Tứ Động Tâm – Bốn Thánh Tích Phật giáo

TUYỂN TẬP BÀI VIẾT CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

LÂM TỲ NI – NƠI ĐỨC PHẬT ĐẢN SANH

Lâm Tỳ Ni là nơi Thái tử Tất Đạt Đa đản sanh và sống đến 29 tuổi trước khi rời Hoàng Cung để đi tìm con đường Giác Ngộ. Lâm Tỳ Ni đã bị bỏ quên trong nhiều thế kỳ. Năm 1895, Feuhrer, một nhà khảo cổ học nổi tiếng người Đức đã phát hiện các trụ cột lớn tại đây trong khi ông đi đến các vùng đồi thấp của dãy núi Churia. Tiến hành thăm dò và khai quật khu vực xung quanh người ta phát hiện một ngôi đền bằng gạch và đá sa thạch điêu khắc những cảnh sinh thành của đức Phật.

1. Địa lý

Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nằm trên một ngọn đồi thấp dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn, cách kinh thành Ca Tỳ La Vệ xưa (nay là Kapilavastu) khoảng 25 cây số về hướng Đông, cách biên giới Ấn – Nepal 36 cây số và cách thủ đô Nepal Kathmandu 320 cây số. Nơi đây đã có một thời gian lâu dài bị lãng quên. Mãi đến ngày 1 tháng 12 năm 1896, tức là khoảng 2500 năm sau, hai nhà khảo cổ người Đức Alois A. Fuhrer và Khadga Samsher [1] mới khai quật và phát hiện tại nơi đây một trụ đá có ghi khắc sắc lệnh của vua A Dục (Asoka), mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh Đức Thích Tôn. Trụ đá được các nhà khảo cổ dựng lại ngay trên nền nguyên thuỷ, và công tác khai quật, trùng tu và bảo trì Lâm Tỳ Ni bắt đầu từ đấy.

2. Khuôn viên Lâm Tỳ Ni

2.1. Trụ đá di tích lịch sử Asoka (Asoka’s Pillar)

Cột trụ đá có độ cao khoảng từ 5 đến 6 mét, đường kính khoảng nửa mét, được bao quanh bởi hàng rào sắt. Trên đầu cột trụ đá không có hình gì cả. Trên thân trụ có khắc 5 hàng cổ ngữ Brahmi và bên cạnh, phía bên dưới có tấm bia ghi bằng ba ngôn ngữ: Brahmi, Anh và Pali hay Ấn ngữ cho du khách xem
Tiếng Brahmi:
Devannapiyena piyadasina lajina-visativasabhisitena.
Atana-agacha mahiyite. Hida Budhe-jate sakyamuniti.
Silavigadabhicha kalapita silathabhe-cha usapapite.
Hida Bhagavam jateti Lumbinigame ubalike kate,
Athabhagiye ca.
Tiếng Anh: “King Piyadasi (Ashoka), beloved of devas, in the 20 year of the coronation, himself made a royal visit, Buddha Sakyamuni having been born here, a stone railing was built and a stone pillar erected to the Bhagavan having been born here, Lumbini village was taxed reduced and entitled to the eight part (only)”. [2]
Cột trụ đá này chỉ rõ cho chúng ta biết chắc chắn chỗ này là nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh. Đây là một phát hiện di tích có giá trị lịch sử sớm nhất còn lại đến ngày nay và đoạn văn khắc trên trụ đá có thể được xem là “bản khai sanh” của Thái tử Tất Đạt Đa, là một bằng chứng “sống” về sự kiện nhân vật có thực của lịch sử.

Đền thờ Hoàng Hậu Maya, Trụ đá Asoka và Hồ thiêng
Đền thờ Hoàng Hậu Maya, Trụ đá Asoka và Hồ thiêng
một trụ đá có ghi khắc sắc lệnh của vua A Dục (Asoka), mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh Đức Thích Tôn. Trụ đá được các nhà khảo cổ dựng lại ngay trên nền nguyên thuỷ
Một trụ đá có ghi khắc sắc lệnh của vua A Dục (Asoka), mới biết đây là Thánh địa, nơi đản sanh Đức Thích Tôn. Trụ đá được các nhà khảo cổ dựng lại ngay trên nền nguyên thuỷ.
Trên thân trụ có khắc 5 hàng cổ ngữ Brahmi
Trên thân trụ có khắc 5 hàng cổ ngữ Brahmi
Bên cạnh, phía bên dưới có tấm bia ghi bằng ba ngôn ngữ: Brahmi, Anh và Pali hay Ấn ngữ cho du khách xem
Bên cạnh, phía bên dưới có tấm bia ghi bằng ba ngôn ngữ: Brahmi, Anh và Pali hay Ấn ngữ cho du khách xem

2.2. Đền thờ hoàng hậu Maya và phiến đá in dấu chân Đức Phật đản sanh

Bên cạnh cột trụ đá lịch sử này là đền thờ Hoàng hậu Maya (Mahadevi temple). Ngôi đền được xây dựng theo lối kiến trúc khá đặc biệt, không giống như bất cứ ngôi đền nào chúng ta từng thấy. Gọi là đền nhưng thực ra chỉ là bốn bức tường sơn mầu trắng bao quanh khu vực khảo cổ, rất đơn giản, cốt để che mưa, che nắng bảo vệ cho khu vực khai quật tránh bị hư hoại theo thời gian.

Đền thờ Hoàng hậu Maya (lối vào)
Đền thờ Hoàng hậu Maya (lối vào)
Bên trong đền Hoàng hậu Maya
Bên trong đền Hoàng hậu Maya

Bên trong đền là những nền gạch xưa cũ đã được khai quật, những vết tích cổ xưa. Trên bờ tường gạch kế bên, cách mặt đất khoảng 3m là một bức phù điêu bằng đá mô tả sự ra đời của thái tử Tất Đạt Đa qua hình ảnh hoàng hậu Maya đang đứng với lấy một nhánh cây Vô ưu và đang hạ sinh thái tử. Mặc dầu bức phù điêu này không được các nhà khảo cổ xem là di tích lịch sử, nhưng nó có giá trị sử học theo cách nhìn của các nhà nghiên cứu sử Ấn Độ và Nepal. Họ cho rằng bức phù điêu này được thực hiện bởi vua Ripu Malla, một vị vua theo đạo Hindu, của Nepal vào đầu thế kỷ XIV. Vua Ripu Malla tin rằng hoàng hậu Maya là một hoá thân của nữ thần Hindu.

Bức phù điêu bằng đá mô tả sự ra đời của thái tử Tất Đạt Đa qua hình ảnh hoàng hậu Maya đang đứng với lấy một nhánh cây Vô ưu và đang hạ sinh thái tử.
Bức phù điêu bằng đá mô tả sự ra đời của thái tử Tất Đạt Đa qua hình ảnh hoàng hậu Maya đang đứng với lấy một nhánh cây Vô ưu và đang hạ sinh thái tử.

Về hướng nam của ngôi đền, cách không xa cột trụ đá, là một hồ tắm. Theo “Phật quốc truyện” của Ngài Pháp Hiển đến Ấn độ khoảng thế kỷ thứ V SCN chép như sau: “Phu nhân nghỉ chân tại vườn Lâm Tỳ Ni, tắm trong một hồ nước trong xanh và mát. Sau khi tắm gội xong bà đi dạo trong vườn khoảng hai mươi bước chân, tay vin vào nhánh cây Vô ưu quay về hướng đông và hạ sanh Thái tử.” Cạnh hồ tắm là cây bồ đề mà trước đây là cây Vô ưu. (Hình 14 và 15)

Hồ nước thiêng và cây Bồ Đề (trước đây là cây Vô Ưu)
Hồ nước thiêng và cây Bồ Đề (trước đây là cây Vô Ưu)

Bên cạnh cây Bồ đề, hồ nước và đền thờ hoàng hậu Maya là một dãy nền móng gạch đỏ nằm trong khuôn viên hình chữ nhật, đó là di tích Tu viện Lâm Tỳ Ni. Di tích được xác nhận có bề dày lịch sử từ khoảng thế kỷ thứ 3 hoặc thế kỷ thứ 4 trước tây lịch.

Di tích Tu viện Lâm Tỳ Ni

Gần đây nhất, vào năm 1996, các nhà khảo cổ bất ngờ khi khai quật, tìm thấy dưới nền đền thờ hoàng hậu Maya một phiến đá có in dấu một bàn chân nhỏ, mà vua A Dục vào năm 249 TCN đã dùng để đánh dấu vị trí nơi sinh của đức Phật. Phiến đá hiện nay được giữ nguyên trạng trong tình trạng khai quật có kích thước 70x40x10 cm và để trong lồng kiếng chống đạn (bulletproof glass) đặt trong đền thờ hoàng hậu Maya, giữa những nền móng khai quật với dòng chú thích: “Maker Stone: The Exact Birth Place of Buddha”. Chứng vật cuối cùng này đã khẳng định rằng đền thờ hoàng hậu Maya chính xác là đền thờ kỷ niệm nơi Đức Phật đã sinh ra và vùng đất này chính là Lâm Tỳ Ni ngày xưa.

Phiến đá có in dấu một bàn chân nhỏ, mà vua A Dục vào năm 249 TCN đã dùng để đánh dấu vị trí nơi sinh của đức Phật. Phiến đá được bảo vệ bằng kính chống đạn
Phiến đá có in dấu một bàn chân nhỏ, mà vua A Dục vào năm 249 TCN đã dùng để đánh dấu vị trí nơi sinh của đức Phật. Phiến đá được bảo vệ bằng kính chống đạn tại đúng vị trí được tìm thấy.

Sau khi được các nhà khảo cổ xác nhận các chứng tích lịch sử như cột trụ đá và phiến đá của vua A Dục đào dược dưới nền đền thờ Hoàng hậu Mya, năm 1997, cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc đã chính thức công nhận Lâm Tỳ Ni là di sản văn hóa của nhân loại và tài trợ chi phí trùng tu và bảo trì khu di tích lịch sử quan trọng này. Bắt đầu từ đây, phương Tây mới tin rằng Đức Phật là một nhân vật lịch sử có thật. Trước đó họ cho rằng nhân vật Cồ Đàm Gautama chỉ là huyền thoại và giáo pháp của ngài chỉ là tổng hợp các tư tưởng của nhiều nhân vật khác nhau trong lịch sử văn hóa Ấn Độ.

BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG – NƠI ĐỨC PHẬT THÀNH ĐẠO

Khi nghĩ về đức Phật, là phật tử, không ai lại không nhớ về bốn thánh tích quan trọng. Đó là vườn hoa Lâm Tỳ Ni (Lumbini Nava), dưới cây hoa Vô Ưu, thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) nay thuộc nước Nepal phía Bắc Ấn Độ, nơi Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhartha Gautama) đản sanh. Thứ hai là Bồ Đề Đạo Tràng (Boddha Gaya), tại Buddh Gaya, nay thuộc tiểu bang Bihar, miền Bắc Ấn Độ, nơi đức Phật thành đạo. Thứ ba là vườn Lộc Uyển (Migadaya nay gọi là Sarnath thuộc xứ Utta Pradesh) (1), nơi đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên. Thứ tư là Câu Thi Na(Kusinagara), nơi đức Phật nhập Niết Bàn .

1. Địa lý

Bodh Gaya hay Bodhgaya, tiếng Việt là Bồ Đề Đạo Tràng, là một thành phố ở quận Gaya, Bihar, Ấn Độ. Đây là địa điểm nổi tiếng do là nơi Đức Phật đã giác ngộ dưới cây bồ đề.
Đối với Phật giáo, Bodh Gaya là nơi quan trọng nhất trong cuộc đời của Phật Thích-ca Mâu-ni, còn 3 nơi khác đó là Kushinagar, Lumbini và Sarnath. Vào năm 2002, ngôi đền Mahabodhi (Đại giác ngộ tự) ở Bodh Gaya đã trở thành Di sản thế giới.[1]

Bồ Đề Đạo Tràng

2. Khuôn viên Bồ Đề Đạo Tràng

2.1. Cây Bồ đề và Kim Cương tòa

Theo lịch sử ghi lại cây Bồ Đề nầy từ đó đến nay đã ba lần bị đốn ngã nhưng lành thay sau khi bi chặt từ dưới gốc lại đâm chồi lên và tồn tại xanh tươi cành lá xum xuê cho đến ngày nay. Lần thứ nhất bị chặt đó là trước khi vua A Dục (Asoka, lên ngôi năm 273 trước tây lịch, làm vua được 37 năm) (3) chưa phát tâm theo Phật Giáo. Lần thứ hai, sau khi vua phát tâm theo Phật giáo, Ngài thường đến nơi cây Bồ Đề để tưởng nhớ đức Phật, hoàng hậu phẩn nộ nên sai quân lính đến chặt phá cây Bồ Đề. Lần thứ ba khi giặc Hồi Giáo xâm lăng Ấn Độ đã chặt phá cây Bồ Đề (4).
Theo ông Alexander Cunningham, thì cây bồ-đề này là cháu chít khoảng đời thứ 20 của cây bồ-đề mẹ và cây này mới hơn 100 tuổi. Cây bồ-đề rất được tôn trọng kính thờ vì đó là biểu tượng cuộc đời và sự giác ngộ của Đức Phật.

Cây Bồ Đề nơi Đức Phật thành đạo

Bồ Đề Đạo Tràng có một tháp lớn, sau tháp nầy là cây Bồ Đề rất lớn, tại nơi gốc cây có một Kim Cương Tòa chính là nơi Thái Tử đã ngồi tham thiền nhập định 49 ngày đêm đến lúc Ngài hoát nhiên đại ngộ thành bậc chánh đẵng chánh giác.

Tòa Kim Cang dưới gốc Bồ Đề
Tòa Kim Cang dưới gốc Bồ Đề

Tòa bằng đồng mạ vàng dài 2,28 mét, rộng 1,5 mét và cao 0,9 mét; trên mặt và xung quanh tòa có khắc rất nhiều hoa văn rất mỹ thuật. Tòa nằm bên dưới giữa cội bồ-đề và ngôi đại tháp. Tòa Kim cang là vật thiêng liêng nhất ở Bồ-đề Đạo Tràng vì đây là trung tâm của vũ trụ phát sáng năng lực thức tỉnh từ Đức Phật. Chính tại nơi tòa ngồi này, Đức Phật đã giác ngộ. Vì vậy, tòa này là điểm không thể so sánh được, là điểm tối thượng và chỉ có nơi này Đức Phật mới có thể giác ngộ. Với lòng tin và sự tín thành này sẽ khiến phát sinh sự thanh tịnh trong nội tâm của chúng ta. Đệ tử Phật tin rằng có những năng lực siêu thoát vô hình đang bao phủ khắp không gian ở Bồ-đề Đạo Tràng và sẽ làm tăng thêm sức mạnh tâm linh của chúng ta trên con đường hoàn thiện trở về tánh giác.

Cội Bồ Đề và Kim Cang Tòa (màu vàng) được nhìn từ trên xuống

2.2. Tháp nhỏ và tượng Phật lộ thiên

Phía đông của tháp lớn là một ngôi tháp nhỏ được xây để kỷ niệm nơi đức Phật đến đây để nói những lời nhân hậu cám ơn cây Bồ Đề đã che mưa che nắng cho Ngài trong suốt thời gian Ngài tham thiền nhập định cho đến khi thành Phật.
Phía nam của tháp lớn là một tháp nhỏ khác kỷ niệm nơi đức Phật đã tu chứng được tứ thiền.
Bên phải của tháp lớn là một tượng Phật lộ thiên xây giữa hồ sen có cửu long che chở. Tương truyền rằng khi Ngài tu thiền định có thần long che mưa che nắng cho Ngài.
Nơi sát vách phía đông tháp lớn có một tượng đức Quán Thế Âm. “Trở về phía đông của ngôi đại tháp thấy có nhiều người Tây Tạng, cả Tăng lẫn tục đều nhắm mắt , chấp tay chí thành đi về hướng tượng Đức Quán Thế Âm được tạc vào thành của ngôi đại tháp… tượng Đức Quán Thế Âm nguyên thủy không còn nữa, sau nầy người Tây Tạng tạc tượng nầy để lễ bái và họ tin rằng nếu nguyện một điều gì đó sẽ thành tựu thì nhắm mắt đi vẫn đến đúng trước chính diện của tượng. Nếu không, tự nhiên có một dẫn lực nào đó dắt ta ra khỏi tôn tượng.’’ Ai không tin cũng phải tin. Vì đây là nơi Thánh Địa linh thiêng vô cùng. Độ xa từ khi nhắm mắt khởi đầu đi đến gần tượng chừng 10 thước. Khi đi đến tự nhiên thấy mình như bị xô tới. Tất cả ai nấy cũng đều cảm nhận như vậy. Mà quả thật pháp Phật thật nhiệm mầu. Nếu không có những linh thiêng mầu nhiệm nầy thì ma vương và ngoại đạo đã phá nát nơi nầy rồi …’’ (6).
Nhất là nơi Thánh Địa quan trọng nầy ngoại đạo thấy nhiều Phật Tử các nơi trên thế giới đến chiêm bái họ sanh lòng ganh ghét muốn phá phách. Còn những người theo Ấn Giáo địa phương thì lúc nào cũng muốn lợi dụng lòng sùng kính Thánh Tích của khách thập phương mà lập mưu để thủ lợi.

2.3. Ngôi đại tháp

Thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng có lịch sử từ khi đức Phật thành đạo tại nơi nầy. Về cây Bồ Đề mặc dầu bị chặt ba lần nhưng nó vẫn tồn tại liên tục đến ngày nay nên có phần dễ hiểu. Riêng về ngôi đại tháp khó xác định được thời gian xây cất và bị phá hủy và được xây lại nhiều lần nên khó xác định hình thái và độ cao của nó một cách chính xác.
Vua A Dục đã đến đây chiêm bái nhiều lần, cuộc chiêm bái của Ngài có khắc vào bia đá để kỷ niệm, hiện còn giữ tại Sanchi (7).
Đại tháp đầu tiên rất có thể do vua A dục dựng lên nhưng vì thiếu bia ký để kiểm chứng nên không thể khẳn định được. Thế nhưng cho dù có do vua A dục xây dựng đại tháp đầu tiên đi chăng nũa thì rất tiếc là ngôi tháp nguyên thủy ấy nay không còn, ngôi tháp hiện tại là do sau nầy mới xây lại mà thôi.

Là ngôi tháp chính vuông vức mỗi bề 15 mét và nhọn dần lên đỉnh theo hình kim tự tháp, cao khoảng 52 mét. Bốn cạnh tháp có 4 tháp nhỏ. Bên trong thờ tượng Phật Thích-ca-mâu-ni ngồi thiền dưới cội bồ-đề hướng mặt về phía đông giống y tư thế Đức Thế Tôn đã ngồi khi thành đạo.


Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật

2.4. Khu thánh tích thiêng liêng khác

Ngoài ba điểm trên, còn có những vật thiêng liêng khác như là nơi Đức Phật đã trải qua bảy tuần sau khi giác ngộ hoặc có những vật thiêng liêng liên quan đến cuộc đời của Ngài tại Bồ-đề Đạo Tràng như :
1. Tháp Animeslochana: Nơi Đức Phật đã trải qua 1 tuần vào tuần thứ hai sau khi giác ngộ để ngồi nhìn chăm chú vào cội bồ-đề với ánh mắt biết ơn cây đã che chở cho Ngài suốt thời gian qua.
2. Trụ Chankramenar: Chạy dọc theo hành lang phía bắc của đại tháp sẽ có một khối xi-măng dài 18,2 mét và cao 0,9 mét; có 18 hình hoa sen khắc nổi lên trên nền để đánh dấu vào tuần lễ thứ ba Đức Phật đã đi kinh hành tới lui thì có 18 đóa hoa kỳ diệu đã hiện lên để đỡ gót chân ngài.
3. Đền Ratnagraha: là một ngôi đền nhỏ không mái, đánh dấu nơi Ngài ngồi thiền trong tuần thứ tư. Khi Ngài ngồi nơi đây thì thân Ngài tỏa ra những luồng hào quang màu xanh, vàng, đỏ, trắng và cam.
4. Cây Nigrodha (Ni câu đà) : Trong tuần thứ năm Đức Phật đã ngồi thiền dưới cây này và một người Bà-la-môn đã đến vấn nạn Thế tôn thế nào là ý nghĩa của Bà-la-môn. Đức Phật đáp rằng một người không phải khi sanh ra là Bà-la-môn mà chính là khi chết đi việc ấy mới quyết định tùy theo nghiệp anh ta đã làm trong đời này. Bà-la-môn có nghĩa là Phạm chí và chỉ những người nào tạo nghiệp lành mới có thể sanh thiên thì mới được gọi như thế.
5. Hồ Rồng Muchalinda: Nơi vua rồng Muchalinda đã hiện lên lấy thân quấn mình Đức Phật và đầu làm tràng cái để che chở cho Ngài khỏi bị mưa gió làm ướt, khi Đức Phật đang ngồi thiền vào tuần lễ thứ sáu.
6. Cây Ravyatna: Trong tuần lễ thứ bảy sau khi thành đạo, Đức Phật đã ngồi dưới cây này để thiền định và nhận đồ cúng dường từ những vị thương gia cũng như của bốn vua trời.
7. Trụ đá vua A Dục: Có ba trụ nhỏ do vua A Dục dựng ngay cổng ra vào của đại tháp và một trụ lớn ở trước hồ rồng Muchalinda.
8. Những kiến trúc quanh tháp: Có vô số những kiến trúc tháp nhỏ, bé, vừa, trung ở chung quanh tháp làm nổi bật sư uy nghi của đại tháp. Đặc biệt những tháp này do những vị vua chúa, quan thần đã xây dựng để nhớ ơn Đức Phật hoặc sau khi họ thành công được một việc gì thì xây tháp để tạ ơn.
9. Sông Ni-liên-thuyền (Nairanjana): Cách đại tháp 180 mét, sông này ngày nay được gọi là sông Lilajan. Bề rộng của sông gần 1 km. Đây là nơi Đức Phật đã tắm trước khi Ngài lên tọa thiền và thành đạo.
10. Sujata-Kuti : là nơi nàng Sujata dâng sữa. Vượt sông Ni-liên-thuyền đi về hướng nam 2 km có một miếu nhỏ có hình Đức Phật ngồi thiền và cô gái chăn cừu Sujata dâng sữa, để đánh dấu chính nơi đây Sa-môn Cồ-đàm đã nhận bát cháo sữa từ nàng Sujata cúng dường.
11. Khổ hạnh lâm: Vượt khỏi sông Ni-liên-thuyền đi xe khoảng 30 phút về hướng Gaya, rồi đi bộ khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa sẽ đến một cái núi có hang đá tối. Tương truyền nơi đây Đức Phật đã lưu bóng sau khi chư thiên cho biết nơi đây không phải là nơi thích đáng để Ngài chứng quả.

2.5. Những ngôi chùa của nước ngoài tại Bồ đề Đạo tràng

thanhdao-vietnamese-monatery-01
Việt Nam Phật Quốc Tự
thanhdao-tibetan-monastery-02thanhdao-tibetan-monastery-01
Chùa Tây Tạng
thanhdao-thai-monastery-02
Chính điện chùa Thái Lan
thanhdao-thai-monastery-01
Chùa Thái Lan

thanhdao-royal-bhutanese-monastery-02

Thêm chú thích

Chính điện Chùa Hoàng Gia Bu Tan
thanhdao-royal-bhutanese-monastery-01
Chùa Hoàng Gia Bu Tan

thanhdao-japanese-monastery-02
Chính điện chùa Nhật Bản
thanhdao-japanese-monastery-01
Chùa Nhật bản
thanhdao-daiphat-tuong-01
Đại Tượng Phật
thanhdao-chinese-monastery-03
Bàn thờ Phật chùa Trung Quốc
thanhdao-chinese-monastery-02thanhdao-chinese-monastery-01
Chùa Trung Quốc
thanhdao-bhutan-monastery-03
Chùa Bu Tan
thanhdao-bhutan-monastery-02thanhdao-bhutan-monastery-01

3. Bài kinh đầu tiên

Bài Kinh đầu tiên: Kinh Chuyễn Pháp Luân
(Dharmmacakkapavattana Sutta)
Từ Bồ Đề Đạo Tràng đến vườn Lộc Uyển (Miga Daya) thuộc thành Ba La Nại (Bénarès xưa gọi là Vârânasi), đọan đường dài trên 300 cây số mà Đức Phật đã thân hành đến đây vì 5 vị đồng tu ngày trước mà thuyết pháp độ họ.
Đức Thế Tôn đã gọi 5 anh em Kiều Trần Như dạy rằng: “Này các tỳ kheo có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Một là mê đắm sắc dục, hạ liệt phàm phu, không xứng thánh hạnh, không thiệt lợi Đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng thánh hạnh, không thiệt lợi Đạo. Chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá nầy Như Lai giác ngộ con đường trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn trí tuệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ Niết Bàn…’’(13)
Con đường trung đạo Đức Như Lai đã thuyết giảng đó là Bát Chánh Đạo (ariyoatthangikomaggo):
Chánh Tri Kiến (samma-ditthi)
Chánh Tư Duy (samma-sankappa)
Chánh Ngữ (samma-mavaca)
Chánh nghiệp (samma-kammanta)
Chánh Mạng (samma-vajiva)
Chánh Tinh Tấn (samma-vayama)
Chánh Niệm (samma-sati)
Chánh định (samma-samadhi) .
Đức Phật đã giảng pháp Tứ Diệu Đế (aryasacca) :
Khổ (duhkha-aryasatya)
Tập (samudya)
Diệt (nirdha)
Đạo (marga), như sau :
Khổ Đế là gì? Tức là những hình tướng của sự khổ não : ‘’ Sanh là khổ, già là khổ , bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ, thân ái biệt ly là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại 5 Uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) chấp thủ là khổ’.
Kế đến Tập Đế là gì? Tức là những nguyên nhân đưa đến sự khổ. Đức Phật dạy: “Chính là Ái đưa đến Hửu, tương ứng với hỷ và tham, tìm cầu hoan lạc chổ nầy chổ kia, chính là dục ái , sanh ái, vô sanh ái”.
Diệt Đế là gì? “Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả ly, giải thoát, tự tại đối với các ái”.
Đức Phật dạy chúng ta hãy diệt tận những nguyên nhân đưa đến khổ não ràng buộc khiến cho tâm trí ta bị vô minh che lấp, ánh sáng trí tuệ không thể tỏa sáng được …
Phương pháp diệt tận gốc rễ của sự khổ não đó là Đạo Đế. Đạo Đế đây tức là Con Đường Thánh Tám Ngành, còn gọi là con đường hay phương pháp hướng dẫn chúng ta diệt trừ những sự khổ và nguyên nhân đưa đến khổ não nói trên.
Đó là Bát Chánh Đạo: Chánh Tri Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.
Đây là những pháp mà từ trước đến nay chưa có ai giảng thuyết cả.
Sau khi Đức Như Lai thuyết pháp như vậy, 5 vị tỳ kheo hoan hỷ tán thán lời Đức Thế Tôn. Đức Kondanna (Kiều Trần Như) chứng được pháp nhãn thanh tịnh, không cấu nhiễm và chứng ngộ rằng: ‘’Các pháp do Tập sinh đều là những pháp phải bị diệt.’’(14)

VƯỜN LỘC UYỂN – NƠI ĐỨC PHẬT THUYẾT BÀI PHÁP ĐẦU TIÊN: TỨ DIỆU ĐẾ

Lộc Uyển hay còn gọi là Lộc Dã Uyển (Migadāya), nghĩa là Vườn Nai, cách thành phố Ba La Nại (Benares) khoảng 12 km, nơi đức Thích Ca Mâu Ni chuyển bánh xe pháp đầu tiên, thuyết về bốn chân lý cho năm anh em Kiều Trần Như (Koddañña), nhóm đồng tu khổ hạnh trước khi Ngài giác ngộ dưới cội Bồ Đề.

1. Địa lý

Sarnath là một thành phố ở bang Uttar Pradesh, Ấn Độ, cách Varanasi 13 km về phía đông bắc, gần ngã ba sông Hằng và sông Gormati.

Sarnath được nhắc tới như là một trong những điểm đến linh thiêng của các Phật tử mộ đạo. Vườn Nai (hay Lộc Uyển) ở trong thành phố này là nơi mà Tất-đạt-đa Cồ-đàm đã dạy bài pháp đầu tiên – Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta), và là nơi thành lập đoàn tỉ-khâu đầu tiên sau sự giác ngộ của nhóm Kiều Trần Như.

2. Chuyện kể vườn Lộc Uyển

Sarnath trong tiếng Ấn Độ nghĩa là vườn lộc uyển hay vườn nai. Sở dĩ khu vườn có cái tên là vườn lộc uyển là bởi nó gắn với câu chuyện về tấm lòng từ bi của một chú nai đầu đàn dũng cảm. Tương truyền xưa kia, có một đàn nai hơn nghìn con sống trong khu rừng sâu, dẫn đầu là chú nai đầu đàn khỏe mạnh, thông minh.

Nhưng tai họa ập đến cho khu rừng khi vị vua nơi đây rất thích ăn thịt nai và thường đi săn bắn. Để tránh được họa diệt vong, thảm sát cho bầy đàn của mình, chú nai đầu đàn (tiền thân của đức Phaajat) liền chạy ra khỏi rừng, xin nhà vua đừng đốt rừng, thảm sát nai. Thay vào đó, mỗi ngày đàn nai sẽ cống nạp một con nai và nhà vua đã đồng ý.

Một lần nọ, con nai mẹ đang mang bầu phải đi nộp mạng. Thương nai con trong bụng, nai mẹ xin chờ đến ngày sinh xong mới nộp mạng. Nai đầu đàn thấy vậy thương tình liền thay nai mẹ đến cống nạp cho nhà vua. Quá ngạc nhiên, nhà vua liền hỏi rõ sự tình. Khi biết được câu chuyện cảm động và sự dũng cảm, từ bi của nai đầu đàn, nhà vua hối cải, quyết định bãi bỏ lệnh cống nạp nai, phong khu rừng là vườn lộc uyển thiêng liêng, không ai được xâm phạm.

Sau này, Sarnath lại càng nổi danh hơn vì được coi là nơi đầu tiên đức Phật Thích ca tới thuyết giảng sau khi giác ngộ. Bài thuyết pháp đầu tiên này được gọi là kinh Chuyển Pháp Luân.

3. Khuôn viên vườn Lộc Uyển

Ngày nay, khu vườn lộc uyển không còn giữ được nguyên trạng như thời kỳ huy hoàng của Phật giáo do nhiều phần đã bị phá hủy bởi những tín đồ đạo Hồi cực đoan. Tuy nhiên, vẫn còn những di tích sót lại, thể hiện sự uy nghi của chốn thánh địa.

3.1. Tháp Dhamek (tháp Chuyển Pháp Luân)

Theo sử kể lại, năm tuần sau khi Đức Phật thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng Ngài đã đi bộ băng ngang sông Hằng đến nơi đây để tìm gặp năm người bạn đồng tu cũ và Ngài đã thuyết bốn chân lý nhiệm mầu, được gọi là kinh Chuyển Pháp Luân cho họ. Đức Phật ở lại vườn Lộc Uyển suốt mùa mưa đầu tiên để tiếp tục giảng pháp cho những ai đến với Ngài.

Tháp Chuyển Pháp Luân ngày nay (còn gọi là Dhamekh hay Dhamekha) được xây dựng vào năm 500 SCN để thay thế một cấu trúc trước đó do vua A Dục Mauryan xây dựng vào năm 249 TCN như kể trên, cùng với một số di tích khác, để tưởng niệm các hoạt động của Đức Phật trong vị trí này. Bảo tháp có nguồn gốc như gò tròn bao quanh bởi đá lớn. Vua A Dục xây dựng tháp để đặt một số ngọc xá lợi và di tích khác của Đức Phật bên trong.

Trong hình dạng như hiện nay, bảo tháp là một hình trụ vững chắc của gạch và đá đạt đến một chiều cao 43,6 mét và có đường kính 28 mét. Nó là cấu trúc lớn nhất ở Sarnath. Ngài Huyền Trang, khi chiêm bái nơi đây đã ghi lại tháp có chiều cao 91 mét tức khoảng 300 feet và có khoảng 1.500 tăng sĩ tu hành.

3.2. Tháp Hạnh Ngộ (tháp Chaukhandi)

Tháp Hạnh Ngộ là một trong những tháp quan trọng của Phật giáo ở khu vườn Lộc Uyển Sarnath. Tháp được xây trong khoảng từ thế kỷ thứ 4 đến thứ 6, bằng gạch hình vuông, xung quanh được bao quanh bởi một tháp hình tám cạnh. Đây là nơi kỷ niệm Đức Phật đã gặp lại năm anh em Kiều Trần Như, năm người bạn đồng tu với Ngài trước khi ngài thành đạo. Trong những năm gần đây tháp Hạnh Ngộ đang được phục hồi như trong hình.

3.3. Tháp Sri Dharmarajika

Nằm giữa khuôn viên khu khai quật là một mô đất tròn, nền cao với hồ xung quanh, được tương truyền rằng, trong ngôi tháp này có thờ xá lợi của Phật. Tháp này trước kia rất lớn, bằng tháp Dhamek, nhưng bị huỷ phá. Vào năm 1794, vì thiếu vật liệu xây dựng thành phố Jagatguni, ông Jagat Singh, Bộ trưởng của vua Chet Singh ở Ba La Nại, đã sai người đến phá hủy ngôi tháp để lấy gạch và đá. Trong khi đào đá và gạch, ông tìm thấy một cái tráp bằng đá trong đó có một hộp bằng cẩm thạch đựng “Tro” chắc chắn là Xá Lợi đức Phật hay một vài vị Thánh tăng. Không biết dùng Xá Lợi này làm gì, theo tục lệ Ấn giáo, ông đã làm lễ thả xuống sông Hằng. Như thế Phật tử chúng ta đã mất đi một báu vật quí giá. Biết bao nhiêu ngọn tháp cũng chung số phận tương tự trước khi Viện Bảo Tàng thành lập. Trong khuôn viên này có một hương thất gọi là Mulagandhakuti nghĩa là phòng thơm, chỉ phòng đức Phật ở. Không riêng gì thất này có tên ấy vì đó là nơi Đức Phật an cư trong 3 tháng đầu tiên, sau khi Ngài thành đạo Bồ Đề, mà hầu như là mỹ từ chung cho tất cả nơi có thất dành riêng cho đức Phật lưu trú.

3.4. Trụ đá của vua A Dục (Asoka)

Đi sâu vào bên trong khoảng 2/3 diện tích khai quật, chúng ta thấy có một nhà nhỏ vuông vức khoảng 2,5m, đáy nằm sâu xuống lòng đất khoảng ba mét, có những trụ đá tròn và những đoạn bị vỡ, đó chính là trụ đá của vua A Dục được dựng lên để xác định nơi chuyển bánh xe pháp đầu tiên của Phật. A Dục Vương được xem là vị Vua Phật tử, đã có công rất lớn trong việc truyền bá chánh pháp trong nước cũng như ảnh hưởng đến các nước láng giềng xung quanh. Vào khoảng thế kỷ III trước kỷ nguyên tây lịch, đại đế của vương triều Khổng Tước (Maurya), vị vua Phật tử này đã tận tình trong việc bảo tồn và phát triển Phật giáo sau Phật nhập Niết Bàn khoảng 218 năm. Sự giác ngộ Phật giáo của vua bắt nguồn từ một cuộc chiến tiêu diệt bộ tộc Kalinga, sự giết chóc tang thương, xác người như rạ nằm lăn lóc trên những vũng máu oan nghiệt diễn ra trước mắt đã làm chấn động lương tâm của một vì vua hiếu chiến bạo tàn. Để chuộc lại lỗi lầm, Ông đã chọn Phật giáo, một tôn giáo giàu lòng từ bi, nhân ái, bất hại với muôn loài làm nơi quy hướng, tu tạo nhiều công đức lành để bù đắp tội lỗi xưa. Chính vì vậy mà đạo Phật có một giá trị lịch sử trên thế giới, phần lớn nhờ vào sự đóng góp nhiệt tình, vĩ đại của Ông, đặc biệt là các trụ đá và bia ký tồn tại nơi mỗi thánh địa quan trọng.

Tại Sarnath, để đánh dấu nơi Sơ Chuyển Pháp Luân và thành lập tăng đoàn Phật giáo đầu tiên, vua A Dục đã thân hành đến chiêm bái và dựng lên trụ đá cao 15,5 m và đường kính 0,7m, có tượng hình sư tử bốn đầu ở trên đỉnh phân đều bốn hướng. Dưới chân trụ gồ ghề và đặt trên một nền đá lớn, phần thân trụ thon và thẳng, đường kính phía dưới là 0,7 m, đường kính phía trên là 0,56m, được mài bóng láng trước khi khắc chỉ dụ của Vua. Ngoài chỉ dụ của vua Asoka được viết băng chữ Brahmi, còn có hai đoản văn khác, một thuộc triều đại Kushana đề cập đến Ngài Mã Minh, một trong những vị đại tổ sư có công truyền bá Phật giáo Đại Thừa; và đoản văn thứ hai đề cập đến tên của vị tổ sư trường phái Chánh Lượng Bộ. Mặc dù các trụ đá phần lớn không còn nguyên vẹn, nhưng các phần gãy đổ cũng như bia ký vẫn còn được bảo tồn nơi viện bảo tàng khảo cổ Lộc Uyển.

3.5. Phế tích các tu viện thời xa xưa

Trước hết, chúng ta tìm hiểu về những bức tường ngang dọc được xác định là vết tích của các tu viện thời đức Phật và sự phát triển không lâu sau này. Đoàn chúng tôi đi rảo quanh những bức tường, những nền gạch cũ nằm ngang dọc còn sót lại. Khi mới nhìn vào, chúng ta không thể hình dung được nó là cái gì, nếu không được sự hướng dẫn và nghiên cứu trước. Chính nơi này đã đánh dấu sự kiện lịch sử trọng đại, nơi mà đức Phật đã trải qua mùa an cư đầu tiên; những khu nhà cho tăng chúng lưu trú tu hành, khu pháp đường dành cho đức Phật thuyết pháp… bây giờ chỉ là những nền gạch ngang dọc, đổ nát rêu phong, đang được bảo vệ và duy trì của cộng đồng Phật giáo và các tổ chức bảo vệ di tích lịch sử thế giới.

CÂU THI NA – NƠI ĐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN

1. Địa lý

Thành Câu Thi Na (Kushinagar), nơi Phật bỏ lại thân tứ đại sau khi giáo hóa ở cõi giới ta bà này, hiện nay nơi này gọi là Kushinara hoặc Kasia, cách thành phố Gorakhpur 55 cây số, nằm ở phía đông tiểu bang Uttar Pradesh, cách Vườn Lâm Tỳ Ni khoảng 175 cây số, cách Bồ Đề Đạo Tràng trên 300 cây số, cách Thành Xá Vệ 274 cây số và cách Thành Ba La Nại 170 cây số.

2. Chuyện kể Đức Phật nhập Niết Bàn

Vào thời Phật, Câu Thi Na là kinh đô của cộng hoà Malla, một thị tứ nhỏ và nghèo nàn so với các nước hưng thịnh thời bấy giờ nhưng đức Phật lại chọn nơi này làm nơi đại diệt độ với lý do liên quan đến tiền thân Ngài.

Khi đức Phật quyết định về Câu Thi Na nhập Niết Bàn, tôn giả A Nan cảm thấy không được tương xứng với oai danh của đức Thế Tôn nên Ngài liền bạch với đức Phật rằng: “tại sao đức Thế Tôn không chọn các đô thị lớn mà đức Thế Tôn đã từng du hoá và có nhiều đệ tử phú gia cúng dường lễ hoả thiêu và thân xá lợi của Ngài như Chiêm Bà (Campā), Vương xá (Rājagaha), Xá Vệ (Sāvatthī), Ba La Nại (Varanasi) …. Đức Phật từ chối và trả lời rằng: thuở quá khứ Câu Thi Na là kinh đô của Chuyển Luân Thánh Vương tên là Thiện Kiến, một trong những tiền thân của Ngài trong quá khứ, là một kinh đô hưng thịnh phú cường. Và cũng chính nơi đây Ngài đã xả báo thân đến bảy lần. Vì vậy, sự chọn lựa của Phật hoàn toàn phù hợp với sự quán sát bằng tuệ giác của Ngài.

Những lời huấn thị cuối cùng của đức Thế Tôn và bối cảnh diễn ra lúc đó được ghi lại đầy đủ trong kinh Đại Bát Niết Bàn thuộc Trường Bộ Kinh, kinh Du Hành thuộc Trường A Hàm và những lời dạy trên được tóm tắt trong kinh Di Giáo. Những lời dạy của đức Phật thật từ bi, thương yêu, lo lắng, quan tâm đến tăng đoàn sau này như người cha đầy trí tuệ lo lắng cho các con thơ dại của mình.

Chúng ta hãy nghe lời tâm tình giữa Phật và thị giả thân tín nhất của Ngài: “Này A Nan! Nay ta đã già cả, đã suy yếu, đã đến hạn kỳ cuối của cuộc đời, ta vừa tròn tám mươi tuổi. Này A Nan, giống như cỗ xe cũ kỹ được làm cho chạy nhờ đám dây da chằng chịt nâng đỡ; cũng vậy, thân Như Lai được duy trì và hoạt động nhờ nâng đỡ bằng dây đai”.

Đức Phật dạy: “Này A Nan hãy tự làm hòn đảo cho chính mình, hãy tự làm nơi an trú cho chính mình, không tìm nơi an trú khác. Lấy chánh pháp làm hòn đảo, lấy chánh pháp làm nơi an trú, không tìm nơi an trú nào khác”.

Trong kinh Di Giáo nói rằng: “Trong rừng Sa la, giữa hai cây song thọ, Ngài sắp Niết Bàn. Bấy giờ là lúc giữa đêm, hoàn toàn yên lặng, không một tiếng động, Ngài đã vì các đệ tử mà nói tóm tắt những điều cốt yếu của chánh pháp”.

Như vậy, đức Phật nhập diệt tại rừng Sa La song thọ. Sa La hay còn gọi là Ta La, đây là loại cây khá phổ biến tại các tu viện ở Việt Nam. Chúng có tàng rất đẹp từng đôi đối xứng. Hiện tại, trong khuôn viên tháp Niết Bàn của Phật ở Câu Thi Na, chúng ta không còn thấy được rừng Sa La như thời xưa nữa mà chỉ có hai cây Sa La trồng bên cạnh lối vào tháp, để kỷ niệm sự kiện lịch sử trọng đại này.

3. Khuôn viên Câu Thi Na

3.1. Tháp Niết Bàn (Mahaparinirvana Stupa) và tháp Xá Lợi

Chỗ chính yếu của khu thánh địa này là tháp Niết Bàn và tháp thờ xá lợi của Phật.

Tháp Niết Bàn có kiến trúc mái vòm hình lăng trụ, được chính phủ Ấn Độ xây dựng lại vào năm 1956 để kỷ niệm lần thứ 2500 đức Phật Niết Bàn, bởi đức Phật nhập Niết Bàn vào ngày rằm tháng 2 năm 544 trước kỷ nguyên Tây lịch. Bên trong ngôi tháp này diện tích mặt bằng hình chữ nhật, có tượng đức Phật nhập Niết Bàn bằng đá đen nhưng đã được thiếp vàng, dài khoảng 7m được tôn trí trên bệ thấp khoảng 5 tấc ngay giữa tháp. Mặt tượng hướng về phía Tây, đầu gối lên tay phải, tay trái để xuôi theo thân về hướng Nam trong tư thế nằm nghiêng.

Mặt trước bệ thờ có một vài bức phù điêu nho nhỏ như: hình ảnh vị sư đang bưng mặt khóc, đó là tôn giả A Nan rơi lệ dài trên má trước sự ra đi vĩnh viễn của đức Phật, bởi Ngài chưa đắc quả vị A La Hán, là quả thánh dứt trừ tất cả lậu hoặc, tâm không còn dao động trong bất cứ hoàn cảnh nào. Đối xứng với hình ảnh này có một phụ nữ đang quỳ mọp khóc than là hình ảnh tượng trưng cho các thiện nam tín nữ khóc nức nở cho lần cuối cùng được ngắm nhìn kim thân Phật. Và hình ảnh vị sư đang thiền định, biểu trưng cho các hàng thánh giả và các Tỳ kheo đạt được sự thanh tịnh tuyệt đối trong tâm hồn.

Nhìn từ phía mặt tiền của tháp Niết Bàn, chúng ta cứ ngỡ rằng tháp Niết Bàn và tháp Xá Lợi là một. Tháp Niết Bàn là tháp phía trước, hình lăng trụ phía trước. Tháp Xá Lợi hình tròn, đỉnh nhọn cao ở phía sau. Thật ra, hai tháp này tách biệt nhau trên một nền cách nhau khoảng 3m, tháp Niết Bàn thờ tượng Phật nhập Niết Bàn ở trước, và tháp xá lợi thờ Xá Lợi Phật nằm phía sau. Tháp thờ xá lợi là do dòng họ Malla kiến tạo và tôn thờ phần Xá Lợi Phật.

Theo sách sử ghi lại, ban đầu bộ tộc Malla ở Câu Thi Na không nghĩ rằng xá lợi của Phật phải được phân chia tám nước, vì họ cho rằng đức Phật niết bàn tại địa phương họ thì họ trọn quyền thừa hưởng báu vật vô giá này. Cuối cùng, để tránh đi sự tranh chấp có thể xảy ra bất hoà giữa các nước, bộ tộc Malla nghe theo lời đề nghị của vị Bà La Môn Dona, người đảm trách lễ hoả tán, phân chia xá lợi đều cho tám nước:

  • 1- Đại vương A Xà Thế (Ajātasatu) thuộc nước Ma Kiệt Đà (Magadha) thành Vương Xá (Rājagaha).
  • 2- Bộ tộc Licchavi ở Tỳ Xá Ly (Vesāli).
  • 3- Bộ tộc Thích Ca (Sakyā) ở Tân Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu).
  • 4- Bộ tộc Buli ở Allakappa.
  • 5- Bộ tộc Koliya ở Ramagama.
  • 6- Một bà la môn ở Vethadipa.
  • 7- Bộ tộc Malla ở Pava.
  • 8- Bộ tộc Malla ở Câu Thi Na (Kusinagar).

Như vậy, cộng hoà Malla giữ được hai phần ở hai trú xứ khác nhau, đó là Pava và Câu Thi Na.

Tuy vậy, khi xá lợi đã được chia xong thì một sứ giả của bộ tộc Moriya ở Pipphalivana đến đòi chia phần. Cuối cùng vị ấy đành phải chịu nhận một ít tro ở giàn hoả. Còn Bà La Môn Dona giữ những gì còn sót lại trong bình đất đựng xá lợi sau khi hỏa thiêu và được dùng để chia phần. Như vậy, tổng cộng được tám bình xá lợi và hai bình tro được tôn trí trong mười ngôi tháp để thờ mười chỗ khác nhau.

Theo nguồn sử liệu cho biết, đến nay hai bình trong số đó đã được khai quật. Chiếc bình nhỏ hình cầu với lời ghi chú trên nắp mà xưa kia bộ tộc Thích Ca làm lễ nhập tháp tại Ca Tỳ La Vệ mới (Piprahwa) được giữ lại trong bảo tàng quốc gia Ấn Độ ở Calcuta. Còn chiếc bình thứ hai của cộng hoà Licchavi được đào lên tại Tỳ Xá Ly (Vesāli) vào năm 1958. Bình này chứa phần di cốt tro và nhiều vật khác. Những bảo vật này đang thuộc quyền giám hộ của ban khảo cổ và bảo tàng chính phủ quốc gia Bihar ở Patna. Theo quyển Đức Phật Lịch Sử – Tiến sĩ H.W.Schumann.

Giống như các tháp khác tại Ấn Độ, tháp Xá Lợi này có đỉnh rất cao khoảng 45m. Trong có mái hình vòm, nhọn ở đỉnh. Trên đỉnh tròn của tháp là một hình trụ cao khoảng 0,5 mét, có một hàng hoa văn và một tấm bia bằng đồng khắc kinh Nhân Duyên (Nidana) bằng tiếng Sanskrit và có những dòng chữ ghi lại lịch sử pho tượng Niết Bàn của Đức Phật. Trong tháp có nhiều tháp nhỏ chứng tỏ nó đã được trùng tu nhiều lần. Năm 1927 tháp được khôi phục hoàn toàn nhờ sự cúng dường của hai Phật tử người Miến Điện là U Po Kyu và U Po Hlaing. Xung quanh tháp chính, có nhiều tháp nhỏ và các nền gạch cũ nằm đan xen chính là nền của các tu viện thời xưa.

Những ngôi tháp khác bao gồm tháp của Tu Bạt Đà La, người đệ tử cuối cùng già nhất (120 tuổi), xuất gia với Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết Bàn; tháp Ngài Phú Lâu Na, thánh đệ tử thuyết pháp đệ nhất ….

3.2. Tháp Trà Tỳ (Angrachatya), nơi hoả thiêu nhục thân Phật

Từ nơi tháp Niết Bàn hướng về phía Đông cách khoảng 2 km có một ngôi tháp gọi là tháp Trà Tỳ, tức là nơi đánh dấu vị trí hoả thiêu nhục thân của Phật. Tháp này trông rất lớn, nhưng không được cao lắm so với các tháp khác. Theo các nhà khảo cổ nghiên cứu, tháp vẫn còn cao khoảng vài mét nữa nhưng vì phần dưới chân bị lún sâu trong lòng đất nên chúng ta chỉ thấy từ mặt đất trở lên như dáng dấp hiện thời. Khi chúng tôi vào thăm viếng, ngôi tháp đang được mọi người chùi rửa và tu bổ. Dáng vẻ ngôi tháp giống như một con rùa, rộng phần chân và mô dần lên đỉnh hay nói thực tế hơn giống như những ngôi mộ làm bằng đất ở các vùng nông thôn Việt Nam. Đường kính đáy tháp khoảng 45 m, cao khoảng 15m. Vào năm 1956, ngôi tháp này cũng được khai quật và tìm thấy rất nhiều di chỉ cùng với niên đại và ký tự thời xưa, chứng tỏ nơi đây chính là chỗ hoả thiêu nhục thân của Phật.

Căn cứ vào lịch sử Phật giáo, nhục thân của Phật phải hoãn lại bảy ngày sau đó mới hoả thiêu, vì còn phải đợi ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakassapa) cùng với các Tỳ kheo đang trên đường đến Câu Thi Na tham dự tang lễ của Phật. Truyền thuyết kể lại rằng, sau khi đến nơi, ngài Ma Ha Ca Diếp và các Tỳ kheo đi nhiễu quanh kim thân Phật ba vòng và quỳ đảnh lễ. Ngay lúc đó đôi chân của đức Phật đã duỗi ra khỏi kim quan. Ngài Ma Ha Ca Diếp ôm lấy bàn chân của Phật và cúi đầu thọ nhận mật chỉ cuối cùng của Phật. Cũng như xưa kia tại pháp hội Linh Sơn, Ngài đã một lần mỉm cười khi đức Phật đưa cành hoa sen, thầm nhận được yếu chỉ mật truyền từ đức Thế Tôn, trong khi đại chúng tỳ kheo trong pháp hội đều ngơ ngác nhìn. Đức Phật đã phó chúc cho Ngài Ma Ha Ca Diếp rằng: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp nầy, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến đời sau sẽ truyền cho A Nan”. Như vậy chúng ta thấy được tầm quan trọng và uy tín của ngài Ma Ha Ca Diếp đối với đại chúng thời Phật lớn lao như thế nào. Và sau đó Ngài Ma Ha Ca Diếp được đại chúng cung thỉnh châm lửa hoả thiêu nhục thân của Phật.

Cạnh ngôi tháp này, hướng bên phải từ cổng chính đi vào, chúng ta thấy có nhiều tháp nhỏ lóm khóm còn nguyên vẹn, nằm dưới mặt đất của lối đi cách tháp khoảng 3m và khi đếm thì được tám cái. Những người hướng dẫn nói rằng tám cái tháp nhỏ biểu trưng cho tám vị quốc vương của tám nước được chia xá lợi Phật tại nơi Trà Tỳ.

Rời khỏi nơi này chúng tôi cũng cảm thấy một chút gì đó ấm lòng khi nhìn thấy cảnh vật được mọi người chăm sóc, cỏ được trồng tỉa vén khéo, tốt tươi. Một tia hy vọng được thắp sáng trong tôi cho ngày mai Phật giáo sẽ trở lại thời vàng son, đem đến cho người dân Ấn một cuộc sống bình đẳng, ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc đầy đủ, ai cũng được hưởng trọn quyền làm người mà xưa kia cả cuộc đời đức Thế Tôn đã làm. Ngài trở thành nhà cải cách xã hội đầu tiên rất thành công trên thế giới.



BÌNH LUẬN BẰNG FACEBOOK
BÌNH LUẬN BẰNG EMAIL

Add Comment