellog cách mạng thức ăn sáng của người Hoa Kỳ bằng sữa đậu nành, cereal và các thức ăn biến chế từ protein đậu nành vào những năm 1920s.

Năm 1931, Dr. A.A. Horvath xuất bản tài liệu mang nhan đề là “Soya Flour as a National Food.” Trong tài liệu này ông nói rằng dinh dưỡng bằng thực phẩm đậu nành rất là bổ khỏe và có giá trị cao.

Nhờ những nỗ lực của ông mà ngày nay Hoa Kỳ sản xuất trên 12 tỷ dollars đậu nành mỗi năm tức khoảng 50 triệu metric tons, hay bằng phân nửa số lượng sản xuất trên thế giới. Bất hạnh thay, ngoại trừ 1/3 được xuất cảng qua các nước như Nhật Bản v..v.., chúng ta đã dùng 95% số lượng còn lại để làm thức ăn cho súc vật, thay vì cho người ăn !

NHỮNG QUỐC GIA ĂN NHIỀU ĐẬU NÀNH

Tại các quốc gia vùng Vin Đông, các thực phẩm biến chế từ đậu nành đã cách mạng lề lối ăn uống của dân chúng, họ dùng thực phẩm đậu nành hàng ngày như là nguồn dinh dưỡng chính. Những thứ này gồm có: đậu hũ, sữa đậu nành, miso, tempeh, tương, chao, phù trúc và dầu..v..v..

Trung bình một người trưởng thành Nhật Bản (adult) ăn khoảng 50 pounds đậu hũ mỗi năm. Ngày nay nhiều nhà khoa học và nghiên cứu gia Tây phương đã xác nhận và đánh giá tốt điều mà các y sĩ Trung Hoa tin tưởng trước đây về khả năng của đậu nành trong việc phòng ngừa và trị liệu một vài chứng bệnh. Những bệnh như: tim mạch, ung thư, tiểu đường, xốp xương và thận ít xảy ra tại những vùng dân số tiêu thụ nhiều đậu nành. Hãy xem một vài con số thống kê dưới đây:

Tại Nhật Bản tỷ lệ chết về bệnh ung thư vú chỉ bằng một phần tư Hoa Kỳ, tại Trung Hoa là 1/5 và ở Đại Hàn là 1/10.

Chỉ có 10% phụ nữ Nhật Bản có hiệu chứng nóng phừng (hot flash) vào thời kỳ mãn kinh và tỷ lệ bị bệnh bể xương hông thấp hơn phụ nữ Hoa Kỳ.

Tại Đại Hàn tỷ lệ phái nam bị bệnh ung thư trực tràng chỉ bằng 1/4 Hoa Kỳ và bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến là 1/10 so với Hoa Kỳ.

Sự thực, có nhiều bằng chứng cho thấy rằng sự tiêu thụ các thực phẩm đậu nành hằng ngày làm giảm nguy cơ xảy ra các chứng bệnh ung thư vú, nhiếp hộ tuyến, ung thư kết tràng, dạ dày, da..v..v..

Thế còn bệnh tim mạch bao gồm chứng nhồi máu cơ tim (heart attack) và tai biến mạch máu não (stroke) thì sao? Theo một nghiên cứu khoa học thì cứ hai người Hoa kỳ chết có một người chết về bệnh này, trong khi đó tại Shanghai chỉ có một người trong số 15 người chết.

Có rất nhiều nghiên cứu khoa học đã khuyến cáo người dân Hoa Kỳ nên thay thế protein thịt động vật bằng protein đậu nành nhằm làm giảm lượng cholesterol trong máu và ngăn ngừa các chứng bệnh về tim mạch và ung thư.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA ĐẬU NÀNH

Hầu như ai cũng biết đậu nành có chứa rất nhiều protein bao gồm tất cả 8 loại amino acids thiết yếu. Đậu nành cũng là nguồn phong phú cung cấp calcium, chất xơ, chất sắt và chất sinh tố B.

Cái mà các khoa học gia thích thú nhất trong những năm nghiên cứu gần đây là sự khám phá ra các hóa chất thảo mộc, mà chúng tôi tạm gọi là hóa thảo (PHYTOCHEMICALS), có trong đậu nành và những ứng dụng của chúng, trong lãnh vực y khoa trị liệu.

Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ, Viện Đại Học Havard, Viện Đại Học Alabama, Minnesota, Iowa và Helsinki, Finland, đã thực hiện nhiều công trình khảo cứu khoa học để xác định những lợi ích của các hóa thảo đậu nành này. Họ đã thấy rằng sự tiêu thụ những chất này không những có khả năng ngăn ngừa mà nó còn có khả năng trị liệu các bệnh như đã nói tới ở trên. Những hóa thảo đậu nành gồm có: protease inhibitors, phytates, phytosterols, saponins, phenolic acids, lecithin, omega 3 fatty acids, và isoflavones (phytoestrogens).

PROTEASE INHIBITORS – có khả năng ngăn ngừa sự tác động của một số gene di truyền gây nên chứng ung thư. Nó cũng bảo vệ các tế bào cơ thể không cho hư hại gây nên bởi những môi trường sống xung quanh như tia nắng mặt trời và các chất ô nhim trong không khí. Năm 1980 các khoa học gia đã khám phá ra đậu nành nguyên chất có tác dụng ngăn cản không cho bệnh ung thư phát triển nơi các loài động vật và những năm sau đó họ đã xác nhận sự tác dụng chống ung thư cho nhiều loại bệnh ung thư. Tuy nhiên protease inhibitors bị mất bớt đi sau khi đậu nành được biến chế qua phương pháp làm nóng. Thí dụ như sữa đậu nành loại dehydrated soymilk còn lại 41%, đậu hũ còn lại 0.9% so với bột đậu nành nguyên chất. [1]

PHYTATES – là một hợp thể phosphorus và inositol, có khả năng ngăn trở tiến trình gây nên bệnh ung thư kết tràng (colon cancer) và ung thư vú (breast cancer). Ngoài ra nó cũng còn có khả năng trừ khử những chất làm cho tế bào d bị ung thư (oxygen free radicals) và phục hồi những tế bào đã bị hư hại. Được biết chất sắt thặng dư trong cơ thể thường sản sinh ra oxygen free radicals, nhưng khi có sự hiện diện của phytate, chất này sẽ bị hủy diệt khả năng sản sinh và vì thế phytate hành xử giống như chất antioxydants.

Cũng nên biết, sau nhiều năm lưu ý dân chúng rằng phytate có thể gây phương hại đến tình trạng thiếu chất sắt trong cơ thể vì nó ngăn cản sự hấp thụ chúng, nay các nhà khoa học đã khám phá ra rằng phytate bảo vệ chúng ta khỏi có quá nhiều chất sắt. [2]

PHYTOSTEROLS – cũng có khả năng phòng ngừa các bệnh về tim mạch bằng cách kiểm soát lượng cholesterol trong máu, đồng thời nó cũng có khả năng làm giảm thiểu sự phát triển các bứu ung thư kết tràng và chống lại ung thư da. [3] Những nhóm dân số tiêu thụ nhiều sản phẩm đậu nành như Nhật Bản, Triều Tiên và Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Hoa Kỳ đã có tỷ lệ thấp căn bệnh ung thư kết tràng.

SAPONINS – giống như phytate, hành xử như chất anti-oxidants để bảo vệ tế bào cơ thể chúng ta khỏi bị hư hại do tác dụng free radicals. Nó cũng còn có khả năng trực tiếp ngăn cản sự phát triển ung thư kết tràng và đồng thời làm giảm lượng cholesterol trong máu.

PHENOLIC ACIDS – là một dược chất hóa học anti-oxidants và phòng ngừa các nhim sắc thể DNA khỏi bị tấn công bởi các tế bào ung thư.

LECITHIN – là một hóa chất thực vật quan trọng, đóng một vai trò quyết định trong việc kích thích sự biến dưỡng ở khắp các tế bào cơ thể. Nó có khả năng làm gia tăng trí nhớ bằng cách nuôi dưỡng tốt các tế bào não và hệ thần kinh, nó làm vững chắc các tuyến và tái tạo các mô tế bào cơ thể. Nó cũng có công năng cải thiện hệ thống tuần hoàn, bổ xương, và tăng cường sức đề kháng. Khi hệ thần kinh thiếu năng lượng, chất lecithin ở đậu nành sẽ phục hồi năng lượng đã mất. Đạm chất đậu nành có chứa 3 phần trăm chất Lecithin, bằng với lượng Lecithin có trong lòng đỏ trứng gà.

OMEGA-3 FATTY ACIDS – là loại chất béo không bão hòa (unsaturated fats) có khả năng làm giảm lượng cholesterol xấu LDL đồng thời làm gia tăng lượng cholesterol tốt HDL trong máu. [4] Nhiều nghiên cứu khoa học đã xác nhận tiêu thụ nhiều omega-3 fatty acids có trong các loại thực vật như đậu nành, hạt pumpkin, walnuts, hemp, flax và các lá rau xanh giúp chống lại sự phát triển các căn bệnh về tim mạch. [5] Tưởng cũng nên biết omega-3 fatty acids còn gọi là alpha-linolenic acid, gồm hai thứ EPA và DHA cũng có trong một vài loại cá biển và trong fish-liver oil supplements. Những loại nầy cũng có khả năng giống như omega-3 trong thực vật nhưng có thêm một cái không tốt là nó có tác dụng làm cho các phân tử tế bào cơ thể trở nên không ổn định, tức sản sinh ra các chất oxygen free radicals là những chất gây ra ung thư và gây xáo trộn chất insulin, sinh ra chứng tiểu đường. Vì thế các khoa học gia thuộc Viện Đại Học Arizona [6]và Viện Đại Học Cornell đã công bố sự nguy hiểm của omega-3 fatty acid trong cá và dầu cá. [7]

ISOFLAVONES (phytoestrogens) – là một hóa chất thực vật đã làm các nhà khoa học say mê nghiên cứu nhất, vì nó có cấu trúc tương tự như chất kích thích tố sinh dục của phái nữ. (female hormone estrogen) và sự vận hành giống như estrogen. Vì thế các nhà khoa học còn gọi nó là estrogen thảo mộc (plant estrogen).

Sau khi nghiên cứu, các khoa học gia đều cho rằng isoflavones có khả năng mãnh liệt chống lại các tác dụng gây nên chứng ung thư liên hệ đến hormone.

Được biết quá lượng estrogen trong cơ thể là yếu tố chính dẫn đến ung thư vú, ung thư buồng trứng (ovarian), tử cung (uterine), và ung thư cổ của phụ nữ. Trong nếp sống của người Tây phương, dân chúng thường có quá nhiều estrogen bởi vì tiêu thụ nhiều protein thịt động vật có sẵn chất hormone mà người ta trích vào làm cho chúng mau lớn và nhiều sữa. Phần nhiều phụ nữ Tây phương mập vì chế độ dinh dưỡng nhiều thịt và chất béo, cũng làm tăng lượng estrogen, (buồng trứng tự động sản xuất thêm estrogen khi quá chất béo cần thiết). Nơi đàn ông chất béo thặng dư được biến đổi thành androgens và là nguyên nhân dẫn đến bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến. Hiện nay các nhà khoa học đã tìm thấy ba chất genistein, daidzein và glycetein trong isoflavones đậu nành mà genistein là tâm điểm nghiên cứu.

Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, genistein có những lợi ích dưới đây:

1. Giống như những isoflavones khác, hành xử như là chống estrogen (anti-estrogen) bằng cách ngăn cản không cho sản sinh estrogen khi quá lượng estrogen cần thiết trong cơ thể.

2. Ngăn ngừa sự phát triển các tế bào ung thư.

3. Kích thích các tế bào ung thư làm cho chúng trở lại trạng thái bình thường.

4. Ngăn trở sự lớn mạnh của các tế bào ung thư DNA nhưng không ngăn cản sự lớn mạnh của các tế bào bình thường.

5. Hành xử như là các chất chống ốc xi hóa (anti-oxidant), bảo vệ các tế bào bình thường khỏi bị hư hại bởi sự tấn công của các chất d gây chứng ung thư (free radical).

Bởi vì năm tạo tác lợi ích trên của genistein, nên isoflavone được coi là một hóa chất thực vật nhiệm mầu chống lại các căn bệnh ung thư và các khoa học gia tin tưởng rằng genistein cần phải được tinh chế thành dược liệu để điều trị tất cả các loại ung thư. Trong một nghiên cứu của Viện Đại Học Minnesota, genistein đã được dùng thành công trong việc phá hủy các tế bào ung thư máu BCP trong loài chuột. Ung thư máu BCP là một loại ung thư phổ thông nơi trẻ em.

Cũng có nhiều chứng cớ rằng chất genistein đã chữa trị khỏi chứng nóng phừng, phòng ngừa bệnh xốp xương, và có thể thay thế loại estrogen supplement trên thị trường như Premarin. Genistein cũng ngăn ngừa các bệnh động tim, tai biến mạch máu não và sự phát triển tiến trình xơ cứng mạch máu (atherosclerosis). Cuối cùng, genistein là một hóa chất thực vật khá mạnh chống lại các chứng bệnh sưng như bệnh khớp thấp (arthritis) và các chứng bệnh liên hệ đến tình trạng đau nhức ở các khớp xương và bắp thịt như rheumatoid arthritis.

Ngoài genistein ra một chất khác của isoflavone đậu nành là chất Daidzein cũng có những lợi ích như genistein:

1. Có khả năng ngăn ngừa sự hao mòn xương và sự phát triển chứng bệnh xốp xương.

2. Khả năng chống ốc xi hóa (anti-oxidant) và chống ung thư (anti-cancer)

3. Kích thích các tế bào ung thư máu để trở thành thứ khác và chuyển hoán chúng về trạng thái bình thường.

Một cách tổng quát, tiêu thụ 50 mg isoflavone có trong protein đậu nành hằng ngày sẽ (1) làm giảm lượng cholesterol trong máu ít nhất là 35%, (2) không cần thiết phải dùng estrogen supplement, một thứ thuốc có nguy cơ gây nên chứng ung thư vú, tử cung và buồng trứng, và (3) phòng ngừa bệnh xốp xương.

Vì tác dụng cân bằng hormone trong cơ thể, isoflavone có thể ứng dụng cho phái nữ không phân biệt tuổi, trước hay sau khi dứt kinh.

PHÒNG NGỪA BỆNH TIM MẠCH

Trong một nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi Dr. James W. Anderson, M.D. Professor of Medicine and Clinical Nutrition thuộc viện đại học University of Kentucky, Lexington [8] với 730 tình nguyện viên để xem ảnh hưởng của việc ăn protein đậu nành với hệ thống mạch máu qua việc đo lường chất cholesterol.

Sau khi thử nghiệm và phân tích các dữ kiện thâu thập, kết quả cho thấy là lượng cholesterol trong máu giảm theo tỷ lệ lượng tiêu thụ protein đậu nành: nhóm ăn 25 grams một ngày giảm 8.9 mg/dl, nhóm ăn 50 grams giảm 17.4 mg/dl, và nhóm ăn 75 grams protein đậu nành giảm 26.3 mg/dl lượng cholesterol trong máu. Tính chung theo bách phân thì lượng cholesterol giảm 9.3%, lượng LDL cholesterol giảm 12.9%, lượng triglycerides VLDL giảm 10.5%, và lượng HDL cholesterol tăng 2.4%.

Bởi vì mỗi 1% lượng cholesterol giảm sẽ làm giảm mức độ nguy hiểm của bệnh động tim và tai biến mạch máu não từ 2% đến 3%, cho nên với lượng trung bình cholesterol giảm 9.3% độ nguy hiểm về bệnh tim mạch có thể xảy ra sẽ giảm được 18% đến 28%.

Căn cứ theo kết quả, giáo sư Anderson đã khuyến cáo như sau:

Phòng ngừa tổng quát, áp dụng chung cho những người có sức khỏe tốt, 7 servings protein đậu nành mỗi tuần, tức khoảng 10 grams mỗi ngày (8 oz sữa đậu nành mỗi ngày hay 4 cái soy burgers mỗi tuần hay mỗi tuần ăn 4 lần đậu hũ mỗi lần 2 servings, mỗi serving là 3 ounces tức khoảng một phần tư khuôn đậu hũ Hinoichi Regular.) Hay nói đơn giản hơn, cứ mỗi ngày ăn khoảng một miếng đậu hũ trong hộp đựng bốn miếng hoặc một phần tư hộp đậu hũ Hinochi là đủ.

Phòng ngừa đặc biệt, áp dụng cho những người có bệnh tiểu đường hay có độ nguy hiểm cao về các bệnh tim mạch hoặc những người có thân nhân bị các chứng bệnh về tim mạch, tiểu đường, xốp xương, 14 servings protein đậu nành mỗi tuần tức khoảng 20 grams protein đậu nành với 40 mg isoflavones đậu nành mỗi ngày, tương đương với khoảng 3/4 khuôn đậu hũ hiệu Hinoichi loại regular có trọng lượng 14 ounces (396 grams).

Trị liệu cho những người có bệnh tim mạch hay bệnh xốp xương, 21 serving protein đậu nành mỗi tuần tức 30 grams protein với 60 mg isoflavones mỗi ngày.

TRỊ LIỆU BỆNH NHIẾP HỘ TUYẾN

Trong tạp chí Healthy and Natural Journal, Vol.2, No.2, với tựa đề “Concentrated Soybean Phytochemicals,” Bác sĩ Walker đã tường trình thành công việc trị liệu bệnh nhiếp hộ tuyến (tiền liệt tuyến)bằng tinh chế đậu nành (concentrated soy supplement) như sau:

Ông Clarence Mohnehan 79 tuổi quê quán ở Livonia tiển bang Michigan, đã được tuyên bố là sẽ chết trong vòng 60 ngày sau khi việc trị liệu bằng quang tuyến thất bại. Ung thư của ông đã lan khắp hệ thống bạch huyết. Khi được chuyển qua bác sĩ Kenneth Pittaway để chữa thử bằng đậu nành trị liệu pháp theo lời thỉnh cầu của người con trai, thì ông chỉ còn cân nặng 90 lbs., rất yếu, đau ở phần đơn điền, da vàng, mắt mờ đục.

Sau 9 tháng trị liệu bằng dinh dưỡng rau đậu với uống tinh chế đậu nành concentrated soy supplement mỗi ngày, ông Mohnehan đã bình phục hoàn toàn. Theo các tests của phòng thí nghiệm, ông không còn một dấu hiệu ung thư nào trong cơ thể, da dẻ trông khỏe mạnh, các hoạt động cơ thể bình thường, và cân nặng 135 lbs lúc xuất viện tháng 12-1994.

Trên đây là một case trong nhiều case trị liệu bằng đậu nành thành công ở Hoa Kỳ. Thật ra lối trị liệu này đã có từ lâu tại Trung Hoa nhưng mới được áp dụng tại Hoa Kỳ trong vài ba năm gần đây. Hiện nay nhiều công ty Hoa Kỳ và Trung Hoa đang chạy đua trong việc sản xuất dược liệu lấy từ tinh chất đậu nành dưới hình thức viên tablet và capsule.

Những thứ tinh chất đậu nành supplement mới nhất có chứa từ .5 đến 2.5% isoflavone và genistein.

Tại Nhật Bản, trung bình một người tiêu thụ từ 20 đến 100 mg chất isoflavones mỗi ngày từ các thực phẩm đậu nành. Được biết nếu tiêu thụ hàng ngày khoảng 50 mg isoflavones sẽ ngăn ngừa được một vài thứ bệnh ung thư.

Đậu hũ và tempeh, có chứa khoảng 10 mg isoflavones mỗi ounce. Để có đủ lượng isoflavones đậu nành cần thiết hầu có thể ngăn ngừa bệnh ung thư và tim mạch, một người cần phải tiêu thụ từ 5 oz đến 30 oz đậu hũ hay tempeh mỗi ngày, (mỗi một hộp đậu hũ Hinoichi loại regular bán trên thị trường cân nặng 14 ounces). Ba mươi ounces đậu hũ có chứa khoảng 300 mg isoflavones và trong một viên soy supplement có tổng cộng 25.17 mg isoflavones.

Tưởng cũng nên biết, trong tiến trình biến chế đậu nành thành đậu hũ người ta có thêm vào chất calcium sulfate, một chất bột không mầu sắc tìm thấy trong đá vôi, xương, răng, vỏ sò hoặc trong chất tro của thực vật, để cho đông đặc, vì thế một hộp đậu hũ loại firm nặng 14 ounces có chứa khoảng 120 mg calcium, riêng loại silken chỉ có 40 mg. Chúng tôi có e-mail hỏi giáo sư bác sĩ James Anderson [9] chuyên gia nổi tiếng về dinh dưỡng tại Viện Đại Học Kentucky về sự ảnh hưởng của chất này thì được giáo sư cho biết calcium là một chất khoáng rất cần thiết cho cơ thể mà nhu cầu calcium hằng ngày phải cần từ 800 đến 1200 mg. Số lượng calcium trong đậu hũ (3 ounces) chỉ đáp ứng được 10% mà thôi, cần phải ăn thêm những thực phẩm khác nữa mới đủ. Ông cũng cho biết là trong các cuộc nghiên cứu dài hạn và quan sát dân số các khu vực tiêu thụ nhiều đậu nành, đã không tìm thấy một side effect nào trong việc tiêu thụ nhiều thực phẩm đậu nành nói chung và đậu hũ nói riêng..

Ngày nay, dân chúng Hoa Kỳ nói riêng và Tây phương nói chung đã nhìn thấy ăn chay như là một lối sống bảo vệ sức khỏe cá nhân và gìn giữ môi sinh thế giới. Họ cũng đã thấy thực phẩm đậu nành có giá trị dinh dưỡng rất cao và chất isoflavones cùng những hóa chất thực vật khác trong đậu nành đang được công nhận là dược liệu phòng ngừa và trị liệu nhiều thứ bệnh.

Thiên nhiên đã cho chúng ta trái đất để ở và trái đất đã cho chúng ta nhiều thứ chúng ta cần để sống khỏe. Chúng ta cần phải thừa nhận sự thật này và nên sống gần với thiên nhiên. Có lẽ đậu nành với những hóa chất thực vật của nó sẽ là cái chìa khóa để nhân loại mở cửa bước vào một đời sống an lạc và hạnh phúc.

CUỘC CHIẾN ĐẤU CHỐNG UNG THƯ VÚ BẰNG THỰC PHẨM RAU ĐẬU

Ruth Heidrich, Ph.D.

Năm 1982, Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia Hoa Kỳ (the U.S. National Research Council) đã công bố dinh dưỡng là yếu tố lớn nhất dẫn đến ung thư, thế mà Hội Ung Thư Hoa Kỳ (the American Cancer Society) và các hội thiện nguyện khác đã tiêu rất ít tiền trong công tác giáo dục phòng ngừa. Thay vào đó, họ đã phung phí hàng triệu dollars vào các cuộc thí nghiệm vô dụng nơi thú vật. Tiến Sĩ Ruth Heidrich, thể tháo gia ba bộ môn, tác giả hai quyển sách, din thuyết viên truyền thanh và là người thoát chết ung thư, sẽ kể cho chúng ta làm thế nào để chiến đấu chống lại căn bệnh quái ác này. Cũng nên nhớ, bà vừa ăn chay, vừa là nhà thể thao ba bộ môn: chạy bộ, bơi lội và đạp xe đạp. Thế thì chúng ta có còn nên tiếp tục bám chặt vào cái thành kiến “ăn chay không đủ sức khỏe” nữa hay không? (Lời Dịch Giả)

Khi biết bị ung thư vú vào năm 1982, phản ứng dữ dội trong tôi là “tại sao lại tôi!” Tình trạng sức khỏe của tôi vẫn tốt cơ mà. Tôi đã thường áp dụng một chính sách dinh dưỡng, gồm có cả thịt gà và sữa bò loại non-fat mà tôi nghĩ ràng rất bổ ích cho sức khỏe. Nhưng cục bứu to gần bằng quả côn cầu trong vú tôi đã nói với tôi rằng có một cái gì sai trái.

Sau khi giải phẫu, các bác sĩ nói với tôi là cần phải tiếp tục trị liệu bằng phương pháp hóa học (chemotherapy), nhưng tôi biết hóa pháp trị liệu này sẽ hủy diệt hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể con người. Tôi chuyển qua John McDougall, M.D., vị y sĩ tiền phong nghiên cứu về sự liên hệ giữa bệnh tật và dinh dưỡng, và hiểu rằng vũ khí lớn nhất chống lại căn bệnh giết người này không phải là trong bệnh viện ung thư, mà là trong các tiệm thực phẩm. Vì thế, tôi đã chuyển đổi chế độ dinh dưỡng từ ăn mặn qua ăn chay thuần túy thật ít chất béo (very low-fat vegan diet), mà hầu hết là rau, đậu, trái cây và loại bỏ tất cả thức ăn có nguồn gốc từ thịt động vật, kể cả trứng, cheese, bơ, sữa và tôm cua cá.

Đồng thời tôi tập luyện cho thân thể được mạnh mẽ hơn. Tôi đã là một thể tháo gia chạy đường trường; bây giờ tôi bắt đầu huấn luyện thêm để trở thành thể tháo gia ba bộ môn, bắt đầu với bơi ngoài biển, tiếp theo đó là đạp xe đạp và sau cùng là chạy đường trường.

Các bạn bè của tôi đều cho rằng tôi quá già để huấn luyện thành nhà thể thao ba bộ môn. Phu quân tôi rất bất bình khi tôi vẫn liên tiếp từ chối trị liệu bằng phương pháp quy ước, hóa pháp trị liệu. Các chuyên gia ung thư đều lắc đầu.

Tôi làm ngạc nhiên mọi người trừ Bác Sĩ McDougall, và tôi đã thành công, sức khỏe trở nên mạnh mẽ và tốt hơn.

Tôi muốn được chia sẻ những cái mà tôi đã kinh qua, cho nên đã gia nhập chương trình “Reach to Recovery” của Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society), nơi quy tụ những người thoát chết ung thư, đi thăm viếng những bệnh nhân khác đang bị ung thư vú để khuyến khích họ đừng lo sợ và bỏ cuộc. Bất hạnh thay, Hội Ung Thư Hoa Kỳ đã không muốn tôi nói về kinh nghiệm dinh dưỡng chay và tập thể dục, mà nó đã cứu tôi khỏi chết về căn bệnh quái ác này. Các viên chức của hội đã khẩn khoản yêu cầu tôi đừng làm mất lòng các bác sĩ, e sợ sẽ mất đi sự bảo trợ của họ.

Tôi đã cảm thấy bị tổn thương. Tại sao những người đàn bà đang bị ung thư này lại không được biết đến những kinh nghiệm quý báu mà nó có thể cứu sống đời họ?

Buồn thay, thái độ của Hội Ung Thư Hoa Kỳ đối với tôi chỉ là một trong nhiều vấn đề khó khăn của họ. Tôi cũng đã khám phá ra rằng, giống như nhiều hội ung thư thiện nguyện khác, các quỹ tài chánh thử nghiệm thú vật của họ đã bị tiêu sài một cách hoang phí đến hàng triệu dollars, mà đã không đem lại kết quả nào. Tỷ suất chết về ung thư vú vẫn tiếp tục lên cao.

Tôi tiếp tục nói về những điều thật cần phải nói bằng những phương tiện truyền thông khác. Tôi đã viết hai quyển sách, Race for Life và The race for Life Cookbook, và đã bắt đầu đi giảng thuyết khắp nơi ở Hoa Kỳ. Tôi cũng phụ trách chương trình phát thanh “Nutrition and You” để chia sẻ những điều tôi đã học và kinh nghiệm qua. Và giờ đây ở tuổi 63, tôi thật khỏe mạnh. Bệnh ung thư chẳng bao giờ trở lại.

Ruth Heidrich, Ph.D.

KINH TỪ BI

Những ai muốn đạt tới an lạc thường nên học hạnh thẳng thắn, khiêm cung, biết sử dụng ngôn ngữ từ ái. Những kẻ ấy biết sống đơn giản mà hạnh phúc, nếp sống từ hòa, điềm đạm, ít ham muốn, không đua đòi theo đám đông. Những kẻ ấy sẽ không làm bất cứ một điều gì mà các bậc thức giả có thể chê cười.

Và đây là điều họ luôn luôn tâm niệm:

Nguyện cho mọi người và mọi loài đươc sống trong an toàn và hạnh phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.

Nguyện cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài cao, những loài thấp, những loài lớn, những loài nhỏ, những loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy, những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh và những loài sắp sinh.

Nguyện cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho ai bị đau khổ và khốn đốn.

Như một bà mẹ đang đem thân mạng mình che chở cho đứa con duy nhất, chúng ta hãy đem lòng từ bi mà đối xử với tất cả mọi loài.

Ta hãy đem lòng từ bi không giới hạn của ta mà bao trùm cả thế gian và muôn loài, từ trên xuống dưới, từ trái sang phải, lòng từ bi không bị bất cứ gì làm ngăn cách, tâm ta không còn vương vấn một chút hờn oán hoặc căm thù. Bất cứ lúc nào, khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm, miễn là còn thức, ta nguyện duy trì trong ta chánh niệm từ bi. Nếp sống từ bi là nếp sống cao đẹp nhất.

Không lạc vào tà kiến, loại dần ham muốn, sống nếp sống lành mạnh và đạt thành trí giác, hành giả sẽ chắc chắn vượt thoát khỏi tử sinh.

Chú Thích:

Mettã sutta với bản Việt dịch nêu trên của Thầy Nhất Hạnh do Làng Mai Pháp Quốc xuất bản. Tựa kinh tiếng Việt do thầy dịch là “Kinh Thương Yêu”, tiếng Anh là “Sutra on Loving-kindness” tiếng Sanskrit là “Maitri sutta”, nhà học giả Edward Conze dịch là “Unlimited Friendliness”. Kinh này thuộc hệ Nguyên thủy.

Theo ngài Narada Thera trong quyển Đức Phật và Phật Pháp, bản Việt dịch của Phạm Kim Khánh thì “Phạn ngữ Mettã, dịch là “Tâm Từ”, và Mettã Sutta dịch là “Kinh Từ Bi”. “Mettã là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm trạng của một người bạn tốt, là lòng ước mong chân thành cho tất cả chúng sinh đều được sống an lành vui vẻ.”

“So sánh tâm Từ với tình mẫu tử trong kinh Từ Bi, Đức Phật không đề cập đến lòng trìu mến thương yêu (passionate love) ít nhiều vị kỷ của người mẹ. Đức Phật chỉ nhằm vào sự mong mỏi chân thành của bà mẹ hiền muốn cho đứa con duy nhất của mình được sống an lành. Trìu mến thương yêu đem lại phiền não. Tâm từ chỉ tạo an lành hạnh phúc. “Đây là một điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thương yêu, trìu mến con, con thương yêu cha mẹ, chồng thương yêu vợ, vợ thương yêu chồng. Tình luyến ái giữa những người thân yêu là lẽ thường, là một sự kiện tự nhiên. Thế gian không thể tồn tại được nếu không có tình thương. Nhưng tình thương luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không so sánh được với tâm Từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ bao la. Do đó tâm Từ không đồng nghĩa với tình thương yêu ích kỷ.

“Tâm từ (mettã) không phải sự yêu thương xác thịt, cũng không phải lòng luyến ái đối với người nào. Tình dục và luyến ái là nguồn gốc của bao điều phiền não.

“Tâm từ cũng không phải là tình thương riêng biệt đối với người láng giềng, bởi vì người có tâm từ không phân biệt người thân kẻ sơ.

“Tâm từ không phải chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người và người, mà phải bao trùm tất cả chúng sinh, không trừ bỏ một sinh vật nhỏ bé nào, bởi vì loài cầm thú, các người bạn xấu số của chúng ta, cũng cần nhiều đến sự giúp đỡ và tình thương của chúng ta.

“Tâm từ cũng không phải là tình đồng chí, không phải tình đồng chủng, không phải tình đồng hương, cũng không phải tình đồng đạo.

“Tâm từ êm dịu vượt hẳn lên trên các thứ tình hẹp hòi ấy. Phạm vi hoạt động của tâm Từ không bờ bến, không biên cương, không hạn định. Tâm Từ không có bất luận một loại kỳ thị nào. Nhờ tâm Từ mà ta có thể xem tất cả chúng sinh là bạn hữu, và khắp nơi trên thế gian như chỗ chôn nhau cắt rún.

“Tựa hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật, tâm Từ cao thượng rải khắp đồng đều phước lành thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ, bạn cũng như thù, không phân biệt giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, hư hèn hay đạo đức, người hay thú.

“Người thực hiện tâm Từ đến mức cùng tột sẽ thâý mình đồng hoá với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” lần lần mở rộng lan tràn cùng khắp càn khôn vạn vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan, biến mất như đám sương mờ trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất. [Đức Phật và Phật Pháp, trang 584-588]

TÀI LIỆU THAM CHIẾU

PHẦN THỨ NHẤT

Quan Điểm Ăn Chay Của Người Tây Phương

1 Còn gọi là đau tim hay động tim (heart attack)

2 Yankelovich, Skelly &White Clancy, Shulman, Inc., 1992

3 Thịt động vật được định nghĩa là thịt các loại động vật biết đi, biết bò, biết cọ quậy, biết bay và biết bơi lội, tức là các con vật trên bộ, trên không và dưới nước.

4 Animal, Nature and Albert Schweitzer, page 40

Sức Khỏe

5 Neal Bernard, M.D., Food For Life, Crown Publishers, Inc., New York 1993 và Tâm Diệu, Thực Phẩm Rau Đậu Qua Lăng Kính Khoa Học, Nhà Xuất Bản Văn Nghệ 1997. Trang 145

6 American Journal of Clinical Nutrition 1993 Report.

7 Mới đây, chính phủ Hoa Kỳ đã ra lệnh cho các công ty airline không được cho hành khách ăn đậu phộng cũng vì lý do này.

8 Robert Garrison, Jr., et al. The nutrition Desk Reference, 3rd ed. pg 391 Keats Publishing, New Canaan, Connecticut

9 Mark Messina, PhD, Virginia Messina, RD, Kenneth D.R. Setchell, PhD., The Simple Soybean and Your Health, Avery Publishing Group, NY 1994. P. 117

10 Robertson PJ et al. The effect of high animal protein intake on the risk of calcium stone-formation in the urinary tract. Clinical Science, 1979;576:285-288.

11 Neal Bernard, M.D., Food For Life, Crown Publishers, Inc., New York 1993.

12 Xem chi tiết nơi phụ trương.

13 Robertson PJ et al. The effect of high animal protein intake on the risk of calcium stone-formation in the urinary tract. Clinical Science, 1979, 57:285-288.

14 Theo AAFCO, cơ quan đặt tiêu chuẩn cho kỹ nghệ sản xuất thức ăn nuôi súc vật cho biết khoảng từ một nửa đến ba phần tư các tiểu bang Hoa Kỳ dùng phân gà cho bò ăn.

15 The Physicians Committee for Responsible Medicine, Good Medicine Autumn 1997 Vol. 6, Number 4.

Môi Sinh

16 Robin Hur and Dr. David Fields, Are High Fat Diets Killing Our Forest? Vegetarian Times, February, 1984.

17 Philip M. Fearnside, Deforestation In Brazilian Amazonia, Cambridge University Press, 1990.

18 Rediscovering Planet Earth, US News and Worls Report, October 31,1988. (Thực sự đây là tài liệu nghiên cứu của Christopher Uhl, giáo sư sinh hóa tại Viện Đại Học Penn State University)

19 Mike Feinsilber, Real Environmentalist Eat Rutabagaburgers, The Organian (Associated Press), April 25,1990.

20 George Borgstrom, Presentation to the Annual Meeting of the American Association for the Advancement of Science. Paul and Anne Ehrlich, Population, Resources, Environment. (W.H. Freeman, 1972).

21 Soil and Water Resources Conservation Act Summary of Appraisal, USDA Review Draft, 1980.

Tình Trạng Thiếu Ăn Trên Thế Giới

22 Brown, L, Full House, Worldwatch Inst. 1994

23 Perleman, M, Farming for Profit in a Hungry World; Capital and the Crisis Agriculture, 1977

24 Lean, G., et al, Atlas of the Environment, 1990

25 The world Food Problem, A Report by the President?s Science Advisory Committee, Vol. 1 May 1967

26 Frances Moore Lappé and Joseph Collins, World Hunger, P. 13

PHẦN THỨ HAI

Quan Điểm Của Phật Giáo Nguyên Thủy

1 Hòa Thượng Hộ Tông, Tăng Thống Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam, Người Tu Cần Phải Ăn Chay Không?, Kỷ Yếu Bửu Môn Xuân Mậu Thìn 1987, Tr. 100.

2 Ven. S. Dhammika, Australian BuddhaNet

3 Phạm Ngọc Sâm, Người Tu Cần Phải Ăn Chay Không?, Kỷ Yếu Bửu Môn Xuân Mậu Thìn 1987, Chùa Bửu Môn, Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy Việt Nam Tại Hải Ngoại, Port Arthur, Texas, trang 96-97.

4 Như dẫn chứng số 3 nêu trên.

5 Hòa Thượng Thích Minh Châu, Tăng Chi Bộ Kinh, Tập 1, Xuất Bản tại Việt Nam năm 1987 trang 347.

6 Thân: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm; Khẩu: không nói dối, không nói lời hai lưỡi, không nói lời độc ác; ? không tham, không sân hận, không si mê.

7 Jivaka Sutta, Majjhima Nikaya 55

8 Quý Phật tử hộ pháp nên đem tấm lòng thành kính đối với Phật, lòng từ bi đối với muôn loài chúng sinh mà làm đồ ăn chay dâng cúng chư vị Tu sĩ, vừa giúp cơ thể chư vị mạnh khỏe thanh tịnh để tu hành, vừa giúp súc sinh khỏi sống tù tội chết đau đớn. (Lời người biên soạn)

Quan Điểm Của Phật Giáo Đại Thừa

1 Jon Gregerson, Vegetarianism: A History, Jain Publishing Company, Fremont, CA 1994. Trang 37-42.

2 Chun-fang Yu, The Revival of Buddhism in China, Columbia University Press. New York, 1981.

3 Xin xem nguyên văn nơi phụ trương ở phần cuối sách

4 Roshi Philip Kapleau, To Cherish All Life, The Zen Center, Rochester New York 1981.

5 Ven. Dr. Thích Minh Châu, The Chinese Madhyma Agama And Pali Majjhima Nikaya: A Comparative Study, The Vạn Hạnh University, Saigon 1964. Page 31.

6 Không phải là Đại Thừa (Mahayana)

7 Nattier & Prebish, History Of Religions Aug. 76 Vol.16, trang 267-269.

Giới Không Sát Sanh

9 Kinh Đại Bát Niết Bàn, Quyến 1, Dịch giả Thích Trí Tịnh, Tịnh Xá Minh Đăng Quang xuất bản năm 1990, Trang 267.

10 Hòa Thượng Thích Minh Châu,Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1990. Trang125-126..

11 Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo

12 Kinh Tâm Địa Quán, Phẩm Báo Ân thứ 3

13 Vua Trần Thái Tông, Khóa Hư Lục, bản dịch của Hòa Thượng Thích Thanh Từ trong Khóa Hư Lục Giảng Giải, Bản in ở Hoa Kỳ năm 1996, trang 48

Giới Phóng Sanh

1 Kinh Phạm Võng, Hòa Thượng Thíchh Trí Tịnh dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1985. Trang 30.

Ăn Chay Trong Kinh Điển Đại Thừa

1 Tỳ kheo Thích Duy Lực, Kinh Lăng Gìa, GHPGVN xuất bản năm 1994, Trang 239-241

2 Tỳ Kheo Thích Duy lực, Kinh Lăng Nghiêm, Tù Ân Thiền Đường xuất bản năm 1991, trang162-163.

3 Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Quyển 1, Tinh Xá Minh Đăng Quang xuất bản năm 1990, trang 137-138

Nghi Vấn Về Nguyên Do Đức Phật Niết Bàn

1 Trường A Hàm Kinh, Quyển 3, Du hành Ký

Dialogues of the Buđdha, Vol. I I I of Sacred Books of the Buđdhists, ed. T.W. Rhys Davids: London: Oxford University Press, 1910. P.137

Y Nghĩa Bất Y Ngữ

1 Hòa Thượng Thích Minh Châu, Hãy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1990. Trang 125-126.

PHẦN THỨ BA

Lời Kêu Gọi Đừng Ăn Thịt Chúng Sinh

1 Lester Brown, (of) The Overseas Development Council, as cited in Diet For A New America, 1987.

2 World Hunger, Report by the Food and Agricultural Organization of the United Nations (FAO) in Rome, Italy, Fall 1989.

3 Tom Regan, But For The Sake Of Some Little Mouthful Of Flesh, The Animal?s Agenda, Vol. 2, No. 1, February, 1989.

PHẦN THỨ TƯ

Những Câu Hỏi Đáp Về Ăn Chay

1 Thiền Sư Tổ Nguyên, Vạn Pháp Quy Tâm Lục, Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp dịch, Chơn Không Vũng Tầu xuất bản 1973. Trang 11

2 Thiền Sư Tổ Nguyên, Vạn Pháp Quy Tâm Lục, Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp dịch, Chơn Không Vũng Tầu xuất bản 1973. Trang 11

3 Thiền Sư Tổ Nguyên, Vạn Pháp Quy Tâm Lục, Tỳ Kheo Thích Đắc Pháp dịch, Chơn Không Vũng Tầu xuất bản 1973. Trang 11

4 Hoà Thượng Tuyên Hóa, Hoa Sen Ngày Xuân, Bát Nhã Ngữ Quyển 1 Vạn Phật Thành 1997, trang 118

5 Hoà Thượng Tuyên Hóa, Hoa Sen Ngày Xuân, Bát Nhã Ngữ Quyển 1 Vạn Phật Thành 1997, trang 66

6 Hoà Thượng Tuyên Hóa, Hoa Sen Ngày Xuân, Bát Nhã Ngữ Quyển 1 Vạn Phật Thành 1997, trang 20

7 Hòa Thượng Duy Lực giảng tại Từ ân Thiền đường

8 Hoà Thượng Tuyên Hóa, Hoa Sen Ngày Xuân, Bát Nhã Ngữ Quyển 1 Vạn Phật Thành 1997, trang 43

9 Chữ Hán “Nhục” gồm hai chữ nhân (người) nằm trong chữ khẩu (mồm)

10 Hoà Thượng Tuyên Hóa, Hoa Sen Ngày Xuân, Bát Nhã Ngữ Quyển 1 Vạn Phật Thành 1997, trang 50

11 Một cân bằng 16 lượng (đơn vị đo lường thời xưa bên Tầu)

12 Hòa Thượng Quảng Khâm, Cẩm Nang Tu Đạo,, Chùa Việt Nam Seatle phát hành, trang 136

13 Trao đổi e-mail with Dr. Neal D. Barnard, M.D. Washington D.C., Feb. 19,1996

14 Neal D. Barnard, M.D.,The Power Of Your Plate: Eating Well For Better Health-Experts Tell You How!, pp. 125-127, Book Publishing Company 1990

15 Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, in tại Hoa Kỳ 1995. Trang 256

16 Udo Erasmus, Fats That Heal, Fats That Kill, Alive Books

17 Ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thùy.

18 Xem chi tiết quyển “Thực Phẩm Rau Đậu Qiua Lăng Kính Khoa học.

19 Sử Việt Nam có ghi lễ hành quyết vua Cảnh Thịnh, em ruột vua Quang Trung, tướng Trần Quang Diệu, và vợ là tướng Bùi Thị Xuân cùng con gái 10 tuổi là Trần Bích Xuân tại Phú Xuân (cố đô Huế ngày nay) vào ngày rằm tháng bảy năm Nhâm Tuất 1802.

PHẦN THỨ NĂM

Phụ Trương

1 Dipietro CM, Liener IE. Soybean protease in foods. Journal Food Science 54:606-617,1989

2 Hann H-WL, Stahlhut MW, Menduke H. Iron Enhances Tumor Growth. Cancer 68:2407-2410,1991.

3 Janezic S., Rao AV. Role of dietary phytosterol in colon carcinogenesis. Abstr Proc 34th Annu Meet Can Fed Biol Soc. Kingston, Ontario, 1991

4 British Medical Journal, 1986, vol. 293.

5 New England Journal of Medicine, 1985, vol. 312.

6 Odeleye OE, Watson RR. Health implications of the omega-3 fatty acids. American Journal Clinical Nutrition 1991;53:177-78.

7 Kinsella IE. Reply to O Odeleye and R Watson. American Journal Clinical Nutrition 1991;53:178.

8 – Anderson JW, Johnstone BM, Cook-Newell ME. Meta-analysis of effects of soy protein intake on serum lipids in humans. New England Journal of Medicine 1995;333:276-282.

– Anderson JW, Soy Protein and Risk for Coronary Hearth Disease, American Dietetic Association 80th Annual Meeting held 10-27-30-97, in Boston MA.

9 James W. Anderson, M.D. Professor of Medicine and Clinical Nutrition University of Kentucky, Lexington, KY. Phone 606-281-4954; fax606-233-3832, e-mail: [email protected]

– HẾT –

ĐỀ MỤC CÁC CÂU HỎI

111. Ăn chay, có công đức chăng?

112. Loài vật để cho người ăn chăng?

113. Lòng tốt là đủ, khỏi cần ăn chay đúng không?

114. Tại sao có nhiều chứng bệnh quái lạ, ác ôn?

114. Có người nói “vật dưỡng nhân” là ý Trời, đúng không?

114. Động vật chết rồi có đầu thai chăng?

114. Làm sao giải quyết gián kiến trong nhà?

115. Cứ giết gà rồi cầu siêu cho nó được không?

116. Sinh sống bằng nghề giết gà, nên chăng?

116. Vì sao người Phật tử phải ăn chay?

117. Muốn ăn chay mà cứ thèm thịt làm sao bây giờ?

118. Đi máy bay, nhưng không biết họ có đồ ăn chay không?

118. Rau cỏ có cảm giác đau đớn khi chúng ta ăn chúng không?

118. Tại sao có những người ăn chay mà vẫn bệnh?

121. Ăn thịt cũng giống Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ chăng?

123. Ăn chay bị dằn vặt…

125. Món chay làm giống gà, cá, tôm.. tại chùa và nhà hàng

128. Ý kiến của đạo hữu Minh Tịnh ở Portland, Oregon

130. Ăn chay trên đường đi hành hương Việt Nam.

135. Trẻ em ăn chay có thiếu dinh dưỡng không?

137. Ăn mặn hay ăn mạng?

138. Mua thịt cá bán sẵn, không tự mình giết, được không?

138. Cha mẹ tạo nhân, con lãnh quả, được không?

140. Đánh trống bọc bằng da loài vật, có phạm giới không?

143. “Ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối”, đúng không?

LỜI KÍNH THƯA

Nhân Kỳ Tái Bản Lần Thứ Hai

Theo nhiều nghiên cứu mới, hàm lượng chất béo triglyceride cao trong máu cũng có độ nguy hiểm về các bệnh tim mạch như chất cholesterol, nên chúng tôi có bổ túc thêm bài nói về chất triglyceride trong kỳ tái bản lần thứ hai này (trang 18).

Ngoài ra, đối với người Phật tử, nếu muốn đi trên con đường giác ngộ thì phải tin sâu nhân quả, chuyển thói quen tạo nhân xấu thành thói quen tạo nhân tốt, không làm điều ác, làm các điều lành, giữ tâm thanh tịnh, đối xử từ bi, bình đẳng với tất cả mọi loài chúng sinh; nên việc phóng sinh cũng rất là quan trọng, vì thế có thêm bài phóng sinh (trang 76).

Cũng trong kỳ tái bản này, chúng tôi có ghi thêm một câu hỏi của rất nhiều độc giả, mà đối với chúng tôi, là một câu hỏi khó trả lời nhất. Đó là câu hỏi liên quan đến việc đánh trống bọc bằng da loài vật có phạm giới cấm sát sanh và đi ngược với chủ trương ăn chay của Phật Giáo không (trang 140).

Thêm nữa là một bài viết về kinh nghiệm chữa trị bệnh ung thư vú bằng thực phẩm rau đậu của một phụ nữ Hoa Kỳ (trang 163).

Ước mong bốn bài viết bổ túc trong kỳ tái bản này sẽ hữu ích cho chúng ta và đem lại sự an lành cho mọi loài chúng sinh.



BÌNH LUẬN BẰNG FACEBOOK
BÌNH LUẬN BẰNG EMAIL

Add Comment