Cuộc đời Đức Phật: 05. Từ hạ thứ 21 đến hạ thứ 43

CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005)
Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội:
Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai
—o0o—

PHẦN IX – TỪ HẠ THỨ 21 ĐẾN HẠ THỨ 43

Chánh Pháp đã được truyền bá khắp lưu vực sông Ganga (sông Hằng). Giới luật và Giáo pháp căn bản (Tứ Diệu Ðế, 12 Nhân Duyên) đã được giảng dạy khá đầy đủ. Bây giờ đến giai đoạn đức Phật bắt đầu giảng phần giáo lý cao siêu như tánh bình đẳng của các pháp (lý Kim-cang), tánh không của các pháp (lý Bát-nhã), tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật (lý Pháp-hoa). Ðây là giai đoạn cực thịnh của Phật pháp.
1- Hạ thứ 21 tại Jetavana (năm -569)
Vua Pasenadi kết thân với vua Mahanama[16]
Tháng tư năm 569 trước tây lịch, đức Phật từ Vesali đi về Sravasti theo lời thỉnh cầu của ông Sudatta Anathapindika. Năm nay Phật và vua Pasenadi đều được 55 tuổi. Ðược tin Phật về an cư tại Jetavana, nhà vua mừng rỡ, đem cả gia đình hoàng tộc đến thăm Phật. Ði theo vua có cả thứ hậu Visabhaksatriya (Vasabhakhattiya) và hai người con của thứ hậu là hoàng tử Virudhaka (Vidudabha) và công chúa Vajna. Vào hạ thứ 14, sau khi nghe Phật nói các vị khất sĩ không chịu đến đền vua thọ trai là vì thiếu tin tưởng nơi nhà vua, vua Pasenadi vốn biết rằng vương quốc Sakya vẫn xem vương quốc Kosala là một đe dọa cho nền độc lập xứ Sakya, nên đã gởi sứ thần qua xứ Sakya xin cưới một công nương trong hoàng tộc làm thứ hậu. Sau khi bàn luận với triều thần, vua Mahanama liền dùng con gái của mình với một người tỳ nữ, tên là Visabhaksatriya để gả cho vua Pasenadi.
Trong suốt mùa an cư, vua Pasenadi không bỏ sót một buổi thuyết pháp nào của Phật mà không đến nghe.
Bà Kisa-Gotami tìm xin hột cải để cứu con[17]
Bà Kisa-Gotami[18] ở Sravasti vừa sanh được một đứa con trai đầu lòng. Chẳng may khi đứa bé vừa biết đi chập chững và bập bẹ nói chuyện rất dễ thương thì lâm bạo bệnh qua đời. Bà không chịu tin là con mình đã chết. Bà không cho người ta mang xác con bà ra nghĩa địa. Bà ôm xác đứa con yêu quí vào lòng, đi từ nhà này sang nhà khác như người mất trí, tìm xin thuốc để cứu con. Nhưng cả những lương y tài giỏi không ai có thể cứu được đứa bé đã chết. Có người thấy thế thương hại, chỉ bà hãy đến gặp Phật ở tinh xá Jetavana họa may có thể cứu được. Bà lật đật bồng con chạy đến Jetavana, đảnh lễ Phật rồi vừa khóc vừa nói:
– Bạch Thế Tôn, xin ngài từ bi bang thuốc để cứu con của con. Nhiều người nói chỉ có ngài mới có thể cứu được nó. Xin ngài rũ lòng thương chúng con.
– Này Kisa-Gotami, đừng buồn khổ nữa! Bà hãy mau mau tìm về đây cho Như Lai một nhúm hột cải trắng xin ở bất cứ nhà nào trong thành Sravasti này để Như Lai cứu con bà. Nhưng bà nên nhớ là phải xin hột cải ấy ở gia đình nào chưa bao giờ có người chết thì mới hiệu nghiệm.
Bà Kisa-Gotami hết sức vui mừng, vội bế con chạy từ nhà này sang nhà khác tìm xin hột cải trắng. Hột cải trắng thì hầu như nhà nào cũng có, nhưng khắp thành Sravasti không có gia đình nào là không có người chết, hoặc con cái, hoặc cha mẹ, hoặc ông bà. Tính ra số người chết nhiều hơn số người sống gấp bội.
Trời đã về chiều, những tia nắng cuối cùng như xóa tan niềm hy vọng còn lại của bà Kisa-Gotami. Xác đứa con yêu quý trong tay bà bắt đầu lạnh dần, lạnh dần và cứng đơ, nét mặt không còn một chút thần sắc nào của sự sống. Trong nỗi đau khổ cùng cực, bà bắt đầu nhận ra chân lý phủ phàng của sự sống và cái chết. Bà than thầm:‘’ Ðây không phải là luật lệ của xóm làng,
‘’ Cũng không phải là luật lệ của thành phố.
‘’ Ðây không phải là luật lệ riêng của gia đình nào cả
‘’ Mà là định luật chung cho toàn cõi thế gian:
‘’ Tất cả đều vô thường, hể có sanh thì có diệt.[19]
Bà ngậm ngùi mang xác con về nhà, dùng một chiếc sari quấn kín lại, cùng chồng mang ra bãi tha ma. Rồi bà đến trước Phật sục sùi nói:
– Bạch Thế Tôn, con không thể tìm đâu ra một nhà có hột cải trắng mà không có người chết! Con đành lìa bỏ đứa con yêu quý không còn cười, không còn nói, không còn đưa hai bàn tay bé nhỏ sờ mặt con như trước. Con đành dùng chiếc sari quý nhất của con quấn kín thân xác nó lại, đặt dưới một lùm cây, bên cạnh bờ suối. Con cúi xin Thế Tôn vui lòng chỉ cho con nơi nào có thể xin hột cải trắng mà không có bóng dáng tử thần.
– Này Kisa-Gotami, bà đã tìm ra cái mà ít ai tìm thấy. Ðó là niềm an ủi trong sự thật đắng cay: Tình thương bám chặt vào cha mẹ, vợ chồng, con cái, gia súc tuy ngọt ngào hôm nay, nhưng ngày mai cái chết tràn đến như một trận thủy tai trong đêm tối, càn quét cuốn đi trọn cả làng đang ngon giấc.[20]
Rồi đức Phật giảng cho bà nghe về Vô thường và Tứ đế. Nghe xong bà đắc quả Tu-đà-hoàn. Bà xin được xuất gia. Ít lâu sau bà đắc quả A-la-hán.
Quán thân người như bong bóng nước[21]
Một nhóm khất sĩ được Phật ban cho đề tài thiền quán, rút vào rừng vắng chuyên tâm thực hành. Nhưng sau vài tháng tu tập nhận thấy không đạt được kết quả nào, các vị ấy bàn với nhau nên trở về tinh xá Jetavana gặp Phật. Vừa đến cổng tinh xá thì có một trận mưa to đổ xuống. Trong khi đứng đụt mưa, các vị khất sĩ nhìn những giọt mưa rơi xuống nước làm bọt nước nổi lên trên mặt nước rồi trong chốc lát vỡ tan. Có bọt vừa thành hình bỗng vỡ tan liền sau đó, có bọt trôi trên mặt nước vài phân, vài tấc hoặc vài thước rồi mới vỡ. Các vị khất sĩ bỗng nghĩ đến thân người cũng như bọt nước. Nhờ đã quen thực hành chỉ quán nên các vị khất sĩ tự nhiên đi sâu vào đề tài thiền quán đó: Thân người như bọt nước, thấy đó rồi mất đó, sanh đó rồi diệt đó, cái gì sanh cái gì diệt? cái gì còn cái gì mất? thế gian này cũng thế, sanh trụ dị diệt, để làm gì? có nghĩa lý gì không? … Các vị khất sĩ chợt nhận thức được ý nghĩa sâu xa của vô thường, vô ngã và duyên sanh.
Sau khi mưa tạnh, các vị khất sĩ vào yết kiến Phật, trình bày cảm nghĩ và chứng nghiệm của mình. Ðức Phật liền nói kệ:
Nên quán chiếu thế gian
Như mộng tưởng, bọt nước.
Người nhìn đời như thế
Không bao giờ sợ chết. (Kinh Pháp Cú, bài 170)
Nghe xong, các vị khất sĩ liền chứng quả A-la-hán.
2- Hạ thứ 22 tại Jetavana và Pubbarama (năm -568)
Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana-sutta)[22]
Mùa xuân năm sau, 568 trước tây lịch, tại thủ đô Kammassadhamma xứ Kuru, cách Sravasti khoảng 300 km về phía tây, đức Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ cho trên 300 khất sĩ và một số đông thính chúng địa phương. Ðây là một kinh rất quan trọng về phương pháp tu tập thiền quán (Vipassana). Phật nói phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu được thân tâm thanh tịnh, vượt qua mọi sầu khổ, thành tựu trí huệ và đạt giải thoát. Tứ niệm xứ là bốn đề tài cần được quán tưởng tỉ-mỉ và ghi nhớ rành rẽ. Bốn đề tài đó là:
1- Thân bất tịnh: Thân thể con người rất dơ bẩn, không có gì đáng quý trọng, gìn giữ.
2- Thọ là khổ: Tất cả những cảm giác thích thú, khó chịu hay trung tính của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý cuối cùng đều mang đến vọng tưởng, cố chấp và buồn khổ. Thọ nhận một vật gì làm của mình cũng đều mang đến cho mình sự lo âu, buồn khổ.
3- Tâm vô thường: Tâm tính của con người rất bất thường, khi vui, khi buồn, khi ghét, khi thương, khi hòa, khi giận, không có gì trường cửu để gọi là cái “ta” (ngã) bất sanh bất diệt.
4- Pháp vô ngã: Muôn sự muôn vật trên thế gian này đều biến đổi vô chừng trong các chu kỳ “thành, trụ, hoại, không”, không có gì là chắc thật để gọi là “bản thể” (ngã) bất sanh bất diệt của nó.
Trong lãnh vực thân thể, hành giả quán niệm ba giai đoạn của hơi thở mình (ra, vào, ngưng). Ví dụ như lúc thở ra, hành giả tự hỏi: cái gì làm cho mình thở ra, mạnh hay nhẹ, dài hay ngắn, hơi đi ra được chừng bao nhiêu, cái gì làm ngưng hơi thở ra … Hành giả quán niệm bốn tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi) và tất cả các động tác của cơ thể; cái gì làm phát sanh những động tác ấy, mỗi động tác phát khởi, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Phải luôn luôn chú ý giữ đúng uy nghi trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Hành giả quán niệm về nhịp tim, mạch máu nhảy, sự tuần hoàn của máu trong cơ thể. Hành giả quán niệm về bộ phận tiêu hóa, từ lúc thức ăn được đưa vào miệng, đến lúc bài tiết ra ngoài. Hành giả quán niệm về 32 thành phần của cơ thể (dvattinsakarapatha) là tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màn phổi, lá lách, phổi, ruột, màn ruột, dạ dày, phẩn, mật, da trong, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mao dịch, nước miếng, chất nhờn (như đàm, mũi), chất nhớt (ở các khớp xương), nước tiểu và bộ óc. Hành giả quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ lúc mới chết đến khi cơ thể tiêu tan[23]. Công phu quán niệm về thân thể không phải chỉ được thực hiện lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng thân thể là duyên hợp, giả tạm, vô thường, nhơ bẩn, không có thực thể, đến khi tàn hoại sẽ trở về không.
Trong lãnh vực cảm giác (thọ), hành giả quán niệm về sự phát sanh của cảm giác. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần như thế nào mà sanh ra sáu thức. Rồi trong sáu thức làm sao lại có những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), những cảm giác khó chịu (khổ thọ), những cảm giác trung tính (không dễ chịu cũng không khó chịu). Những cảm giác dễ chịu và khó chịu đó phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Làm thế nào để không bao giờ có cảm giác khó chịu. Công phu quán niệm về cảm giác không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Chữ “thọ” còn có nghĩa là nhận lãnh một vật làm sở hữu của mình. Hành giả quán sát xem vật sở hữu có mang đến cho mình cái khổ nào không. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng cảm giác và vật sở hữu nào cũng mang đến cho ta cái khổ không nhiều thì ít. Những cái vui tạm bợ mà cảm giác và vật sở hữu mang đến cho ta, sớm muộn gì cũng bị tàn phai.
Trong lãnh vực tâm ý, hành giả quán niệm về những hiện tượng tâm lý[24] phát sanh, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Ví dụ như tánh tham lam, tánh sân hận, tình thương, ái dục, … phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Những hiện tượng tâm lý đó mang đến những trạng thái tâm lý khổ vui như thế nào. Làm thế nào để chỉ có vui mà không có khổ. Công phu quán niệm tâm ý không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tâm ý ta thường biến chuyển thay đổi luôn tùy theo nhân duyên mỗi thời, không có thực thể, không có gì có thể gọi là cái “ta” trường cửu.
Trong lãnh vực các sự vật (pháp) ở thế gian, hành giả quán niệm về các giai đoạn phát sanh, biến chuyển và hoại diệt của từng sự vật hữu hình cũng như vô hình. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tất cả sự vật ở thế gian đều do duyên hợp, đều vô thường, biến chuyển không ngừng, rốt cuộc cũng đều đi đến hoại diệt.
Khi đã quán niệm thuần thục bốn đề tài “thân bất tịnh”, “thọ là khổ”, “tâm vô thường”, “pháp vô ngã”, hành giả sẽ không còn tham sống sợ chết, không còn ham muốn danh lợi tài sản thế gian, không còn đắm nhiễm các thú vui thế tục, sẵn sàng vui vẻ lìa bỏ tất cả, hành giả liền đắc sơ thiền[25], được thân tâm nhẹ nhàng thư thái, nhập vào dòng thánh.
Phật chỉ dạy cặn kẽ từng phép quán niệm trong cả bốn lãnh vực. Ngài bảo người nào tinh tấn hành trì phép quán Tứ Niệm Xứ trong vòng bảy năm chắc chắn sẽ đạt được nhiều tiến bộ trên đường giải thoát. Những người có thiện căn, có trí tuệ, hành trì phép quán này có thể vào dòng giải thoát trong vòng bảy tháng hoặc bảy ngày.
Qua hôm sau, sau khi thượng tọa Ananda trùng tuyên lời dạy của đức Phật, Thượng tọa Assaji cho biết đức Phật đã giảng về Tứ Niệm Xứ nhiều lần rồi, nhưng đây là lần đầu tiên ngài tổng hợp và đúc kết thành một bài pháp gọn ghẽ, đầy đủ và khúc triết nhất. Ðại đức Sariputta nói kinh Tứ Niệm Xứ rất là quý báu và quan trọng, các vị khất sĩ nên học thuộc lòng để thực hành hằng ngày.
Cô Sundari bị giết chôn tại tinh xá Jetavana để vu cáo Phật[26]
Ở Sravasti, uy tín Phật càng ngày càng lên cao, danh tiếng Phật càng ngày càng vang xa, mọi người đổ xô đến tinh xá Jetavana cúng dường và nghe pháp. Ngoại đạo cảm thấy uy tín và quyền lợi của họ càng ngày càng sa sút, họp nhau lại bàn tính tìm biện pháp cứu vãn tình thế. Họ nói với nhau:
– Từ ngày sa-môn Gotama xuất hiện tại Rajagriha và tại Sravasti là hai thành phố lớn hiện nay, uy tín và quyền lợi của chúng ta càng ngày càng sút giảm. Dân chúng hầu như quên sự có mặt của chúng ta tại hai nơi này. Chúng ta phải tìm cách triệt hạ uy tín của sa-môn Gotama mới được.
– Ðúng vậy. Chúng ta hãy bàn vụ này với nữ du sĩ Sundari, cô ta vừa thông minh vừa có sắc đẹp vô cùng quyến rũ. Cô ấy có thể giúp chúng ta thành công trong vụ này.
Rồi họ mời cô Sundari đến họp, thảo luận kế hoạch làm cho dân chúng nghi ngờ đức Phật có dan díu với cô Sundari. Khi thấy dân chúng bắt đầu xầm xì bàn tán với nhau về việc này, ngoại đạo quyết hạ độc thủ. Họ thuê hai tên du đảng giết cô Sundari rồi đem vùi xác cô vào đống rác hoa héo gần am Phật trong tinh xá Jetavana. Xong rồi họ giả bộ cho người đi tìm kiếm cô Sundari khắp nơi, vừa loan báo là cô Sundari đã bị mất tích. Họ xin yết kiến vua Pasenadi và nói:
– Tâu Ðại Vương, gần đây cô Sundari thường hay đến Jetavana nghe pháp, nhiều khi cô ta ở lại đến khuya. Từ sáng nay chúng tôi cho người đi kiếm cô ấy khắp nơi không thấy. Vậy xin phép Ðại vương cho chúng tôi vào tìm trong khu vực Jetavana.
Ðược vua cho phép, họ vào Jetavana lục soát và tìm thấy xác cô Sundari chôn vùi trong đống rác hoa héo gần am của Phật. Họ liền loan báo cho mọi người biết và tuyên truyền như sau:
– Gần đây có tiếng đồn sa-môn Gotama dan díu với cô Sundari, có lẽ đệ tử của sa-môn Gotama muốn giết cô Sundari để bịt miệng thế gian.
Dân chúng tưởng thật cũng đồng thanh lên án các vị khất sĩ, cho rằng chính các vị khất sĩ đã giết cô Sundari. Các vị khất sĩ báo tin này cho Phật hay, Phật nói:
– Vậy các thầy có phản đối họ không?
Rồi đức Phật nói kệ:
Ai tuyên truyền giả dối:
Chuyện không bảo là có,
Có làm bảo không làm,
Cả hai sau khi chết
Ðều sanh vào điạ ngục
Ðền trả ác nghiệp này. (Kinh Pháp Cú, bài 306)
Vua Pasenadi rất tin tưởng Phật, không tin lời phao vu của ngoại đạo, liền cho người ngầm đi điều tra. Chỉ vài ngày sau, hai tên du đảng giết cô Sundari đều bị bắt với đầy đủ tang chứng, khi họ đến quán rượu chia nhau tiền thưởng, ăn nhậu say sưa rồi cãi cọ gây gổ với nhau. Sau khi bị bắt vào đền vua, họ khai tên những người lãnh đạo tôn giáo đã thuê họ làm việc này. Vua Pasenadi bắt phạt những tên ngoại đạo này phải đi khắp thủ đô Sravasti nói lớn:
– Chính chúng tôi đã thuê người giết cô Sundari để vu oan cho sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama và các đệ tử của ông không có lỗi gì cả.
Vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana thăm Phật, mừng cho Phật và giáo đoàn vừa thoát nạn. Ðức Phật cám ơn vua Pasenadi, và nói:
– Ðại vương, ganh tị và hận thù là hai con rắn độc có thể cắn chết người mà cũng có thể cắn chết chính mình. Người tu cần phải tận diệt ganh tị và hận thù trong tâm mình. Xin Ðại vương hãy khuyến dụ và giảm tội cho các phạm nhân.
Chỉ trong vòng hai hôm sau, dân chúng trong thủ đô đã biết được sự thật về âm mưu của ngoại đạo. Uy tín của Phật và giáo đoàn khất sĩ càng lên cao.
Ðức Phật chăm sóc một khất sĩ mắc bệnh kiết[27]
Một hôm Ðức Phật cùng với Thượng tọa Ananda đi viếng các nơi trú ngụ của các vị khất sĩ trong tinh xá Jetavana. Vừa đến gần một am nhỏ thì có mùi hôi thúi xông ra rất khó chịu. Ðức Phật và Thượng tọa Ananda vừa bước vào thì thấy một vị khất sĩ thân hình tiều tụy đang nằm rên, mình dính đầy phẩn lỏng hôi thúi. Ðức Phật bước đến bên cạnh hỏi:
– Thầy mắc bệnh gì thế? Ðã bao lâu rồi?
– Bạch Thế Tôn, con bị bệnh kiết lỵ đã 2-3 ngày rồi mà không bớt.
– Vậy có ai chăm sóc thuốc men gì cho thầy không?
– Bạch Thế Tôn, không!
– Sao vậy? Không có thầy nào chăm sóc cho thầy sao?
– Bạch Thế Tôn, các thầy đều phải đi khất thực cả. Mãy hôm trước con còn tự đi ra ngoài rửa ráy một mình được, nhưng hôm nay con dậy không nổi.
Phật bảo Thượng tọa Ananda đi lấy nước. Hai thầy trò tắm rửa và mặc áo sạch cho vị khất sĩ. Rồi hai người đặt thầy lên giường. Phật và thầy Ananda quét rửa trong am cho hết mùi hôi hám và đem quần áo ra giặt phơi.
Chiều hôm ấy, trong phiên họp tại giảng đường, đức Phật hỏi:
– Này các thầy, các thầy có biết có một thầy đang bệnh nặng nằm trong am đàng kia không?
– Bạch Thế Tôn, chúng con có biết.
– Thầy ấy bệnh nặng như thế, sao hôm nay không có ai ở lại bên cạnh để chăm sóc cho thầy ấy?
– Bạch Thế Tôn, chúng con đều phải đi khất thực cả.
– Này các vị khất sĩ, chúng ta đã xuất gia, không còn cha mẹ vợ con chăm sóc cho chúng ta như khi còn tại gia nữa. Nếu chúng ta không chăm sóc cho nhau thì ai sẽ chăm sóc cho chúng ta? Mỗi khi có ai bị đau ốm, dù người ấy là thầy, bạn hay học trò thì chúng ta cũng phải chăm sóc tận tình cho đến khi người ấy bình phục hoàn toàn. Này các thầy, nếu Như Lai đau ốm thì các thầy có tận tình chăm sóc cho Như Lai không?
– Bạch Thế Tôn, chắc chắn chúng con sẽ tận tình chăm sóc cho Thế Tôn.
– Vậy thì từ nay, mỗi khi có vị khất sĩ nào mắc bệnh, các thầy cũng nên thay phiên nhau chăm sóc cho vị ấy như chăm sóc cho chính Như Lai vậy.
Các vị khất sĩ có mặt đều chắp tay cúi đầu, cung kính vâng lời Phật dạy.
Các ni-sư Maha-Pajapati, Khema và Dhammadinna
Mùa an cư thứ 22 vào năm 568 trước tây lịch, Phật nhập hạ tại Sravasti, ngài thường thuyết pháp tại tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) và tinh xá Pubbarama (Ðông Viên). Ni sư Maha Pajapati lãnh đạo đông đảo ni chúng an cư tại ni viện gần đó. Phụ tá ni sư Maha Pajapati có ni sư Khema. Ni sư Khema[28] vốn là một quý phi của vua Bimbisara xứ Magadha. Bà là người rất thông minh nhưng có tánh kiêu hảnh về sắc đẹp của mình. Vào hạ thứ hai, vua Bimbisara đã đưa bà đến nghe Phật thuyết pháp tại Venuvana. Nhờ Phật độ bà tỉnh ngộ và xin quy y Tam Bảo. Sau bốn năm tu học với tính cách cư sĩ tại gia, bà đã xin xuất gia và gia nhập ni chúng do ni sư Pajapati lãnh đạo. Bà tu học rất tinh tấn, chỉ vài năm sau bà đã trở nên một trong những vị lãnh đạo quan trọng của ni chúng. Nữ cư sĩ Visakha thường cùng các con đến cúng dường và nghe pháp tại ni viện. Do đó bà biết rõ cuộc đời các nữ khất sĩ Khema, Dhammadinna, Bhadda Kapilani, Uppalavanna và Patacara.
Ni sư Dhammadinna[29] là một trong những vị giảng sư nổi tiếng nhất của ni viện. Lúc chưa xuất gia, bà ở Rajagriha. Ông Visakha, chồng bà, là một cư sĩ thuần thành thường đến Venuvana nghe Phật thuyết pháp. Ông ngộ đạo và đắc quả A-na-hàm. Một hôm, ông Visakha nghe pháp xong, về nhà bảo bà:
– Này Dhammadinna, tất cả gia sản này tôi giao lại hết cho bà. Bà hãy giữ lấy để lo cho các con. Tôi đi xuất gia theo Phật.
– Ông muốn giao gánh nặng này cho tôi à!? Một mình tôi không kham nổi đâu. Thôi, ông ở nhà đi, để tôi đi xuất gia. Nghe nói Phật đã cho phép nữ giới xuất gia, tôi cũng muốn được xuất gia lắm.
– Ðược, bà muốn đi xuất gia cũng tốt.
Dhammadinna xin xuất gia, ít lâu sau đắc quả A-la-hán. Sư cô trở về Rajagriha để độ ông Visakha. Nghe tin sư cô về đến Rajagriha, ông Visakha đến ni viện thăm và hỏi thử xem sư cô đã tu tiến đến đâu. Ông đến nơi, đảnh lễ sư cô, ngồi xuống một bên, rồi hỏi sư cô về cách tu chứng quả Tu-đà-hoàn. Sư cô đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông hỏi về cách tu chứng quả Tư-đà-hàm. Sư cô cũng đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông hỏi về cách tu chứng quả A-na-hàm. Sư cô cũng đáp đúng những điều như ông đã biết. Ông lại hỏi về cách tu chứng quả A-la-hán. Sư cô đáp:
– Này đạo hữu, ông khá lắm. Nhưng nếu ông muốn biết về cách tu chứng quả vị A-la-hán thì ông nên đến hỏi đức Thế Tôn, ngài sẽ giảng nghĩa cho ông rõ ràng hơn.
Ông Visakha đến gặp Phật, kể lại câu chuyện giữa ông và sư cô Dhammadinna. Phật bảo:
– Này đạo hữu Visakha, sư cô Dhammadinna đã trả lời rất đúng những câu hỏi của ông. Nếu ông hỏi Như Lai thì Như Lai cũng sẽ trả lời như thế thôi.
Rồi đức Phật nói kệ:
Ba đời đều trong sạch:
Hiện tại, không có gì
Quá khứ, không có gì
Tương lai, không có gì
Không có, cũng không muốn
Chính là A-la-hán. (Kinh Pháp Cú, bài 421)
Bên cạnh ni sư Dhammadinna còn có ni sư Bhadda Kapilani cũng rất nổi tiếng về thuyết pháp hay. Hai vị này thường được các giới cư sĩ thỉnh đến thuyết pháp tại nhiều địa điểm trong xứ Kosala.
Cuộc đời đau khổ của ni-sư Patacara[30]
Patacara[31] là con gái một nhà giàu có ở Sravasti. Cha mẹ cô Patacara giữ con gái kỹ lắm, không bao giờ cho ra khỏi nhà. Ðến tuổi dậy thì cô đem lòng thương một người con trai giúp việc trong nhà. Cha mẹ cô hoàn toàn không hay biết gì cả. Họ sắp đặt để gả cô cho một chàng trai, con nhà phú hộ khác. Hoảng kinh, cô bàn tính với người yêu bỏ nhà trốn đi. Gần đến ngày cưới, cô hóa trang làm con ở đi gánh nước và thoát ra khỏi nhà. Cô hẹn với người yêu gặp nhau tại bến đò, rồi hai người trốn đi thật xa. Ăn ở với nhau được ba năm thì cô có thai. Gần đến ngày sanh, cô đòi chồng đưa cô về nhà cha mẹ để sanh, theo phong tục thời bấy giờ. Chồng cô sợ ông bà phú hộ lắm, nhưng vì thương vợ bất đắc dĩ phải chìu ý đưa đi. Nhưng khi đi đến nửa đường thì cô chuyển bụng sinh được một bé trai kháu khỉnh. Việc trở về nhà cha mẹ vì thế không còn cần thiết nữa. Hai vợ chồng liền quay về nơi sinh sống cũ.
Hai năm sau, cô lại có thai. Và lần này cô lại muốn về quê sinh đẻ. Giữa đường gặp một trận mưa bão lớn, cô lại chuyển bụng. Người chồng bảo vợ tạm ẩn mưa bên đường để anh vào rừng đốn cây bẻ lá che tạm một túp lều. Patacara đợi mãi không thấy chồng trở lại. Nữa đêm cô sinh ra một bé trai trong lúc trời vẫn còn mưa gió. Sáng hôm sau, khi bão tạnh, Patacara tay ôm đứa bé sơ sinh, tay dắt đứa bé chưa đầy ba tuổi, đi vào rừng tìm chồng. Cô thấy chồng cô nằm chết trong rừng, bị rắn độc cắn vào chân bầm tím. Patacara khóc than thảm thiết. Cô dùng một khúc gỗ đào đất chôn chồng, rồi tay bồng tay dắt con ra đi, tìm về nhà cha mẹ. Cô đi mãi cho đến khi gặp dòng sông Aciravati. Mực nước sông lên cao vì mưa gió đã kéo dài mấy ngày đêm. Không biết làm sao, cô dặn đứa con ba tuổi đứng chờ cô bên này sông để cô ẵm đứa bé mới sanh sang bên kia sông trước. Hai tay cô nâng đứa bé lên khỏi đầu, lội qua sông. Tới giữa dòng, một con chim ưng to lớn sà xuống, cắp đứa bé bay đi. Hoảng hốt, Patacara la lớn cho con chim ưng sợ mà buông đứa bé xuống. Không ngờ đứa bé ba tuổi đang đứng chờ trên bờ, tưởng mẹ gọi mình, liền chạy xuống nước tìm đến mẹ. Khi con chim ưng cắp đứa bé bay xa rồi, Patacara ngoái nhìn lại bờ sông thì thấy đứa con trai ba tuổi của cô đã lội xuống nước. Hoảng kinh, Patacara la lên và cố lội nhanh vào bờ để cứu con. Nhưng chậm mất rồi, đứa bé đã bị dòng nước cuốn đi mất.
Vào đến bờ, Patacara kiệt sức. Cô không còn khóc được nữa. Cô nằm trên bờ sông lâu lắm mới lấy lại được chút sức lực. Rồi cô tìm đường lần hồi về Sravasti. Tới Sravasti, cô được tin ngôi nhà của cha mẹ cô đã bị trận bão vừa qua làm xập nát, cả cha mẹ cô lẫn đứa em trai đều bị sườn nhà đè chết. Cô lật đật chạy đến nơi hỏa thiêu cha mẹ cô thì giàn hỏa cũng vừa tàn.
Patacara ngã quỵ bên lề đường. Cô không còn muốn sống nữa. Chưa bao giờ mà nhiều biến cố đau khổ dồn dập đến một người đàn bà nhanh như thế. Những người qua đường ghé lại thăm hỏi và đưa cô về tinh xá Jetavana gặp Phật. Phật nhờ các vị nữ cư sĩ đưa Patacara đi tắm rửa và thay y phục. Rồi ngài ngồi chăm chỉ nghe Patacara kể lại chuyện mình. Ðức Phật an ủi:
– Này Patacara, con đã gặp nhiều tai nạn và rủi ro dồn dập đến. Nhưng cuộc đời không phải chỉ có khổ đau và tai nạn. Những việc đã qua con không nên nghĩ tới để sầu khổ nữa làm chi. Con nên nghĩ tới hiện tại, hôm nay và vào giờ phút này con nên làm gì để mang lại hạnh phúc cho con, cho cha mẹ và chồng con của con đã qua đời, cho những người xung quanh con. Con hãy học cách sống đời cao thượng để tự lợi lợi tha. Con sẽ thấy cuộc đời còn có nhiều ý nghĩa, con còn nhiều việc phải làm để tạo an lạc cho con, cho mọi người, trong hiện tại và tương lai.
Patacara lạy Phật xin xuất gia. Phật nói với ni sư Maha Pajapati cho người đưa Patacara về ni viện. Sau một thời gian tập sự, Patacara được thọ giới nữ khất sĩ. Patacara được ni trưởng và các ni sư thương yêu lắm. Sau mấy năm tu học, Patacara đã tìm lại được nụ cười. Một hôm, trong khi múc nước rửa chân, thấy những dòng nước theo hai chân chảy xuống và thấm vào lòng đất, nữ khất sĩ Patacara bỗng phát tâm quán thủy đại, ngộ được lý vô thường. Suốt mấy ngày liền, ni cô thực tập thiền quán bằng hình ảnh ấy. Một buổi sáng nọ, Patacara chứng nghiệm được nguyên tắc sinh diệt của vạn vật. Ni cô đọc lên mấy vần thơ sau đây:
“Hôm nọ đang rửa chân
“Tôi thấy dòng nước chảy
“Thấm sâu vào lòng đất
“Tôi hỏi: nước về đâu?
“Thiền quán trong tĩnh lặng
“Tôi nắm giữ sáu căn
“Như kềm con tuấn mã
“Tôi quán sát sáu trần
“Ngồi nhìn ngọn đèn dầu
“Tôi đi vào phép quán
“Thời khắc trôi qua mau
“Lửa đèn còn chiếu sáng
“Lấy cây tăm khêu bấc
“Tôi dìm bấc xuống dầu
“Ánh đèn bỗng phụt tắt
“Tất cả chìm đêm thâu
“Ngọn lửa về niết-bàn
“Nhưng hồn tôi chợt sáng
“Tâm được cởi trói rồi
“Ánh mai vừa tỏ rạng.
Chiều hôm ấy, ni cô Patacara trình lên ni sư Pajapati bài thơ ấy, được ni sư rất ngợi khen.
Phật thuyết kinh Quán Niệm Hơi Thở[32] (Anapana-sati)
Thỉnh thoảng Phật hoặc các vị đệ tử lớn lại tới viếng thăm và nói pháp tại ni viện. Mỗi tháng một lần, các vị nữ khất sĩ cũng được tới nghe pháp ở tinh xá Jetavana hoặc Pubbarama. Năm nay, theo lời yêu cầu của Thượng tọa Sariputta, Phật cho kéo dài mùa an cư thêm một tháng. Lễ tự tứ sẽ được cử hành vào ngày trăng tròn tháng Kattika (tháng 11 dl) thay vì vào ngày trăng tròn tháng Assayuja (tháng 10 dl) như mọi năm. Mục đích là để các vị khất sĩ, sau khi mãn hạ ở các trung tâm tu học thuộc vùng lân cận Sravasti có thể về Jetavana gặp Phật.
Tin Phật sẽ kéo dài mùa an cư năm nay tại Jetavana thêm một tháng được loan đi rất nhanh. Do đó, sau lễ tự tứ, các thầy và các ni cô từ các địa phương khác lục tục tìm về thăm Phật rất đông. Các vị thí chủ lớn như Sudatta, Visakha và hoàng hậu Mallika đã tìm mọi cách để cung cấp phương tiện cư trú và thực phẩm cho các vị tu sĩ từ các nơi tựu về. Vào cuối tháng Kattika (11 dl), số lượng các vị khất sĩ và nữ khất sĩ tại thủ đô Sravasti lên tới ba ngàn người.
Vào đêm trăng tròn tháng Assayuja, hoa sen trắng Kumudi nở rộ dưới hồ, hương sen thoang thoảng tỏa khắp tinh xá Jetavana. Phật ngồi trên một tòa cao giữa trời, mở lời khen ngợi đại chúng đã tinh tấn tu học trong suốt mùa an cư vừa qua và rất xứng đáng được thêm một tuổi hạ. Rồi nhân cơ hội này, Phật nói kinh Quán Niệm Hơi Thở (Anapana-sati).
Ðúng ra thì vị khất sĩ nào cũng đã được học về phép quán niệm hơi thở. Nhưng đây là lần đầu tiên mà đa số các vị khất sĩ có mặt được trực tiếp nghe Phật giảng về phép quán niệm hơi thở. Ðây cũng là lần đầu Phật tổng hợp những điều đã giảng về pháp môn này và đúc kết lại trong một thời giảng.
Có mặt trong buổi pháp thoại hôm nay có cả ni sư Yasodhara, mẹ của đại đức Rahula, và ni sư Sundari Nanda, chủng tử của sư trưởng Pajapati Gotami. Sáu tháng sau khi hoàng hậu Pajapati Gotami xuất gia, Yasodhara và Sundari Nanda cũng xin xuất gia và tu học tại một ni viện miền ngoại ô phía bắc thành Kapilavastu. Ni viện này cũng đã do ni sư Gotami sáng lập. Chỉ trong vòng một năm, sư cô Yasodhara đã trở nên một phụ tá đắc lực cho ni sư Gotami. Bắt đầu mùa hạ năm nay, hằng năm ni chúng ở Kapilavastu đều về nhập hạ tại Sravasti để được thừa hưởng sự giáo huấn của Phật và các vị đệ tử lớn. Hoàng hậu Mallika và nữ cư sĩ Visakha đã tận lực ủng hộ ni chúng trong việc thành lập tu viện cho phái nữ. Hai năm đầu, ni chúng được phép sử dụng vườn thượng uyển để làm trung tâm an cư. Ðến năm thứ ba họ mới lập được tu viện riêng biệt. Biết mình tuổi đã cao (97 tuổi), ni sư Gotami chú tâm đào luyện các ni sư tuổi trẻ tài cao trở thành những vị lãnh đạo xuất sắc sau này. Ni sư Yasodhara là một trong những vị lãnh đạo ni chúng xuất sắc. Cùng xuất gia một lượt với bà còn có các ni sư Sela, Vimala, Soma, Mutta và Nanduttara. Tất cả các vị này đều có mặt tại tinh xá Jetavana hôm nay.
Bắt đầu thời pháp về Quán Niệm Hơi Thở, Phật nói:
– Này các vị khất sĩ, phép Quán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực hành liên tục sẽ đem lại nhiều thành quả lớn. Phép Quán Niệm Hơi Thở là căn bản của tất cả các phép thiền định. Nhờ quán niệm hơi thở, hành giả được thân tâm nhẹ nhàng thanh tịnh mới có thể thành tựu dễ dàng các pháp Chỉ (Samatha) và Quán (Vipassana) như quán Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi, vân vân. Pháp Quán Niệm Hơi Thở gồm có 16 cách thở như sau:
Thứ nhất: Thở vào một hơi dài, biết ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, biết ta đang thở ra một hơi dài.
Thứ hai: Thở vào một hơi ngắn, biết ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, biết ta đang thở ra một hơi ngắn.
Hai cách này nhằm chận đứng các tạp niệm và làm phát sanh chánh niệm.
Thứ ba: Thở vào và có ý thức hơi vào và lưu chuyển khắp thân ta. Thở ra và có ý thức hơi từ khắp thân ta đi ra.
Cách này giúp ta có ý thức về toàn thân ta cùng tất cả các bộ phận trong cơ thể.
Thứ tư: Thở vào và làm cho toàn thân ta an tịnh. Thở ra và làm cho toàn thân ta an tịnh.
Cách này nhằm làm cho thân tâm an tịnh, nhẹ nhàng.
Bốn cách thở trên nhằm tập làm chủ và điều hành thân thể.
Thứ năm: Thở vào và cảm thấy mừng vui. Thở ra và cảm thấy mừng vui (hỷ).
Thứ sáu: Thở vào và cảm thấy an lạc. Thở ra và cảm thấy an lạc (lạc).
Hai cách này nhằm làm phát sanh các cảm thọ “hỷ” và “lạc” để nuôi dưỡng thân tâm, để giúp ta có thể an trú lâu dài trong chánh niệm. Hỷ là cái vui thông thường. Lạc là cái vui thanh tịnh, tế nhị.
Thứ bảy: Thở vào và biết ta đang chú ý vào hơi thở vào. Thở ra và biết ta đang chú ý vào hơi thở ra.
Thứ tám: Thở vào và làm cho tâm ta an tịnh. Thở ra và làm cho tâm ta an tịnh.
Bốn cách thở trên nhằm tập làm chủ và tự giải thoát khỏi các cảm thọ.
Thứ chín: Thở vào và biết chính ta đang muốn thở vào. Thở ra và biết chính ta đang muốn thở ra.
Thứ mười: Thở vào và cảm thấy ta vui thú trong hơi thở vào. Thở ra và cảm thấy ta vui thú trong hơi thở ra.
Thứ mười một: Thở vào và nhiếp tâm vào định. Thở ra và nhiếp tâm vào định.
Thứ mười hai: Thở vào và giữ tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng. Thở ra và giữ tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng.
Bốn cách thở trên đây nhằm tập làm chủ và tự giải thoát khỏi sự ràng buộc của tâm ý.
Thứ mười ba: Thở vào và quán chiếu tánh vô thường của vạn pháp. Thở ra và quán chiếu tánh vô thường của vạn pháp.
Thứ mười bốn: Thở vào và khởi tâm xa lìa vạn pháp. Thở ra và khởi tâm xa lìa vạn pháp.
Thứ mười lăm: Thở vào và quán chiếu vạn pháp đều không, đều hoàn toàn vắng lặng. Thở ra và cũng quán chiếu như thế.
Thứ mười sáu: Thở vào và khởi tâm xả, không nghĩ tưởng. Thở ra và khởi tâm xả, không nghĩ tưởng.
Bốn cách thở trên đây nhằm giúp tâm ta tự giải thoát khỏi các đối tượng của tâm ý (trần cảnh), tức là giúp sáu căn thanh tịnh, không còn vướng mắc vào sáu trần. Thế gian này không còn gì có thể ràng buộc và gây phiền não cho ta nữa. Như thế là ta được giải thoát.
Một khi đạt được giải thoát, hành giả sống an lạc ngay trong cuộc đời mà không có gì trong cuộc đời có thể ràng buộc hành giả.
Ðức Phật đã dạy phép hành trì mười sáu cách thở lồng trong sự quán chiếu về thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý (trần cảnh). Hơi thở là dây cương để điều phục tâm ý như trừ tán loạn, sân hận, sợ hãi, tham dục …
Gần ba ngàn vị khất sĩ và nữ khất sĩ được nghe kinh này đều lấy làm sung sướng được tỏ ngộ pháp tu giải thoát, tín tâm càng thêm bền chắc, không còn điều gì nghi ngờ nữa. Tất cả đều thầm cám ơn Thượng tọa Sariputta đã sắp đặt để mọi người được thưởng thức hương vị giải thoát hòa lẫn hương sen Kumudi dưới ánh trăng rằm huyền diệu.
Tự sát không phải là tự giải thoát
Cuối năm 568 trước tây lịch, trong khi đức Phật đang nhập thất tại tinh xá Mahavana ở Vesali, có vài vị khất sĩ rủ nhau tự sát ngay trong tinh xá. Lý do là vì trong khi thực hành phép quán Tứ Niệm Xứ về Thân Bất Tịnh, các thầy thực hành Cửu Tưởng Quán nơi bãi tha ma trong khu rừng nơi người ta để thi hài những người chết nghèo khổ cho chim thú ăn. Cửu Tưởng Quán là sự quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ lúc mới chết thi thể bầm xanh, lần lần sình chương lên, kế đến nứt nẻ, nước vàng rịn chảy ra, da thịt rục rã, lầy thúi, vòi, chim, thú cắn xé rút rỉa, cho đến khi các mảnh xương rã rời mục nát. Các thầy cảm thấy quá ghê tởm cái thân nhơ bẩn hôi thúi của mình, không muốn mang nó nữa, muốn vứt bỏ tấm thân bất tịnh càng sớm càng tốt.
Sau thời hạn nhập thất, Phật được báo tin này. Ngài cho triệu tập tất cả các vị khất sĩ tại giảng đường Trùng Các (Kutagara) và dạy rằng:
– Này các thầy, Cửu Tưởng Quán là để trừ ái dục, là để trừ cái chấp thân là ngã hay ngã sở, để bỏ thói quen bám víu vào thân. Vì bám víu vào thân là nguyên nhân của đau khổ và sinh tử luân hồi. Quý thầy không nên bám víu vào thân, không nên quá tưng tiu chìu chuộng cái thân, nhưng cũng không nên hủy hoại nó. Tại sao không nên hủy hoại thân? Vì thân người khó được, vì thân người là phương tiện tốt nhất để tu tập giải thoát. Người tự hủy hoại thân để được giải thoát cũng ví như người muốn đi lên núi mà tự chặt bỏ hai chân của mình vì lỡ đạp phẩn dơ…
Này các thầy, tâm giải thoát là tâm không vướng mắc, không chấp trước, không chấp thân thanh tịnh đáng quý trọng, cũng không chấp thân ô trược đáng hủy diệt. Người có trí huệ phải biết tùy thuận nương theo những phương tiện mình đang tạm có để tinh tấn tu tập hầu đạt tới giải thoát khỏi mọi ràng buộc của thế gian, của cõi dục, của cõi sắc và của cõi vô sắc, cho đến khi hoàn toàn thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Này các thầy, thế nào là giải thoát? Sáu căn thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần là giải thoát. Mắt không đắm nhiễm hình sắc, tai không đắm nhiễm âm thanh, mũi không đắm nhiễm mùi hương, lưỡi không đắm nhiễm mùi vị, thân không đắm nhiễm sự xúc chạm dịu dàng êm ái, ý không đắm nhiễm lời tán dương khen ngợi. Ðó chính là giải thoát. Bịt mắt, bịt tai không phải là giải thoát. Người mù, người điếc không phải là người được giải thoát.
Này các thầy, từ nay Như Lai hy vọng các thầy, nhất là những vị vừa mới xuất gia, biết rõ đâu là giải thoát và không còn phạm vào lỗi lầm đó nữa.
Nghe Phật nói xong, các vị khất sĩ mới xuất gia rất vui mừng, thấy rõ sự khác biệt giữa cái chết và sự giải thoát.
3- Hạ thứ 23 tại Jetavana (năm -567)
Giáo lý là ngón tay chỉ mặt trăng
Ðầu mùa xuân năm 567 trước tây lịch, Phật lại trở về Sravasti để chuẩn bị mùa an cư thứ 23. Tại đây Phật lại có dịp giảng thêm về vấn đề phá chấp. Vốn là trong một buổi pháp đàm, khất sĩ Arittha cho rằng những điều Phật giảng đều là chân lý. Trong một buổi thuyết giảng tại tinh xá Jetavava, Phật nói:
– Này các thầy, giáo pháp của Như Lai có thấp có cao tùy theo trình độ của thính chúng mà giảng nói. Ðối với những người đam mê dục lạc thế gian, Như Lai nói đời là khổ. Ðối với những vị Bồ-tát mới phát tâm, Như Lai nói tất cả pháp giới chúng sanh đều thanh tịnh. Ðối với những người ham muốn danh lợi tài sản thế gian, Như Lai nói tất cả các pháp đều vô thường, không thể nắm giữ được. Ðối với những người mong cầu hạnh phúc, Như Lai nói cảnh giới Niết-bàn đầy đủ thường, lạc, ngã, tịnh.
Này các thầy, giáo pháp của Như Lai không phải là chân lý nhưng không rời chân lý. Cũng như ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay không phải là mặt trăng. Nhưng người chưa biết mặt trăng phải nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Vì chân lý không thể nghĩ bàn, nên không thể dùng lời nói và suy luận mà diễn tả được. Các thầy không nên chấp nơi lời nói, nơi văn tự mà phải nương theo đó để tìm hiểu chân lý, cũng như người nương theo ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Người nào chỉ lo chăm chú nhìn ngón tay thì không thể nào thấy được mặt trăng.
Giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông[33]
Ðức Phật nói tiếp:
– Này các thầy, giáo lý là chiếc bè đưa người sang sông, từ bờ mê đến bến giác. Người mê phải dùng bè để vượt qua con sông sinh tử. Nhưng khi đến bờ giác rồi thì chiếc bè trở nên vô dụng, không nên đội chiếc bè lên đầu mà đi.
Này các thầy, tất cả các giáo pháp mà Như Lai đã giảng dạy như Tứ Diệu Ðế, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ-Ðề Phần, Bát Chánh Ðạo, vô thường, vô ngã, khổ, không, vô tướng, vô tác … là những điều các thầy cần phải học, hiểu và thực hành để đạt đến giác ngộ và giải thoát, chứ không phải những giáo điều mà quý vị phải tôn thờ.
Ngôn thuyết pháp và thân thuyết pháp[34]
Năm nay trung tâm tu học của ni chúng tại Sravasti có đến 500 vị nữ khất sĩ. Ni sư Pajapati thường thỉnh Phật hoặc các bậc cao đức từ Jetavana hoặc từ Pubbarama tới giảng dạy. Thượng tọa thị giả Ananda được Phật giao cho trách nhiệm đề cử các vị giảng sư cho ni chúng. Nhận thấy Thượng tọa Bhanda là người có thật tu thật chứng nhưng ít khi chịu giảng nói, một số thầy đề nghị với Thượng tọa Ananda nên cử Thượng tọa Bhanda một lần thử xem. Thượng tọa Bhanda được chỉ định và bị nhiều thầy nói vào nên không thể từ chối. Ngày hôm sau, sau khi đi khất thực, Thượng tọa ghé vào một cụm rừng để thọ trai. Thọ trai xong, Thượng tọa đi về phía nữ tu viện. Thượng tọa được các ni sư ân cần đón tiếp. Ni sư Gotami thỉnh Thượng tọa lên pháp tòa.
Từ trên pháp tòa, Thượng tọa Bhanda nói:
– Thưa các đạo hữu, tôi không quen nói trước đại chúng. Hôm nay tôi xin đọc tặng các đạo hữu bài kệ mà tôi thường tâm niệm:
“An trú trong tĩnh mặc,
“Thấy pháp, trở về nguồn,
“Không hận thù bạo động,
“Niềm an lạc trào tuôn.
“Ðiều phục được kiêu mạn,
“Sống an hòa chân thật,
“Vượt ra ngoài ái nhiễm,
“Là niềm vui lớn nhất.
Ðọc xong bài kệ, Thượng tọa im lặng nhập đại định.
Bài thuyết pháp của Thượng tọa Bhanda chỉ có mấy chục tiếng, nhưng đạo phong của Thượng tọa đã làm cho ni chúng rất hoan hỷ. Một số ni cô bạch với ni sư Gotami xin Thượng tọa nói thêm. Ni sư Gotami chiều ý, tiến lên thỉnh cầu Thượng tọa giảng thêm về ý nghĩa bài kệ. Nhưng Thượng tọa Bhanda chỉ đọc lại bài kệ một lần nữa rồi bước xuống pháp tòa.
Câu chuyện này được trình lên Phật. Có thầy đề nghị từ nay chỉ nên cử những giảng sư có biện tài. Phật dạy:
– Này các thầy, biện tài tuy cần nhưng đạo phong của sự thực chứng là điều quan trọng hơn. Thân thuyết pháp thường có hiệu lực hơn là ngôn thuyết pháp. Từ nay thầy Ananda nên lấy ý kiến chung của đại chúng trong việc đề cử giảng sư cho ni chúng.
Rồi đức Phật nói kệ:
Người nói pháp hoạt bát
Chưa hẳn là đạt đạo.
Người tuy nghe học ít
Nhưng hiểu hành hợp nhất
Chính là người đạt đạo
Có khả năng truyền trao. (Kinh Pháp Cú, bài 259)
Jivaka hỏi Phật về ăn chay ăn mặn[35]
Sau mùa an cư, Phật về Rajagriha (Vương Xá) để viếng thăm và giảng dạy đại chúng tại đây. Sau khi ở vài ngày tại Venuvana (Trúc Lâm), Phật lên núi Griddhakuta (Linh Thứu) ở tại tịnh thất của ngài trên đỉnh núi. Phật thích ở đây hơn vì nơi đây thanh tịnh, mát mẻ, khoảng khoát rất thuận lợi cho việc an dưỡng và thiền định.
Ðược ít hôm, Y sĩ Jivaka thỉnh Phật đến vườn xoài của ông dưới chân núi để tịnh dưỡng và để ông có dịp chăm sóc sức khỏe cho Phật. Jivaka đã dựng một tịnh thất nhỏ cho Phật ở ngay trong vườn xoài. Hằng ngày ông tự tay nấu thức ăn chay đem đến cúng dường Phật. Ông khuyên Phật nên nghỉ đi khất thực độ mươi bữa để ông cho thuốc bổ dưỡng. Thuốc này được chế toàn bằng rễ cây, lá cây và trái cây. Một hôm, ngồi trong vườn xoài, Jivaka hỏi:
– Bạch Thế Tôn, có người đồn đãi rằng các vị khất sĩ được Thế Tôn cho phép ăn thịt cá. Họ còn nói “Sa-môn Gotama cho phép giết thú vật để làm thức ăn cúng dường cho ông ta và các khất sĩ”. Bạch Thế Tôn, con biết những lời đồn đãi này không đúng sự thật, nhưng con muốn được nghe Thế Tôn trực tiếp nói rõ về việc này.
– Này Jivaka, Như Lai không hề cho phép giết sinh vật, bất cứ là loại nào, để làm thực phẩm cho các khất sĩ. Như Lai đã từng nhắc nhở các vị khất sĩ như vầy: Nếu thấy người ta giết thú vật để làm thực phẩm cúng dường mình thì phải từ chối, không được ăn. Nếu không thấy mà chỉ nghe nói người ta đã vì mình mà giết thú vật thì cũng không được nhận thực phẩm đó. Và hơn thế nữa, dù không thấy, không nghe, nhưng một khi đã nghi rằng người ta vì mình mà giết thú vật thì cũng phải từ chối, không được ăn.
Này Jivaka, theo phép khất thực thì người ta cho mình thức ăn gì mình cũng phải nhận, không được chê khen. Nhưng trong trường hợp đã thấy, nghe hay nghi rằng người ta đã vì mình mà sát hại thú vật thì mình phải từ chối. Như thế mới nuôi dưỡng và bảo vệ được lòng từ bi của mình.
Thông thường, các thí chủ đều biết cúng dường bằng vật thực chay tịnh. Trừ khi họ không có sẵn thức ăn chay, mà đã đến giờ ngọ, họ mới chia xẻ phần ăn sẵn có của họ cho các thầy. Hoặc những người mới cúng dường lần đầu tiên, không biết, đem cúng thức ăn mặn, thì các vị khất sĩ cũng có thể thọ dụng để khỏi phụ lòng thí chủ, và cũng để cho thí chủ có dịp kết duyên từ từ với đạo giải thoát.
Nhưng đúng theo giới luật, đã cử sát sanh thì không nên thọ dụng những vật thực có hại đến sinh mạng của bất cứ loài vật nào.
– Bạch Thế Tôn, con thấy ăn chay làm cho cơ thể nhẹ nhàng và ít bệnh hơn ăn mặn. Thịt, cá thường có nhiều độc tố hơn rau cải và trái cây. Từ mười năm nay con đã ăn chay, con thấy vừa được khỏe mạnh, vừa nuôi dưỡng được lòng từ bi. Hôm nay con rất vui mừng được nghe chính Thế Tôn chỉ dạy về việc này.
Ðức Phật khen ngợi Jivaka và ngỏ lời mời ông hôm nào đến tinh xá Venuvana nói cho các vị khất sĩ nghe về các phép vệ sinh trong đời sống hằng ngày.
Sư cô Subha gặp tên du-đãng[36]
Ðã tạo được nhiều phước báo trong quá khứ, cô Subha được tái sanh vào gia đình của một vị Bà-la-môn khả kính tại Rajagriha (Vương Xá). Nàng có sắc đẹp tuyệt trần, vì lẽ ấy nên có tên là Subha. Vào mùa an cư thứ hai của Phật, cô đã nghe Phật thuyết pháp nhiều lần và đã trở thành một tín nữ trung kiên. Ðến khi ni sư Pajapati Gotami được Phật cho phép thành lập Giáo Ðoàn Nữ Khất Sĩ, cô xin xuất gia để gia nhập vào giáo đoàn. Sư cô Subha tinh tấn chuyên cần thực hành Thiền Vắng Lặng (Samatha) và Thiền Minh Sát (Vipassana). Sư cô đã đạt được từng thánh thứ ba (anagami).
Một ngày kia, vào đầu mùa xuân năm 566 trước tây lịch, sư cô Subha định đi đến Griddhakuta viếng Phật. Lúc cô vừa đến khu vườn xoài vắng vẻ xinh đẹp của ông Jivaka thì có một thanh niên bước đến chận ngang đường, lả lơi trêu chọc. Sư cô nói:
– Này ông, tôi là một sư cô đã xuất gia, xin ông đừng chạm đến người tôi. Tôi đâu có làm gì xúc phạm đến ông, tôi đâu có lỗi gì mà ông chận đường tôi? Tôi rất quý mến Giáo Pháp và rất tôn trọng giới luật của đức Bổn sư đã ban hành. Tôi thực tập giáo pháp và nghiêm trì giới luật thật tinh cần để giữ cho thân tâm luôn luôn được trong sạch. Tại sao ông lại chận đường tôi?
– Này cô, cô đang còn son trẻ, sắc đẹp của cô thật trong sáng, thân hình của cô thật diễm kiều. Gia nhập vào Giáo Hội thì có lợi ích gì? Hãy lột bỏ đi lớp y vàng che mất thân hình kiều diễm của cô. Hãy đến đây, này cô, chúng ta hãy thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy bông hoa đang đua nở này, chúng ta hãy vui thú với mối tình nam nữ của trời ban. Này cô, hãy lại đây với tôi!
– Này ông, tâm ông còn chứa đầy những tư tưởng tham dục, nhưng tâm tôi đã thanh tịnh. Quả tim ông đang bị những khát vọng đê hèn khuấy động, nhưng tôi đã chán ngán cái xác thân phàm tục dơ bẩn này rồi. Tại sao ông mãi đứng đó chận đường tôi?
– Này cô, cô hãy xem kìa, hương thơm ngào ngạt của ngàn hoa đang phảng phất trong gió. Hãy thưởng ngoạn mùa xuân đang tung nở, hớn hở trong niềm vui.Hãy đến đây thọ hưởng lạc thú trong khu rừng đầy hương hoa này như đàn bướm đang nhởn nhơ bay lượn kia, hãy tìm thú vui thơ mộng của tuổi xuân nam nữ. Những ngọn cây đầy bông hoa nghiêng ngả, lả lơi uốn mình trước gió, hình như đang ca hát để đón mừng chúng ta. Nhưng cô thì thui thủi vào rừng một mình, làm sao tìm được hạnh phúc trong đó?
Ôi! này người thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần, như một pho tượng đúc bằng vàng ròng lộng lẫy sáng chói, như một tiên nữ đang múa hát nơi cõi bồng lai, hãy đến đây với tôi. Tôi sẽ tặng nàng những bộ y phục làm bằng tơ lụa của thành phố Benares, cô sẽ càng thêm xinh đẹp không ai bì kịp.
Ôi! Ðôi mắt bồ câu của cô thật mơ mộng, đẹp đẽ tinh anh như hai vì sao lấp lánh giữa đêm thanh. Tôi sẽ quỳ phục dưới uy quyền của cô nếu chúng ta có thể cùng nhau hưởng lạc thú trong khu rừng hoang dại này. Cô là tất cả của đời tôi. Tôi quý cô còn hơn mạng sống của tôi.
Nếu cô lưu ý đến những lời thành khẩn của tôi thì chúng ta sẽ cùng nhau chung sống đời tại gia cư sĩ và tha hồ thụ hưởng lạc thú ở đời. Những kiều nữ thướt tha dễ mến sẽ chăm sóc và cung phụng cho cô đầy đủ mọi nhu cầu trong những tòa nhà nguy nga tráng lệ. Hằng ngày cô sẽ được trang điểm bằng những vòng hoa tươi thắm, ướp tẩm hương thơm ngào ngạt. Tôi sẽ rất sung sướng được tặng cô nhiều vòng vàng trang sức đủ loại, với những hạt kim cương lóng lánh sáng ngời.
Hằng đêm, cô sẽ nằm trải mình trên một cái giường ấm cúng, tiện nghi và sang trọng, có mùi thơm của gỗ trầm phảng phất, đắp lên mình một tấm chăn bông mịn màng, nhẹ nhàng, êm ấm, và gối đầu trên những cái gối dồn lông thiên nga mềm mại.
Này cô, cô không nên phí phạm tuổi xuân để sống đời thanh khiết phạm hạnh, vì rồi đây cô sẽ già nua, suy nhược, tàn tạ như một hoa sen héo tàn trong một ao đầm hoang dại.
– Này ông, nhìn vào phần nào trên cơ thể phù du yếu ớt này mà ông thấy thích thú? Có gì mà ông xem là dễ mến trong cái thân nhơ bẩn hôi thúi này?
– Ôi! Ðôi mắt cô dễ mến như đôi mắt một con hưu con rụt rè e sợ, tinh anh như hai vì sao sáng. Nhìn vào đó lòng tôi tê tái, tràn đầy khát vọng. Gương mặt cô còn tươi đẹp hơn vầng trăng rằm, thân hình cô còn sống động hơn pho tượng vàng rực rỡ. Nhìn vào đó lòng tôi rung cảm đê mê. Nhưng riêng về đôi mắt ngọc của cô, đối với tôi thật là vô giá. Trên thế gian này không có chi mà tôi yêu quý bằng đôi mắt của cô.
– Ông chận đường một sư cô xuất gia sống đời phạm hạnh. Ước vọng của ông thật điên rồ, và ông đang dấn bước trên con đường nguy hại. Lòng khao khát dục vọng thấp hèn của ông sẽ bị luật vua phép nước trừng phạt. Ai cũng biết đức vua Bimbisara là tín đồ trung thành của đức Bổn sư Gotama. Dù có trốn thoát luật vua phép nước, thì lương tâm ông cũng không bao giờ được yên ổn. Sau khi mạng chung, ông sẽ sa vào hỏa ngục để chịu hình phạt giường sắt, trụ đồng.
Này ông, ông đừng dùng lời ngon ngọt và các thứ dục lạc ở thế gian để cám dỗ tôi vô ích. Tôi không còn biết tham dục là gì. Hạnh phúc của tôi là Con Ðường Cao Thượng đang mở ra trước mắt, đưa tới giác ngộ và giải thoát. Nếu muốn, ông hãy đi cám dỗ người đàn bà nào chưa có đủ sáng suốt để thấy thân này là nhơ bẩn, là giả tạm, và cuộc đời này là vô thường, khổ, không, vô ngã.
Tôi là đệ tử của đức Phật, người đã vượt ra ngoài mọi ô nhiễm, đã tận diệt mọi ái dục, và đang dùng thuyền Bát-Nhã đưa tôi thẳng tiến đến Niết-Bàn. Những mũi tên tham dục không còn chạm được đến tôi. Tôi chỉ thích sống những nơi thanh vắng để dễ trở về bản thể Chơn Như tịch tĩnh.
Này ông, ông cố bám vào thân này như một vật quý báu thường còn và thuộc về của riêng ông, trong khi nó vốn là bọt bèo, là bong bóng. Tấm thân phù du tạm bợ này tựa hồ như trò chơi của nhà ảo thuật. Ðôi mắt này cũng chỉ là hai cái bong bóng chứa đầy nước mắt, chất nhờn và máu mủ. Nếu chỉ vì đôi mắt này mà ông chận đường tôi thì tôi cũng không tiếc rẻ gì.
Nói đến đây, sư cô Subha hồn nhiên đưa tay lên móc hai trồng con mắt ra đưa cho tên du đãng, sư cô nói:
– Ðây, hai con mắt của tôi đây. Ông hãy lấy đi, rồi tránh đường cho tôi đi.
Tên du đãng hoảng hốt, la lên:
– Ối! Này sư cô! Bậc thánh thiện thanh cao! Tôi đã lỡ lầm phạm tội lớn. Ngưỡng nguyện sư cô được an lành! Cầu xin mắt sư cô được hồi phục! Tôi không bao giờ còn dám tái phạm tội ác như thế này nữa. Cúi xin sư cô khoan dung tha lỗi cho tôi.
Nói xong, tên du đãng bỏ chạy mất. Sư cô Subha lần mò tìm đến am Phật trong vườn xoài của y sĩ Jivaka. Ðứng trước đức Bổn sư, sư cô ngước mặt nhìn lên, bỗng nhiên nhãn quan của sư cô được phục hồi như xưa[37], và cô chứng được quả vị A-la-hán.
Sau khi nghe sư cô Subha kể lại câu chuyện thương tâm này, đức Phật ra lệnh từ nay các nữ khất sĩ không được đi đâu một mình, bất cứ đi khất thực, vào thôn xóm, lội qua sông, băng qua một cánh đồng hay một khu rừng. Lúc ngủ cũng phải ngủ chung với một nữ khất sĩ khác để có thể bảo vệ cho nhau.
Phật nói kinh Phạm Võng (Brahmajala-sutta)
Giữa mùa xuân năm 566 trước tây lịch, đức Phật bắt đầu lên đường đi về phương bắc, chuẩn bị trở về Jetavana nhập hạ thứ 24. Trên đường đi, trong lúc các vị khất sĩ im lặng theo dõi hơi thở để nuôi dưỡng chánh niệm, thì phía sau lưng đoàn khất sĩ có hai thầy trò du sĩ Suppiya cùng đi theo. Hai người nói chuyện với nhau về đức Phật và giáo pháp của ngài. Họ cố ý nói lớn tiếng để các vị khất sĩ có thể nghe được. Suppiya thì nêu lên những dư luận và lý lẽ để kích bác đức Phật và giáo pháp của Phật. Trái lại đệ tử của ông là Brahmadatta thì lại hết lòng bênh vực Phật và giáo pháp của Phật, lại còn khéo léo dùng lời lẽ và thí dụ cụ thể để tán dương Phật, làm cho các vị khất sĩ đang đi phía trước đều có cảm tình với chàng.
Chiều hôm ấy, Phật và các vị khất sĩ vào nghỉ đêm tại khu rừng Ambalatthika, gần Nalanda. Khu rừng này là nơi nghỉ mát của hoàng gia. Vua Bimbisara đã cho phép các tu sĩ, bất cứ thuộc giáo phái nào cũng có thể tạm sử dụng khu rừng Ambalatthika để nghỉ ngơi. Ðêm đó hai thầy trò Suppiya cũng nghỉ đêm tại đây.
Sáng hôm sau, các vị khất sĩ bàn tán với nhau về thái độ hôm qua của hai thầy trò Suppiya. Nghe được những lời bàn tán ấy, Phật bảo:
– Này các thầy, khi nghe người ta công kích, phỉ báng Như Lai hay giáo pháp, hay giáo đoàn khất sĩ, các thầy không nên sanh lòng công phẩn hay phiền muộn. Vì điều ấy có hại đến tâm thanh tịnh của các thầy. Khi nghe người ta khen ngợi Như Lai hay khen ngợi giáo pháp và giáo đoàn khất sĩ, các thầy cũng không nên mừng rỡ, thích thú và mãn nguyện. Vì điều ấy cũng có hại đến tâm thanh tịnh của các thầy. Các thầy chỉ nên bình tâm nhận xét xem những lời chỉ trích hay những lời khen ngợi đó đúng hay sai, đúng ở chỗ nào, sai ở chỗ nào, để mình có dịp học hỏi thêm.
Này các thầy, phần lớn những người khen ngợi Tam Bảo chỉ thấy được cái hay cái đẹp nhỏ bé bề ngoài như nếp sống phạm hạnh, công phu trì giới, lối sống đạm bạc, thái độ thanh nhàn của chúng ta mà thôi. Ít người thấy được phần trí tuệ, giác ngộ và giải thoát là phần cốt tủy của giáo pháp. Chỉ có người thực tu thực chứng mới biết được giá trị siêu thoát của phần này.
Này các thầy, trong thế gian có bao nhiêu chủ thuyết và bao nhiêu luận chấp, Như Lai đều rõ biết cả. Các giáo phái không ngớt tranh luận và đả kích nhau vì sự khác biệt giữa các chủ thuyết và luận chấp. Nhưng dù cho có nhiều khác biệt đến đâu cũng không ra khỏi 62 luận chấp căn bản. Hằng ngàn chủ thuyết triết học và tôn giáo hiện nay cũng chỉ quanh quẩn trong 62 luận chấp căn bản đó cho nên đều có những chỗ kẹt và những chỗ sai lầm. Chỉ có giáo pháp giác ngộ và giải thoát là vượt ra ngoài tất cả những chỗ kẹt và sai lầm của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, vì giáo pháp giác ngộ có đặc tính giải thoát tri kiến[38].
Rồi Phật nói kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến[39] (Brahmajala-sutta), phân tách nội dung của cả 62 kiến chấp và vạch ra những chỗ sai lầm của các kiến chấp này. Trong 62 kiến chấp (pubbantakappika) có[40]:
· 18 kiến chấp về ngã (atman) và thế giới (loka) trong quá khứ, gồm:
4 chủ trương ngã và thế giới là thường trụ,
4 chủ trương ngã và thế giới vừa là thường trụ vừa là vô thường,
4 chủ trương ngã và thế giới là hữu biên, là vô biên, là vừa hữu biên vừa vô biên, là không hữu biên cũng không vô biên,
4 chủ trương ngụy biện, không có giải đáp rõ ràng,
2 chủ trương ngã và thế giới phát sanh không do nguyên nhân nào cả.
· 44 kiến chấp về ngã trong tương lai, gồm:
16 chủ trương ngã là tri giác còn lại sau khi chết,
8 chủ trương ngã không còn tri giác sau khi chết,
8 chủ trương ngã không phải còn cũng không phải không còn tri giác sau khi chết,
7 chủ trương đoạn diệt, sau khi chết không còn ngã,
5 chủ trương Niết-bàn vừa là thú vui ngũ dục vừa là thú vui thiền định trong đời này.
Sau khi phân tách và trình bày những chỗ sai lầm của 62 kiến chấp, Phật nói:
– Hàng trăm hàng ngàn học thuyết hiện hành đang tranh chấp lăng xăng trong giới triết học và tôn giáo hiện nay đều nằm kẹt trong màng lưới của 62 kiến chấp nói trên, không thể nào vượt thoát ra nổi. Này các thầy, các thầy đừng đi vào cái lưới mê hồn ấy để mất hết thì giờ và cơ hội tu tập đạo giải thoát. Ðừng đi vào màng lưới của sự hý luận.
Này các thầy, tất cả những kiến chấp kia đều phát sinh do sự lừa gạt của tư tưởng, tri giác và cảm thọ. Vì không tu tập chánh niệm và quán chiếu nên người ta không biết được chân tướng của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, do đó đã bị tư tưởng, tri giác và cảm thọ lừa gạt. Một khi thấy được nguồn gốc và bản chất của tư tưởng, tri giác và cảm thọ, người ta sẽ thấy được tự tánh vô thường và duyên sinh của sự vật. Một khi thấy được tự tánh vô thường và duyên sinh của sự vật, người ta mới thấy được Chơn Như Tánh thường, lạc, ngã, tịnh, và không còn vướng mắc vào tham ái, lo âu, sợ hãi. Lúc bấy giờ mọi kiến chấp, luận chấp đều là trò hý luận, không có nghĩa lý chân thật.
Sau khi nghe Phật giảng kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến, thầy Ananda thấy lòng nhẹ nhỏm, không còn thắc mắc gì về các lý thuyết của lục sư ngoại đạo nữa.
Lục sư ngoại đạo[41]
Ðại đức Svastika vừa nghe Phật giảng về 62 kiến chấp, trong đó có các kiến chấp của sáu giáo phái ngoại đạo thời bấy giờ, nhưng thầy chưa hiểu rõ. Thầy tìm đến Thượng tọa Moggallana để nhờ chỉ rõ thêm về các kiến chấp của lục sư ngoại đạo.
Thượng tọa Moggallana nói cho Svastika biết là tôn giáo cổ xưa nhất ở Ấn độ là Bà-la-môn giáo[42] (Brahmana) lấy kinh Veda (Vệ-đà, Phệ-đà) làm gốc, chủ trương đa thần. Theo kinh Rig Veda (Lê-câu Phệ-đà) thì thế giới được chia ra thành ba cảnh giới: Trời, Hư-không và Ðất. Mỗi cảnh giới đều có 11 vị thần. Cảnh giới Trời có 11 vị Thiên thần. Cảnh giới Hư-không có 11 vị Hư-không thần. Cảnh giới đất có 11 vị Ðịa thần. Sinh hoạt của Bà-la-môn giáo lấy sự cúng tế làm trọng tâm, vì cúng tế được xem là phương tiện duy nhứt để tiếp xúc với các vị thần linh gieo họa hoặc giáng phúc. Ngoài ra các tu sĩ Bà-la-môn cũng phải biết bói toán và tướng số. Dòng tu sĩ Bà-la-môn là do cha truyền con nối, người thuộc giai cấp khác không thể trở thành tu sĩ Bà-la-môn. Người tu sĩ Bà-la-môn được đầy đủ các ưu đãi về địa vị, uy quyền và tài chánh trong xã hội.
Vào thế kỷ thứ 7 trước tây lịch, ở Ấn-độ có 6 giáo phái nổi lên chống lại tư-tưởng cổ truyền của Bà-la-môn giáo, và tạo được uy thế rất mạnh trong dân chúng. Vì 6 giáo phái này không thuộc Phật giáo nên trong kinh Phật gọi là “lục sư ngoại đạo” để tránh sự lầm lẫn với Phật giáo. Lục sư ngoại đạo gồm có:
1- Sanjaya-Belatthiputta (San-xà-da Tỳ-la-chi-tử): Hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana ở trong giáo phái này trước khi xuất gia theo Phật. Giáo phái này chủ trương Bất-khả-tri (Hoài nghi) và Thích-ứng. Họ cho rằng tri thức con người không thể đạt được chân lý tuyệt đối (Bất khả tri). Cho nên chỉ có chân lý tương đối tùy theo hoàn cảnh, không gian và thời gian. Chân lý trong hoàn cảnh này, ở thời gian này, ở địa phương này có thể không phải là chân lý trong hoàn cảnh khác, hoặc trong thời gian khác, hoặc ở địa phương khác. Người tu không cần cầu đạo cao siêu, không cần tìm hiểu chân lý tuyệt đối, vì có tìm cũng không hiểu nổi, chỉ cần ăn ở hiền lành theo phong tục, tập quán của địa phương mình, trải qua 8 muôn kiếp tự nhiên chứng đắc.
2- Ajita-Kesakambala (A-kỳ-đa Xí-xá-khâm-bà-la): Giáo phái này chủ trương Duy-vật, Ðoạn-diệt và Khoái-lạc, phủ nhận lý nhân quả. Họ cho rằng con người do bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa tạo thành. Sau khi chết bốn yếu tố đó tan rã, không còn gì khác. Không có thiện ác, họa phước, nhân duyên, quả báo, quá khứ, vị lai gì cả. Theo phái này, mục đích của đời người là hưởng lạc thú khi còn đang sống.
3- Makkhali-Gosaleiputta (Mạt-già-lê Câu-xá-lê-tử): Giáo phái này ra đời ở Sravasti, chủ trương thuyết Tự-nhiên. Thế giới và chúng sanh đều sanh ra theo luật Tự nhiên. Các khổ vui và vận mạng con người đều do những quy luật vận hành tự nhiên. Con người không thể cưỡng lại được, tốt hơn hết là nên vui vẻ thuận theo luật vận hành tự nhiên đó.
4- Purana-Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp): Giáo phái này chủ trương không có giá trị Ðạo-đức, không có nghiệp báo thiện ác. Quan niệm thiện ác chỉ là một nhận thức sai lầm do con người bày đặt ra để lừa gạt.
5- Pakudha-Kaccana (Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên): Giáo phái này chủ trương con người không thật có, mà chỉ là sự phối hợp của 8 yếu tố bất sanh bất diệt là đất, nước, gió, lửa, không gian, khổ, vui và linh hồn. Sống và chết chỉ là sự quy tụ hay phân tán của 8 yếu tố bất diệt đó. Mạng sống và khổ vui của con người đều do Tự-Tại-Thiên (Para-nimmita-vasa-vattin) tạo ra và quyết định.
6- Nigantha-Nataputta (Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử): Ông sanh trưởng ở ngoại ô Vesali, là khai tổ của đạo Jaina (Kỳ-na giáo) ngày nay. Ông mất năm 72 tuổi tại thành Pava, gần Kusinagar. Giáo phái này chủ trương tuyệt đối không sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, khổ hạnh tối đa nhất là về ăn uống, không mặc quần áo. Họ cho rằng vận mạng đời nay đều do đời trước tạo ra, không thể do sự tu hành mà thay đổi được. Tu hành trong kiếp này là để tạo phước cho đời sau.
Thượng tọa Moggallana nói:
– Này Svastika, Bà-la-môn giáo tuy là tôn giáo cổ xưa nhất, nhưng chỉ dành độc quyền cho những người thuộc dòng dõi giai cấp Bà-la-môn. Những người thuộc giai cấp khác không thể trở nên tu sĩ Bà-la-môn. Ðó là một hình thức độc tài phi lý, vì không phải tất cả những người thuộc giai cấp Bà-la-môn đều toàn thiện, cũng không phải tất cả những người thuộc các giai cấp khác đều bất thiện. Tu sĩ Bà-la-môn chỉ lo các nghi lễ cúng tế để cầu tránh tai họa, được phước báo, được sanh về cõi trời Phạm Thiên. Như vậy là phủ nhận giá trị nội tại của con người. Trái lại chính giá trị đạo đức trong tâm con người mới thật sự đáng quý, mới có thể nâng cao con người lên bậc thánh.
Này Svastika, giáo pháp của Sanjaya-Belatthiputta chỉ có thể giúp người tu trở thành một con người tốt trong xã hội, không thể giúp người tu đạt được giác ngộ và giải thoát.
Này Svastika, giáo pháp của Ajita-Kesakambala không khéo chỉ tạo nên những con người đồi trụy, chỉ biết thụ hưởng dục lạc thấp hèn, không biết trau giồi những đức tánh cao thượng.
Này Svastika, theo giáo pháp của Makkhali-Gosaleiputta thì việc tu hành như lục bình trôi trên sông, cứ thả trôi theo dòng đời sanh già bệnh chết, không nên có sáng kiến, không cần khổ công học tập hay xây dựng bất cứ cái gì, vì tất cả đều do luật tự nhiên điều động.
Này Svastika, theo Purana-Kassapa thì không cần tu vì không có gì là thiện, không có gì là ác, ai muốn làm gì cứ làm. Giáo lý này chỉ đưa đến một xã hội rối loạn, đầy dẫy trộm cướp và giặc giã.
Này Svastika, theo Pakudha-Kaccana thì sự sống và những khổ vui ở thế gian đều do Tự-tại-thiên tạo ra và quyết định. Như vậy con người chẳng khác nào con cờ của Tự-tại-thiên. Con người không thể có sáng kiến và không có quyền quyết định gì cả, tất cả đều do Tự-tại-thiên điều khiển. Con người không có trách nhiệm gì cả.
Này Svastika, giáo phái Nigantha-Nataputta có nhiều điểm hay như cấm sát sanh, cấm giết sinh vật để cúng tế, chuyên tu khổ hạnh, thiểu dục tri túc, nhưng vẫn còn kẹt trong những kiến chấp nên không thể đạt đến giải thoát. Vì còn kiến chấp nên thiếu tinh thần tùy thuận, hỷ xả. Do kiến chấp nên họ chủ trương tuyệt đối không mặc y phục. Rốt cuộc sự lõa thể của họ làm chướng mắt những người trần tục. Và khi giáo pháp của họ được truyền đến các vùng băng giá ở Himalaya, các tu sĩ tại đây cũng phải mặc y phục màu trắng để chịu đựng khí lạnh. Ngoài ra họ cho rằng sống kiếp này là để trả các nghiệp đã tạo ra trong đời trước, như vậy chẳng khác nào nói kiếp này mình bị tù vì đời trước mình ăn trộm.
Ðại đức Svastika cám ơn Thượng tọa Moggallana, rồi suốt ngày hôm ấy thầy trầm ngâm suy nghĩ mới thấy giáo pháp của đức Phật thật là cao siêu, vượt ra ngoài mọi kiến chấp và luận chấp. Giáo pháp của đức Phật giúp cho người tu tự giải thoát tri kiến của mình, trước khi tự giải thoát ra khỏi sanh tử luân hồi.
Balaka Upali[43] thuộc ngoại đạo Nigantha xin xuất gia theo Phật
Upali là một cư sĩ thông minh và giàu có vào bậc nhất ở thành phố Balaka, thuộc miền bắc nước Magadha. Do đó người ta gọi ông là Balaka Upali để khỏi lẫn lộn với những người tên Upali khác. Ông là thí chủ lớn nhất của giáo phái Nigantha Nataputta. Giáo phái này, lúc bấy giờ, được rất đông dân chúng tín mộ.
Lúc ấy vào giữa mùa xuân, Phật đang cư trú trong vườn xoài của ông Pavarika ở Nalanda. Một hôm, đạo sĩ Digha Tapassi, một cao đệ của giáo chủ Nigantha Nataputta, nhân đi khất thực ở Nalanda, đã ghé vào thăm Phật để đàm luận về đạo lý. Qua câu chuyện, đạo sĩ Tapassi nói:
– Này sa-môn Gotama, trong giáo pháp của chúng tôi không dùng danh từ hành nghiệp (karmani) mà chỉ dùng danh từ tội báo (dandani). Tội báo có nặng, có nhẹ. Nặng nhất là các tội do thân tạo.
– Này Tapassi, theo giáo pháp của chúng tôi thì ý nghiệp mới là quan trọng nhất, vì ý là gốc, là chủ của hành động.
Tapassi buộc Phật phải lập lại điều này ba lần để sau này không thể chối cãi. Sau đó ông kiếu từ ra về. Ông tìm đến giáo chủ Nataputta, kể lại chi tiết của cuộc đàm thoại. Nataputta cười lớn, nói:
– Sa-môn Gotama đã lầm lẫn nghiêm trọng. Tội trong tâm ý và nơi lời nói chưa hẳn là tội. Chỉ những tội do thân thể gây nên một cách cụ thể mới là quan trọng. Ví như khi người ta đang nghĩ hoặc nói đến giết người mà chưa thực hành thì đâu có tội. Chỉ khi nào đã thật sự giết người thì tội trạng mới rõ ràng, không chối cãi được. Này Tapassi, thầy đã nắm được yếu chỉ giáo pháp của ta.
Trong lúc Nataputta và Tapassi nói chuyện, có nhiều cư sĩ có mặt, trong đó có Balaka Upali. Nghe tới đây, Balaka Upali xin tình nguyện đến gặp Phật để đối chất và chỉ rõ chỗ sai của Phật. Giáo chủ Nataputta đồng ý, nhưng Tapassi e ngại Upali sẽ bị Phật chinh phục. Nataputta cười nói:
– Này Tapassi, thầy đừng ngại cư sĩ Upali sẽ trở thành đệ tử của Gotama. Trái lại, có thể Gotama sẽ trở thành đệ tử của Upali, không biết chừng.
Tapassi cố ngăn nhưng không được. Balaka Upali đến gặp Phật và cuộc đàm đạo giữa hai người rất là hào hứng. Ðây là lần đầu tiên nhà trí thức này gặp Phật. Qua bảy thí dụ liên tiếp, Phật chỉ cho Upali thấy ý là căn bản của tội. Biết rằng giáo phái Nigantha trì giới sát sanh rất kỹ lưỡng, Phật hỏi:
– Này Upali, trong khi đi đường, nhiều người không cố ý mà không tránh khỏi dẫm đạp lên các loài côn trùng thì có phạm tội không?
– Trong trường hợp này, giáo chủ Nataputta bảo rằng vì không cố ý đạp nên không có tội.
– Này Upali, như vậy là giáo chủ Nataputta đã nhìn nhận ý là căn bản của tội rồi.
Ðến đây, Upali không còn tìm cách ngụy biện được nữa. Ông nhìn nhận là qua những thí dụ đầu tiên ông đã thấy là Phật có lý rồi. Ông rất khâm phục đức độ và tuệ giác của Phật. Ông liền đảnh lễ Phật, xin làm đệ tử. Phật nói:
– Này Upali, ông hãy suy nghĩ cho thật kỹ. Một người có tên tuổi như ông không thể quyết định một cách vội vã được. Ông hãy trở về suy nghĩ cho chín chắn trước đã.
– Bạch Thế Tôn, con đã suy nghĩ chín chắn lắm rồi. Xin Thế Tôn cho con quay về nương tựa Phật, Pháp, Tăng. Con rất mừng đã tìm được con đường đạo lý chân chính. Con rất mừng được gặp Thế Tôn.
– Này Upali, bấy lâu nay ông đã là một thí chủ lớn cho giáo phái Nigantha. Vậy đừng vì theo tôi mà ngưng việc cúng dường các thầy bên đó.
– Thế Tôn thật là cao cả. Giáo chủ Nigantha không được như thế đâu.
Nghe tin Upali đã theo Phật, Tapassi đến báo cho giáo chủ Nataputta. Ông này không tin. Cả hai tìm tới nhà Upali để được chính Upali cho biết sự thực.
Ðược tin này, các vị khất sĩ rất vui mừng. Phật bảo:
– Này các thầy, đáng mừng hay không là ở chỗ các thầy có tu học tinh tấn hay không. Chúng ta không nên vui buồn theo sự thịnh suy. Chúng ta nên thản nhiên trước cái suy cũng như trước cái thịnh.
Thanh niên Bà-la-môn Sonadanta vấn đạo[44]
Sau khi thăm viếng và giáo hóa tại Nalanda, Phật đi về hướng đông, đến Campa, thủ đô xứ Anga, cách Nalanda 150 km. Campa hiện nay là thành phố Bhagalpur. Xứ Anga nằm dưới quyền bảo hộ của vua Bimbisara. Dân cư ở đây đông đúc, ruộng đất phì nhiêu, hoa màu tươi tốt. Phật cư trú trong một khu rừng mát mẻ, bên cạnh hồ Gaggara. Trong hồ, hoa sen nở thơm ngát.
Nghe tin Phật ngụ tại bờ hồ Gaggara, dân chúng lũ lượt đến thăm viếng, cúng dường và nghe thuyết pháp. Sonadanta là một thanh niên dòng Bà-la-môn, nổi tiếng thông minh xuất chúng tại địa phương, cũng có ý muốn đi viếng Phật. Những người Bà-la-môn khác ngăn cản, nhưng Sonadanta mỉm cười bảo rằng Phật là một nhân vật lỗi lạc, trên đời ít có, nếu không đến gặp thì thật là bỏ phí cơ hội ngàn năm một thuở. Ông nói:
– Tôi phải đi đến đó để học hỏi chứ. Ðể biết ai hơn ai ở những điểm nào.
Nghe Sonadanta nói quả quyết như vậy, giới trí thức rủ nhau đi theo ông ta rất đông để được nghe cuộc tranh luận giữa hai người. Lúc đến nơi, sau khi chào hỏi, Sonadanta mở lời:
– Thưa sa-môn Gotama, chúng tôi được nghe danh tiếng của sa-môn từ lâu, hôm nay chúng tôi đến đây để được học hỏi giáo pháp của ngài. Không biết giáo pháp của ngài có những đặc điểm gì?
– Thưa quý vị, trước khi nói đến giáo pháp của chúng tôi, tôi cũng muốn được biết cái hay trong giáo pháp của quý vị. Xin quý vị cho tôi biết một tu sĩ Bà-la-môn chân chính phải như thế nào?
– Này sa-môn Gotama, một tu sĩ Bà-la-môn chân chính cần phải có đủ năm điều kiện sau đây: Thứ nhất là phải có dung nhan đẹp đẽ, thứ hai là phải biết kỹ thuật xướng tụng kinh chú Veda, thứ ba là phải có huyết thống thuần túy Bà-la-môn trong bảy đời, thứ tư là phải có đức hạnh, thứ năm là phải có trí tuệ.
– Trong năm điều đó, điều nào là căn bản, điều nào là thứ yếu?
– Tất cả năm điều kiện đều quan trọng như nhau, không thể thiếu một điều kiện nào cả.
– Này Sonadanta, ông nghĩ sao? Nếu có vị Bà-la-môn đầy đủ đức hạnh, trí tuệ hơn người, xướng tụng kinh chú thật hay, thì vị đó có làm tròn sứ mạng tu sĩ của ông ta không? Ông ta có phải là một tu sĩ Bà-la-môn chân chính không?
– Cũng được, nhưng dù sao nếu có thêm dung nhan đẹp đẽ và huyết thống thuần túy vẫn hơn.
– Này Sonadanta, nếu có vị Bà-la-môn có dung nhan đẹp đẽ, huyết thống thuần túy, nhưng thiếu đạo đức và trí tuệ thì ông nghĩ sao? Vị đó có làm tròn sứ mạng tu sĩ Bà-la-môn không?
– Dĩ nhiên là không thể làm tròn sứ mạng của một tu sĩ nếu thiếu đạo đức và trí tuệ.
– Này Sonadanta, vậy ông có nhìn nhận là điều kiện đạo đức và trí tuệ quan trọng hơn điều kiện dung nhan và huyết thống không?
– Thưa sa-môn, đúng như vậy.
Nói đến đây, gần 500 vị Bà-la-môn có mặt đưa tay lên phản đối Sonadanta. Họ kết tội Sonadanta đã bị Phật đưa vào bẫy phải chấp nhận điều kiện huyết thống không quan trọng. Phật can thiệp:
– Này quý vị quan khách, nếu quý vị có lòng tin nơi người đại diện của quý vị là Sonadanta, thì xin quý vị im lặng để tôi tiếp tục nói chuyện với ông ta. Còn nếu quý vị không có lòng tin nơi ông ta, thì quý vị hãy bảo ông ta im lặng để tôi nói chuyện với quý vị.
Mọi người trở lại im lặng. Sonadanta nói:
– Xin sa-môn Gotama cho phép tôi có đôi lời nói với các bạn tôi.
Rồi Sonadanta quay lại với 500 vị Bà-la-môn. Ông ta chỉ vào một thanh niên ngồi hàng đầu và nói:
– Các bạn có thấy cháu tôi là Angaka đang ngồi kia không? Angaka là một thanh niên tuấn tú, khôi ngô, phong thái trang nhã. Về dung nhan ít ai sánh kịp Angaka. Angaka lại thông hiểu ba bộ kinh Veda, văn phạm, ngữ pháp và kỹ thuật xướng tụng kinh chú, điều này ai cũng biết. Angaka cũng có huyết thống thanh tịnh cho đến bảy đời, kể cả bên cha lẫn bên mẹ. Nhưng giả sử Angaka giết người, trộm cướp, tà dâm, nói dối, uống rượu, thì các bạn có chấp nhận cho Angaka làm tu sĩ Bà-la-môn không? Thưa các bạn, điều kiện đức hạnh và trí tuệ mới đích thực quan trọng. Ðây là sự thực chung cho tất cả mọi người chứ không phải sự thực riêng của sa-môn Gotama.
Sonadanta nói tới đây thì tiếng hoan hô lại nổi lên vang dậy. Ðợi cho tiếng hoan hô chấm dứt, Phật hỏi Sonadanta:
– Nhưng trong hai điều kiện còn lại là giới hạnh và trí tuệ, ta có thể bỏ bớt một điều để chỉ giữ lại một điều không?
– Thưa sa-môn Gotama, không thể được. Vì nhờ giới hạnh tinh nghiêm mà trí tuệ được phát triển; nhờ trí tuệ phát triển mà giới hạnh càng tinh nghiêm. Cũng như lấy tay để rửa tay, lấy chân để kỳ cọ chân. Giới hạnh và trí tuệ phải nương nhau mà phát triển, không thể thiếu một.
– Ðúng như vậy, Sonadanta, giới hạnh và trí tuệ phải nương nhau mà phát triển. Nhưng làm sao để phát triển giới hạnh và trí tuệ đến mức độ cao nhất?
– Phải xướng tụng kinh chú Veda theo đúng kỹ thuật và càng nhiều càng tốt.
– Này Sonadanta, ông nói phải xướng tụng kinh chú Veda theo đúng kỹ thuật. Vậy theo đúng kỹ thuật là như thế nào?
– Phải có giọng tốt, phải biết chỗ nào lên cao, chỗ nào xuống thấp … cho âm thanh hòa hợp với nghĩa lý, vừa gây tác động mạnh vào tâm trí người nghe, vừa cảm ứng đến chư thiên.
– Này Sonadanta, theo như ông vừa nói thì người tu sĩ chỉ đóng vai trò trung gian giữa con người và chư thiên. Chưa phải là phương pháp hay nhất để phát triển giới đức và trí huệ. Này Sonadanta, muốn phát triển giới đức và trí huệ đến mức tối đa phải thực hành ba vô-lậu-học là Giới, Ðịnh và Huệ. Tu giới để được định, tu định để được huệ, rồi dùng huệ để phát triển giới. Giới càng thanh tịnh thì định lực càng vững, định lực càng vững thì trí huệ càng lớn. Này Sonadanta, muốn thành tựu giới đức và trí huệ lại phải thực hành minh-sát-tuệ (vipassana) để biết những gì là đau khổ, những gì là nguồn gốc của đau khổ, làm sao để dứt trừ nguồn gốc của đau khổ, để biết được thật tướng của tất cả sự vật ở đời, để biết tất cả sự vật ở đời đều là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã, để không còn tham lam, giận tức, si mê, để tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc ở thế gian, để được tự tại vô ngại thành bậc A-la-hán.
Này Sonadanta, đó là phương pháp tự tu tự chứng, tự phát triển giới đức và trí huệ của mình đến mức tối đa. Không phải nhờ cầu khẩn chư thiên mà được.
Sonadanta và 500 người Bà-la-môn chăm chú ngồi nghe một cách say sưa. Khi Phật dứt lời, Sonadanta nghiêm chỉnh đứng dậy chấp tay nói:
– Bạch sa-môn Gotama, hôm nay, nhờ nghe những lời chỉ dạy của sa-môn, con cảm thấy như người ở nơi tăm tối vừa được ngọn đèn sáng, như người lạc trong rừng vừa thấy lối ra. Con xin cám ơn sa-môn đã mở mắt cho con. Con xin được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Con xin được làm môn đệ của ngài. Con kính thỉnh Thế Tôn và giáo đoàn ngày mai tới nhà con thọ trai.
Ðức Phật gật đầu chấp thuận. Hằng trăm người bạn của Sonadanta cũng xin quy y Tam Bảo. Sau đó ít lâu, tại làng Lechanankala ở xứ Kosala, một thanh niên Bà-la-môn nổi tiếng khác tên Ambattha lại cùng với thầy là Pokkharasadi xin quy y Tam Bảo sau khi đến viếng thăm và đàm đạo với Phật. Uy tín của Phật và giáo đoàn càng lên cao càng gây thêm nhiều ganh tị và bực tức trong các giáo phái khác.
[1] Theo : Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng Vương 9; Kinh Quán Phật Tam Muội Hải 2; Ðại Ðường Tây Vực Ký 7; Kinh Ðại Bát Niết Bàn, phẩm Phạm Hạnh, trang 436.
[2] Theo kinh Quán Phật Tam Muội Hải thì quỷ Alavaka có 1 cổ, 6 đầu, 6 mặt, đầu gối có 2 mặt, toàn thân có lông như mũi tên, hể thân cử động thì lông bắn ra như tên, cặp mắt đỏ ngầu luôn luôn có máu rịn chảy ra, thích uống máu và ăn thịt sống.
[3] Có lẽ đây là lý do vì sao ở chùa, vào mỗi buổi ngọ trai thường có một vị tăng đem ít thức ăn ra ngoài trời cúng thí thực.
[4] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 330-334.
[5] Xem Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 522-528.
[6] Câu chuyện này còn gọi là “Phá nhan vi tiếu”. Ý nói ngài Mahakassapa miệng mỉm cười, mặt rạng-rỡ.
[7] Nguyên văn chữ Hán “Ngô hữu chánh pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn, kim phú Ma-Ha-Ca-Diếp”. Có nghĩa là: Ta có “pháp môn vi diệu” gọi là “kho tàng hiểu biết về chánh pháp”, cũng gọi là “tâm nhiệm mầu đầy đủ các đức tính thường lạc ngã tịnh của cảnh giới niết-bàn”, cũng gọi là “thật tướng của tất cả các pháp đều là vô tướng”, nay ta truyền cho ông Ma-Ha-Ca-Diếp.
[8] Lúc quy y Tam Bảo, ngườI cư sĩ Phật tử được ban Pháp-danh. Người xuất gia được ban Pháp-tự.
[9] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 6-14; Majjhima-nikaya 86; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 120.
[10] Taxila hay Takshasila là một thành phố thuộc miền bắc Ấn-độ, hiện nay thuộc miền bắc xứ Pakistan.
[11] Thị giả (ante-vasin) là vị tăng theo hầu bên cạnh sư phụ hoặc bên cạnh một vị trưởng lão.
[12] Sunakkhatta và Upavana là con của thái tử Siddhattha với các thứ phi.
[13] Theo kinh Jataka, Bổn Sanh hay Túc Sanh Truyện, số 456; Jataka Translation, quyển IV, trang 61. Theo kinh Ðại Bát Niết Bàn, tập 2, phẩm Kiều Trần Như, trang 533, thì việc chọn ngài Ananda làm thị giả xảy ra tại thủ đô Rajagriha (Vương Xá) vào hạ thứ 31. Sau khi Phật từ chối sự tự nguyện của đại đức Kondanna và đại đức Sariputta vì lý do già yếu, 2 vị này liền cùng đại đức Moggallana khuyên đại đức Ananda nên nhận làm thị giả thường xuyên cho Phật (Theo soạn giả thuyết này không đúng).
[14] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 12; Majjhima-nikaya 86; Tạp A-Hàm 1077.
[15] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 11.
[16] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 36-37; Tăng nhất A-Hàm 26, 266.
[17] Xem Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 517-521; Buddhist Legends, quyển II, trang 258-260 và quyển III, trang 165-166; kinh Pháp Cú, bài 287.
[18] Bà Kisa-Gotami này khác với bà Kisa-Gotami gặp Thái tử Siddhattha lúc Rahula mới sanh.
[19] Trích trong Trưởng Lão Ni Kệ.
[20] Xem kinh Pháp Cú, bài 287.
[21] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 4.
[22] Xem Majjhima-nikaya 10; Digha-nikaya 22; Trung A-Hàm 98; Tăng Nhất A-Hàm XII.1
[23] Cửu tưởng quán: 1/ Thây mới chết bầm xanh, 2/ Lần lần sình chương, 3/ Kế đến nứt nẻ, 4/ Máu mủ rịn chảy ra, 5/ Da thịt rục rã, 6/ Lầy thúi, 7/ Vòi, thú đục ăn, 8/ Xương mục, 9/ Tất cả đều tiêu tan.
[24] Những Hiện Tượng Tâm Lý, theo Duy Thức Học, gồm có 8 Tâm Vương và 51 Tâm Sở. Tám Tâm Vương hay 8 Thức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt-na, a-lại-da. Năm mươi mốt Tâm Sở gồm có 5 Biệt Cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, huệ), 11 Thiện (tín, tấn,tàm, quí,vô tham, vô sân,vô si, khinh an, bất phóng dật, hành xả, bất hại), 4 Bất Ðịnh (hối, miên, tầm, tư), 5 Biến Hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư), 6 Phiền Não Ứng Khởi (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến), 20 Tùy Phiền Não (pnẫn, hận, phú, não, tật, san, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quí, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri).
[25] Bốn bậc thiền cõi sắc gồm có: sơ thiền (pathama jhana, prathama dhyana), nhị thiền (dvitiya dhyana), tam thiền (tisso jhana, tisrah dhyana) và tứ thiền (cattari jhana, catvari dhyana).
[26] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 189-191; Udana iv.8; Jataka 285; Vinaya: Maha Vagga.
[27] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 362; The Life of The Buddha của A.Foucher, trang 195.
[28] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 225-226.
[29] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 336-338.
[30] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 250-256; kinh Jataka, III 1; Therigatha (Trưởng Lão Ni Kệ).
[31] Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 111, thì Patacara là một tín nữ rất thông minh thuộc đạo Jaina. Cô thách người nào luận đạo hơn cô thì cô sẽ chịu làm vợ người đó; nếu là người xuất gia thì cô sẽ theo đạo của người đó. Cô được ngài Sariputta độ cho xuất gia theo Phật.
[32] Xem Majjhima-nikaya 62, 118; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 602.
[33] Xem Majjhima-nikaya 22; Trung A-Hàm 200.
[34] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[35] Xem Majjhima-nikaya 55: Jivaka sutta.
[36] Chuyện này được trích từ quyển Therigatha (Trưởng Lão Ni Kệ).
[37] Sư cô Subha vốn đã được tâm thanh tịnh của bậc A-na-hàm (Anagami) nên vừa mất nhục nhãn liền sử dụng ngay được thiên nhãn.
[38] Giải thoát tri kiến là đưa sự hiểu biết ra ngoài các kiến chấp có/không, phải/quấy, đúng/sai, tốt/xấu, …
[39] Kinh Brahmajala sutta này nằm trong Trường A-Hàm 14, Digha nikaya 1. Kinh Phạm Võng, Lô-xá-na Phật Thuyết Bồ-tát Tâm Ðịa Giới, Phẩm Ðệ Thập chỉ là một phẩm của kinh trước.
[40] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 200. Có thuyết cho rằng 62 kiến chấp là: 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) X 4 chấp (sắc là ngã, sắc là ngã sở, sắc ờ trong ngã, ngã ở trong sắc; thọ là …) X 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) + 2 kiến chấp (có ngã, không ngã). Tức là: 5 uẩn X 4 chấp X 3 đời + 2 kiến chấp = 62 kiến chấp.
[41] Xem Digha-nikaya 1 và 2.
[42] Bà-la-môn giáo về sau phát triển thành Ấn-độ giáo (Hinduism) ngày nay.
[43] Xem Majjhima-nikaya 56; Trung A-Hàm 133.
[44] Xem Digha-nikaya 4; Majjhima-nikaya 98.
4- Hạ thứ 24 tại Jetavana (năm -566)
Cây Bồ-đề Ananda ở tinh xá Jetavana[1]
Ðức Phật rời thủ đô Campa của xứ Anga, đi lần về hướng tây bắc, đến làng Lechanankala thuộc xứ Kosala. Rồi từ Lechanankala đến Sravasti vào đầu tháng sáu. Phật cư trú tại tinh xá Pubbarama (Ðông Viên), nơi có giảng đường Lộc-Mẫu. Bà Visakha đến viếng Phật và nói:
– Bạch Thế Tôn, ngài thường du hành hóa độ khắp nơi, chỉ về Sravasti vào trước mùa mưa. Ðệ tử chúng con nhiều khi nhớ Phật, đến tinh xá cũng không được gặp. Buồn quá, chúng con chỉ còn biết đi ba vòng xung quanh tịnh thất của Thế Tôn rồi ra về.
– Này Visakha, lúc không có Như Lai thì cũng có các thầy và các cô để bà học hỏi về giáo lý và thực hành. Ðừng vì sự vắng mặt của Như Lai mà xao lãng việc tu học.
Thượng tọa Ananda hỏi:
– Bạch Thế Tôn, những vật nào có thể dùng để chúng sanh lễ bái, cúng dường, mỗi khi tưởng nhớ đến Phật? Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy.
– Này Ananda, có ba loại. Thứ nhất là những vật có liên quan đến thân thể (Sarira, xá-lợi), thứ hai là những vật liên quan đến đồ dùng riêng (Paribhogika), thứ ba là những vật để tưởng nhớ (Uddesika). Chúng sanh có thể lễ bái, cúng dường những vật đó mỗi khi tưởng nhớ tới Như Lai.
– Bạch Thế Tôn, trong lúc Thế Tôn còn sanh tiền, có nên tạo lập hình tượng hoặc xây tháp thờ ngài không?
– Không nên. Vật để chúng sanh lễ bái cúng dường có liên quan đến thân chỉ nên được kiến tạo sau khi Như Lai nhập diệt. Vật đáng để chúng sanh lễ bái cúng dường và tưởng niệm Phật hoàn toàn thuộc về tinh thần, không có căn bản vật chất. Ba loại đồ vật kỷ niệm kể trên chỉ có tính cách tượng trưng. Nhưng cây Bồ-Ðề to lớn mà xưa kia đã có lần che mưa đỡ nắng cho Như Lai là vật đáng để chúng sanh lễ bái cúng dường, dù Phật còn tại thế hay đã nhập diệt.
– Bạch Thế Tôn, khi Thế Tôn đi thuyết pháp phương xa, tinh xá Jetavana rộng lớn không còn nơi nương tựa. Thiện tín từ xa đến Jetavana không biết hướng vào đâu để lễ bái, cúng dường. Xin Thế Tôn hoan hỷ cho phép con lấy hột của cây Bồ-Ðề mẹ tại Uruvela để gieo trồng gần cổng tinh xá Jetavana.
– Lành thay, Ananda, thầy hãy trồng đi. Làm thế ấy cũng như luôn luôn có mặt Như Lai ở tại đây[2].
Ðại đức Ananda và bà Visakha vô cùng mừng rỡ. Ðại đức Ananda nhờ Thượng tọa Moggallana mang về Sravasti một trái chín muồi từ cây Bồ-Ðề ở Uruvela. Ðại đức Ananda dâng trái chín này cho vua Pasenadi. Vua trao lại cho cư sĩ Sudatta Anathapindika trồng. Cư sĩ Sudatta trồng một cây gần cổng tinh xá Jetavana. Cây Bồ-Ðề này mang tên là cây Bồ-Ðề Ananda. Bà Visakha cũng trồng một cây gần cổng tinh xá Pubbarama (Ðông Viên).
Mười hai nhân duyên (Paticca-samuppada[3])
Một hôm, tại giảng đường ở tinh xá Jetavana, trong giờ thuyết pháp, Phật nói[4]:
– Này các vị khất sĩ, tất cả chúng sanh đều đồng có 12 nhân duyên, cũng có nội, cũng có ngoại. Mười hai nhân duyên đó là: Phiền-não quá khứ gọi là vô-minh; nghiệp quá khứ gọi là hành; trong đời hiện tại, lúc sơ khởi nhập thai gọi là thức; năm phần nhập thai, chưa đủ bốn căn (mắt, tai, mũi, lưỡi) gọi là danh sắc; khi đầy đủ bốn căn gọi là lục nhập; chưa phân biệt khổ vui gọi là xúc; biết phân biệt khổ vui gọi là thọ; thích gần ngũ dục gọi là ái; tham cầu các thứ trong và ngoài gọi là thủ; do ái thủ các thứ trong và ngoài mà khởi nghiệp thân, khẩu, ý, gọi là hữu; thức đời hiện tại gọi là vị lai sanh; hiện tại danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, gọi là vị lai lão, bệnh, tử. Tất cả chúng sanh từ sanh đến lão tử đều có đủ 12 nhân duyên như vậy; chỉ trừ những thai nhi yểu tử thời không có đủ 12. Chúng sanh cõi sắc không có 3 thứ thọ, 3 thứ xúc, 3 thứ ái, không có già, bệnh, nhưng cũng được xem là đầy đủ 12. Chúng sanh cõi vô-sắc tuy không có sắc, không có lục nhập, xúc, thọ, ái, già, bệnh, nhưng cũng được xem là đầy đủ 12, vì quyết định được như vậy. Vì thế nên nói rằng chúng sanh đồng có đầy đủ 12 nhân duyên.
Ngưng một lúc, đức Phật nói tiếp[5]:
– Này các vị khất sĩ, Như Lai nhớ kiếp trước, khi chưa thành Chánh giác, một mình ở chỗ thanh vắng, chuyên tu thiền vắng-lặng (samatha) và thiền minh-sát (vipassana), đã khởi nghĩ như sau: “Vấn đề nan giải của thế gian là sanh, già, bệnh, chết, dời đổi, thọ sanh. Nhưng chúng sanh lại cứ nương tựa, bám víu vào sự sống như không hay biết gì về những khổ nạn đó.” Ta liền khởi chánh tư duy để tìm ra nguồn gốc các khổ nạn của chúng sanh. Ta tự hỏi: “Pháp gì có nên có SANH, pháp gì làm duyên nên có SANH?” Sau khi quán chiếu tường tận, ta biết “Có HỮU[6] nên có SANH, vì duyên H_U nên có SANH”. Ta lại tự hỏi “Pháp gì có nên có HỮU, pháp gì làm duyên nên có HỮU?” Sau khi quán chiếu tường tận, ta biết “Vì có THỦ[7] nên có HỮU, duyên THỦ nên có HỮU”. Ta lại tự hỏi “Pháp gì có nên có THỦ, pháp gì làm duyên nên có THỦ?” Sau khi quán chiếu tường tận, ta biết “Do chấp giữ các pháp, đắm trước, nghĩ nhớ, vương vấn trong lòng nên ái dục tăng trưởng. Vì có Ái nên có THỦ. Ái duyên THỦ, THỦ duyên HỮU, HỮU duyên SANH, SANH duyên LÃO, BỆNH, TỬ, ưu, bi, khổ, não. Như vậy chính Ái là nguồn gốc của khổ.
Này các vị khất sĩ, các thầy nghĩ sao? Ví như nhờ dầu, tim đèn, mà đèn được đốt sáng. Nếu tăng thêm dầu và tim thì đèn có sáng lâu không?
– Bạch Thế Tôn, đúng thế. Nếu dầu và tim càng nhiều thì đèn cháy càng lâu.
– Này các vị khất sĩ, cũng như thế, nếu đối với sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà càng chấp thủ, đắm trước, nghĩ nhớ, thích thú, vương vấn, thì ái càng tăng. Mà ái càng tăng thì thủ, hữu, sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não cũng đều tăng theo. Do đó phải biết ái là nhân duyên sanh khổ.
Này các vị khất sĩ, ta lại tự hỏi “Pháp gì không nên không có lão, bệnh, tử? Pháp gì diệt nên lão, bệnh, tử diệt?”. Sau khi quán chiếu tường tận, ta biết “Nếu không có sanh thì không có lão, bệnh, tử. Nếu diệt được sanh thì lão, bệnh, tử không còn.” Ta lại tự hỏi “Pháp gì không nên không có sanh? Pháp gì diệt thì sanh diệt?” Sau khi quán chiếu tường tận, ta biết “Nếu hữu không thì sanh không; nếu hữu diệt thì sanh diệt”. Tiếp tục quán chiếu như thế, ta biết “Nếu thủ không thì hữu không, nếu ái không thì thủ không. Do đó nếu ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não đều diệt. Như vậy, muốn dứt sanh, già, bệnh, chết, khổ não, bi ai, thì trước hết phải diệt trừ tham ái.
Này các vị khất sĩ, các thầy nghĩ sao? Nếu vứt hết tim đèn, đổ bỏ hết dầu thì đèn kia còn cháy được chăng hay sẽ tắt?
– Bạch Thế Tôn, không còn tim và dầu thì ngọn đèn dĩ nhiên phải tắt.
– Ðúng vậy, này các thầy, nếu đối với các pháp các thầy đều không chấp thủ, trái lại các thầy khởi quán vô thường, bất tịnh, khổ, không, lìa dục, xả ly, diệt tận, tâm không ham muốn, không nhớ nghĩ, không đắm trước thì ái không sanh. Ðến khi ái đã dứt thì sanh, già, bệnh, chết, bi ai, khổ não không còn nương vào đâu để có mặt, để hiện hữu.
Phật nói kinh này xong, các vị khất sĩ đều hoan hỷ phụng hành.
Ðến chiều, Thượng tọa Ananda đến ngồi bên cạnh Phật, thưa:
– Bạch Thế Tôn, kinh Paticca-samuppada thật quan trọng, vì kinh này chỉ rõ pháp tu giải thoát. Nhưng con thấy kinh này không khó, rất dễ hiểu và dễ nhớ. Như thầy Svastika mới nghe lần đầu mà cũng thông suốt, không có gì thắc mắc.
– Này Ananda, thầy không nên nghĩ như thế. Kinh này thật thâm sâu khó hiểu. Thầy chỉ mới hiểu theo trình độ hiện nay của thầy mà thôi. Thầy chưa hiểu hết ý nghĩa cao siêu của kinh. Thầy nên tiếp tục quán chiếu để tìm hiểu thêm. Trí huệ như thầy Sariputta cũng còn chưa hiểu hết ý nghĩa cao siêu của mười hai nhân duyên.
Nghe đức Phật nói như thế, Thượng tọa Ananda nhớ lại cuộc đàm thoại giữa Thượng tọa Sariputta và Thượng tọa Maha-Kotthila (Maha-Câu-hy-la) cách đây vài tháng, lúc còn ở Griddhakuta (Linh Thứu). Vào một buổi chiều, sau khi tọa thiền, Thượng tọa Sariputta đến chỗ Thượng tọa Maha-Kotthila, vui vẻ hỏi thăm nhau, rồi cùng ngồi xuống đàm đạo. Thượng tọa Sariputta nói[8]:
– Này sư huynh, tôi có điều muốn hỏi, sư huynh có rảnh để giải đáp cho chăng?
– Sư huynh cứ hỏi, điều gì biết được tôi sẽ đáp.
– Thưa sư huynh, thế nào? Có già không?
– Thưa có.
– Có chết không?
– Có.
– Già chết là tự mình làm ra, hay do người khác làm ra, hay vừa tự mình vừa do người khác làm ra, hay không phải tự mình cũng không do người khác, không do ai làm ra cả?
– Thưa sư huynh, già chết không phải tự mình làm ra, không phải do người khác làm ra, không phải do mình và người khác làm ra, không phải tự mình cũng không do người khác, không do ai làm ra cả. Chỉ vì có sanh nên có già chết.
– Như vậy sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, sáu căn, danh sắc[9] là tự mình làm ra, do người khác làm ra, vừa tự mình vừa do người khác làm ra, hay không phải tự mình cũng không do người khác, không do ai làm ra cả?
– Thưa sư huynh Sariputta, danh sắc không phải tự mình làm ra, không phải do người khác làm ra, không phải vừa tự mình vừa do người khác làm ra, không do ai làm ra cả. Chỉ vì có thức[10] nên có danh sắc.
– Này sư huynh, thức là tự mình làm ra, do người khác làm ra, vừa tự mình vừa do người khác làm ra, hay không phải tự mình cũng không do người khác, không do ai làm ra cả?
– Thưa sư huynh Sariputta, thức không phải tự mình làm ra, không phải do người khác làm ra, không phải vừa tự mình vừa do người khác làm ra, cũng chẳng phải không do mình và người khác làm ra. Chỉ vì có danh sắc (6 căn và 6 trần) nên có thức.
– Thưa sư huynh Maha-Kotthila, trước đây sư huynh nói “vì có thức nên có danh sắc”. Bây giờ sư huynh lại nói “vì có danh sắc nên có thức”. Sao lại nói trái ngược như thế?
– Này sư huynh Sariputta, tôi xin nói thí dụ, người trí nghe thí dụ liền hiểu. Ví như ba cây lau được dựng chụm vào nhau nơi khoảng đất trống, nhờ nương tựa vào nhau mới có thể đứng vững. Nếu lấy bớt ra một cây thì hai cây còn lại không thể đứng được; nếu lấy bớt đi hai cây thì một cây còn lại cũng không đứng được. Ba cây lau phải nương tựa lẫn nhau mới đứng vững. Thức và danh sắc cũng vậy, chúng phải nương tựa lẫn nhau mới được sanh trưởng[11].
– Lành thay! Lành thay! Sư huynh Kotthila (Câu-hy-la), ở trong hàng đệ tử Thinh-văn của Phật, sư huynh là người trí tuệ thông đạt, khéo điều phục, không sợ hãi, thấy pháp cam lồ. Do pháp cam lồ mà chứng nghiệm đầy đủ. Này sư huynh Maha-Kotthila, với biện tài vô ngại, sư huynh đã giải đáp tất cả những câu hỏi về nghĩa lý sâu xa của mười hai nhân duyên. Như người thế gian đội ngọc quý vô giá trên đầu, tôi xin trân trọng nhận lấy những lời dạy bảo của sư huynh.
– Thưa sư huynh Sariputta, già chết là tai họa đáng chán; muốn hết già chết phải lìa dục, tận diệt tham ái. Khi biết nhàm chán sanh, hữu, thủ, ái, thọ, xúc, sáu căn, danh sắc, thức thì phải lìa dục, tận diệt tham ái. Lìa dục, tận diệt tham ái chính là vị Pháp-sư của vị tỳ-kheo đã nhàm chán già chết. Tu căn viên thông, tận diệt sáu thức là pháp môn lìa dục, tận diệt tham ái để tự giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian, ra khỏi sanh tử luân hồi. Ðó là vị Pháp-sư chân chính.
Thưa sư huynh Sariputta, trong các đệ tử Thinh văn của đức Thế Tôn, người có trí tuệ sáng suốt, khéo điều phục, không sợ hãi, thấy pháp cam lồ, do pháp cam lồ chính mình chứng nghiệm đầy đủ, đó chính là sư huynh Sariputta. Nhờ sư huynh khéo hỏi những điều sâu xa của chánh trí, quý báu như hạt châu vô giá được người thế gian trân trọng đội trên đầu, nên tôi mới có dịp trả lời và học hỏi thêm.
Thượng tọa Ananda thầm nghĩ “Hai sư huynh Sariputta và Maha-Kotthila đối đáp với nhau thông suốt như thế mà đức Phật còn bảo là chưa hiểu hết ý nghĩa của 12 nhân duyên. Vậy từ nay mỗi ngày ta nên thiền quán thêm mãi về đề tài này”.
Trong 12 nhân duyên, người tu nên chú ý đến 3 nhân duyên quan trọng nhất là Vô Minh, Thức và Ái. Vì ba nhân duyên đó dễ diệt trừ nhất để được giải thoát. Một điểm đáng chú ý khác là cái gì sanh ra vô minh? Phật nói vô minh không có gốc. Trong kinh Lăng-Nghiêm, Phật nói “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”. Có nghĩa là: Từ cái thấy biết thanh tịnh, như thật, không phân biệt, không đối đãi của Tánh Giác, mà lập ra cái thấy biết có phân biệt chủ thể và đối tượng, rồi bị vướng mắc vào 6 trần, đó là gốc của vô minh.
Muốn trừ vô minh thì phải học giáo lý để biết rõ (giác ngộ) Bản Tâm Thanh Tịnh của chúng ta, rồi tập sống hằng ngày với Bản Tâm Thanh Tịnh đó bằng cách quán chiếu vô thường, khổ, không, vô ngã.
Muốn trừ thức và ái thì phải tu Căn Viên Thông, tức phải gìn giữ cho sáu căn được thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần, không sanh ra ái, không sanh ra ý thức phân biệt.
Phật cho phép ăn sau giờ ngọ và giữ thức ăn qua đêm trong lúc bệnh
Vào mùa an cư năm nay tại Jetavana có rất nhiều vị khất sĩ mắc bệnh sốt rét. Nhiều thầy ốm-o xanh-xao, không đủ sức ôm bát đi khất thực. Họ phải nằm tại am chờ các thầy khác đi khất thực về chia xẻ thức ăn cho họ. Nhưng hầu hết thức ăn xin được là cơm hoặc bánh chapati[12] với nước cà-ri, thức ăn này quá cứng và khô đối với người bệnh. Trong trường hợp này, bà Visakha và các cư sĩ mang đến tinh xá cúng dường cháo sữa, mật ong, đề hồ và dầu ăn cho các khất sĩ bệnh nặng.
Một hôm, Phật nghe tiếng quạ kêu ran ngoài sân. Phật bước ra khỏi am thì thấy một số các vị khất sĩ đang cho quạ ăn các thức ăn rất quý đã được cúng dường đặc biệt cho người bệnh. Các vị khất sĩ này được cử ra săn sóc các bệnh nhân. Họ trình với Phật là sở dĩ phải cho quạ ăn các thức ăn quý giá này là vì có nhiều vị khất sĩ bị sốt vào buổi sáng nên không thọ thực được. Quá giờ ngọ thì họ không thể ăn được nữa. Thức ăn lại không được phép để dành qua ngày hôm sau nên phải đem ra cho quạ ăn. Do đó có vài người bệnh phải nhịn ăn luôn mấy ngày liền. Phật dạy:
– Này các thầy, từ nay, trong khi bệnh, các vị khất sĩ có quyền thọ thực sau giờ ngọ, và cũng có quyền giữ thức ăn đến ngày hôm sau, nhưng phải thông báo cho vị chúng trưởng (trưởng nhóm) biết trước.
Thượng tọa Sariputta bị vu cáo khinh khi một tu sĩ trẻ[13]
Mùa an cư thứ 24 hoàn mãn, Thượng tọa Sariputta từ giã Phật để lên đường hoằng pháp. Phật chúc Thượng tọa đi đường bình yên, thân tâm nhẹ nhàng, gặp nhiều thuận duyên trên đường giáo hóa. Thượng tọa Sariputta cảm tạ Phật, từ giả các vị khất sĩ và lên đường ngay sau đó.
Một lúc sau, có một vị khất sĩ trẻ, không được Thượng tọa Sariputta nói lời từ giả, đến gặp Phật và than phiền là thầy bị Thượng tọa Sariputta hất hủi. Phật hỏi hất hủi như thế nào. Vị khất sĩ trẻ đáp:
– Bạch Thế Tôn, hồi nảy con thấy sư huynh Sariputta sắp sửa hành trang lên đường. Con hỏi sư huynh đi đâu. Sư huynh đã không thèm đáp mà còn xô con ngã rồi bỏ đi không thèm xin lỗi.
Phật bảo thầy thị giả Ananda:
– Này Ananda, chắc Sariputta chưa đi xa đâu. Thầy hãy nhờ một chú sa-di đi tìm Thượng tọa Sariputta về đây. Tối hôm nay chúng ta sẽ họp chúng tại giảng đường để giải quyết vụ này.
Thượng tọa Ananda vâng lệnh. Chiều hôm ấy Thượng tọa Sariputta trở về tinh xá với chú sa-di. Thầy lên trình diện với Phật. Phật bảo:
– Này Sariputta, tối nay chúng ta sẽ họp tại giảng đường. Có vị khất sĩ buộc tội thầy đã xô ngã thầy ấy rồi bỏ đi không thèm xin lỗi.
Tối hôm ấy giảng đường không thiếu mặt ai. Mọi người đều muốn biết Thượng tọa Sariputta sẽ phản ứng thế nào đối với những người lâu nay đã có thái độ ganh ghét và hờn giận mình. Ai cũng biết Thượng tọa Sariputta là một đệ tử lớn của Phật, rất được Phật tin yêu, và vì vậy thầy đã là mục tiêu của nhiều sự hiểu lầm và ganh tị.
Cách đây trên tám năm, cũng tại tinh xá Jetavana, có một thầy tên là Kokalika[14] rất thù ghét hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana, không ai can ngăn được. Thầy bảo Sariputta và Moggallana đều là những người tu hành giả dối, thường hành động theo ái dục. Có lần Phật gọi thầy tới và bảo:
– Này Kokalika, đừng có nói rằng Sariputta và Moggallana là những người bị ái dục chi phối. Họ là những người có đạo đức chân thật và tính tình rất hòa nhã.
Nhưng thầy Kokalika đã bị sân hận làm mờ tâm trí nên thầy không tin nghe theo lời Phật. Cuối cùng thầy bỏ tu viện ra đi. Sau đó thầy bị một chứng bệnh rất kỳ lạ. Da thầy trở nên sần sùi, rồi tự nhiên đầy mình mọc lên những mụt nhỏ bằng hột cải, lần hồi lớn lên bằng hột đậu, rồi vỡ ra, chảy đầy máu mủ. Thuốc men nào cũng không chữa được. Phật nhắn thầy về tinh xá để chữa trị, nhưng thầy không chịu về. Sau đó thầy mạng chung. Ðức Phật rất thương xót, dạy rằng:
– Này các thầy, sân hận là chất độc làm ung thối tâm hồn, phá hoại cơ thể và có thể gây ra những tai nạn hoặc những chứng bệnh kỳ lạ. Các thầy hãy tinh cần gìn giữ đừng để cho chất độc của sân hận ngấm vào thân tâm các thầy.
Trở lại buổi họp chúng tối hôm ấy. Khi Phật bước vào giảng đường, tất cả các vị khất sĩ đều đứng dậy chấp tay cúi đầu. Ðức Phật mời mọi người an tọa, rồi ngài cũng ngồi xuống pháp tòa, ra hiệu cho Thượng tọa Sariputta đến ngồi trên chiếc ghế thấp bên tay phải ngài. Sau khi mọi người đã ngồi xuống, im lặng, đức Phật xoay lại nói với Thượng tọa Sariputta:
– Này Sariputta, có vị khất sĩ nói thầy xô ngã vị ấy rồi bỏ đi mà không xin lỗi. Vậy, trước đại chúng, thầy hãy trình bày lại rõ ràng việc ấy đã xảy ra như thế nào.
Thượng tọa Sariputta đứng dậy chắp tay xá Phật, xá đại chúng, rồi nói:
– Bạch Thế Tôn, thưa các huynh đệ, một người chưa tu, không biết quán niệm về thân, không biết quán niệm về tâm, không có ý thức về những hành động và lời nói của mình, một người như thế có thể xô ngã một người bạn của mình và bỏ đi mà không thèm xin lỗi.
Bạch Thế Tôn, con còn nhớ bài học ngày xưa Thế Tôn dạy cho Rahula lúc thầy được 16 tuổi, cách đây khoảng 13 năm. Thế Tôn đã dạy Rahula học theo hạnh của tứ đại là đất, nước, gió, lửa để nuôi dưỡng bốn đức tính từ, bi, hỷ, xả. Hôm ấy con cũng có mặt. Con đã học và thực hành bài học ấy trong suốt 13 năm qua.
Con đã tập hành sự như đất. Ðất bao giờ cũng vững chắc, rộng lớn, bao la, có khả năng thu nhận và chuyển hóa. Dù người ta đổ rải lên đất những chất tinh sạch như nước hoa, sữa thơm, hoặc đổ rải lên đất những chất dơ bẩn, hôi hám như phân, nước tiểu, máu, mủ thì đất cũng luôn luôn tiếp nhận những thứ đó một cách thản nhiên, bình đẳng, không khen chê, không thương ghét. Bạch Thế Tôn, con đã thường quán niệm thân tâm con như đất. Con không thể có hành động xô ngã một người bạn rồi bỏ đi mà không xin lỗi.
Con đã tập hành sự như nước. Khi người ta đổ nước hoa thơm vào nước, hoặc khi người ta giặt những thứ dơ bẩn trong nước, nước vẫn luôn luôn thản nhiên, bình đẳng, không khen chê, không thương ghét. Tánh của nước lúc nào cũng bao la, lưu chuyển, có năng lực hóa giải và tự thanh lọc. Bạch Thế Tôn, con đã thường quán niệm thân tâm con như nước. Con không thể có hành động xô ngã một người bạn rồi bỏ đi mà không xin lỗi.
Con đã tập hành sự như gió. Gió thổi đi những mùi thơm hoặc thúi mà không bao giờ có ý khen chê hay thương ghét. Gió có tánh bình đẳng, bao la, lưu chuyển, có năng lực hóa giải và tự thanh lọc. Bạch Thế Tôn, con đã thường quán niệm thân tâm con như gió. Con không thể có hành động xô ngã một người bạn rồi bỏ đi mà không xin lỗi.
Con đã tập hành sự như lửa. Lửa đốt cháy tất cả những cái đẹp, xấu, sạch, dơ, thơm, thúi mà không bao giờ cảm thấy tham đắm, tủi nhục, buồn giận hay chán chường. Lửa có tánh bình đẳng, thiêu đốt, có năng lực hóa giải và tự thanh lọc. Bạch Thế Tôn, con đã thường quán niệm thân tâm con như lửa. Con không thể có hành động xô ngã một người bạn rồi bỏ đi mà không xin lỗi.
Bạch Thế Tôn, con thường tự ví mình như một em bé dòng dõi hạ tiện, áo quần rách rưới, ôm bát vào làng xóm mà xin ăn. Trong lòng con không có một chút tự cao tự phụ, luôn luôn khiêm cung. Con không thể có hành động xô ngã một người bạn rồi bỏ đi mà không xin lỗi.
Thượng tọa Sariputta còn muốn nói nữa, nhưng vị khất sĩ buộc tội Thượng tọa đã đứng dậy, bước đến trước mặt Phật, quỳ xuống đảnh lễ ba lạy, rồi chắp tay thưa:
– Bạch Thế Tôn, con đã phạm giới, con đã buộc tội sư huynh Sariputta một cách oan uổng. Con xin sám hối trước Thế Tôn và đại chúng để được giới thể thanh tịnh, và nguyện từ nay về sau không tái phạm.
Phật bảo:
– Thầy đã nhận lỗi trước đại chúng và sám hối là điều rất tốt. Ðại chúng đã chấp nhận sự sám hối của thầy. Vậy Thượng tọa Sariputta cũng nên hỷ xả để tâm được an ổn, nhẹ nhàng.
– Bạch Thế Tôn, Sariputta nói, con đã hoàn toàn bỏ qua chuyện này.
Rồi Thượng tọa quay sang vị khất sĩ kia, nói tiếp:
– Tôi cũng xin sư huynh hoan hỷ bỏ qua cho những lỗi lầm của tôi trong quá khứ đã làm cho sư huynh buồn phiền.
Vị khất sĩ buộc tội bước đến trước Thượng tọa Sariputta, hai người cùng chắp tay cung kính đảnh lễ nhau ba lạy. Ðại chúng rất hoan hỷ. Không khí rất cởi mở và hòa dịu.
Phật dạy pháp Tứ Y (Catvari pratisaranena)
Sau mùa an cư, Phật đi du hành nhiều nơi trong xứ Kosala. Một hôm ngài đến thị trấn Kesaputta của bộ tộc Kalama. Giới thanh niên tìm tới gặp Phật rất đông. Họ đã từng nghe tiếng sa-môn Gotama nhưng chưa lần nào được gặp. Một thanh niên chắp tay hỏi Phật:
– Thưa sa-môn Gotama, ít lâu nay có rất nhiều vị đạo sư đến viếng Kesaputta để giảng dạy đạo lý. Vị nào cũng nói chỉ có giáo pháp của mình là hay và thường hay chê bay, chỉ trích các giáo pháp khác. Chúng con thật bối rối, không biết ai nói đúng ai nói sai, rốt cuộc chúng con sinh ra nghi ngờ tất cả. Sa-môn là bậc giác ngộ liêm chính, xin thầy cho chúng con biết nên tin theo ai và không nên tin theo ai? Ai là người nói đúng và ai là người đang truyền bá tà thuyết?
– Này các cháu, Phật nói, nếu các cháu có sinh tâm nghi ngờ thì đó cũng chỉ là việc tự nhiên. Các cháu đừng vội tin vào một điều gì dù đó là điều người ta thường nói đến luôn, dù điều đó có trong kinh điển, hay dù điều đó do một nhân vật nổi tiếng nói ra. Các cháu chỉ nên chấp nhận và tin theo những gì hợp với lý trí của các cháu, những gì đã được các bậc thánh hiền xưa nay đồng ý, những gì mà khi đem ra thực hành sẽ mang đến những kết quả tốt đẹp cho mọi người[15].
– Kính xin thầy nói rõ hơn cho chúng con dễ hiểu.
– Này các cháu, ví dụ như có một người để tham vọng, giận tức và si mê chế ngự tâm mình, thì người ấy và những người sống chung quanh người ấy vui hay khổ?
– Bạch thầy, tham vọng, giận tức và si mê thường đưa đến tội ác. Vì vậy người ấy và những người sống chung quanh người ấy thường phải chịu khổ.
– Vậy sống theo tham vọng, giận tức và si mê có phải là lối sống mà các bậc thánh hiền chấp nhận và khuyến khích không? Có phải là lối sống mang đến những kết quả tốt đẹp cho mọi người không?
– Thưa không.
– Ví dụ như có người sống theo các hạnh từ, bi, hỷ, xả, thường mang đến niềm vui cho những người xung quanh, thường cứu giúp những người hoạn nạn, thường vui theo cái vui chung của mọi người, thường bỏ qua không cố chấp ơn mình và lỗi người. Như vậy người ấy và những người xung quanh vui hay khổ?
– Bạch thầy, sống theo các hạnh từ, bi, hỷ, xả chẳng những mang đến niềm vui và hạnh phúc cho những người xung quanh mà chính mình cũng được vui vẻ hạnh phúc.
– Như vậy “sống theo các hạnh từ, bi, hỷ, xả sẽ mang đến niềm vui và hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người” là điều hợp với lý trí, là điều được thánh hiền chấp nhận và khuyến khích, là điều mà khi đem ra thực hành sẽ mang đến kết quả tốt đẹp cho chính mình và cho những người xung quanh. Ðó là điều mà các cháu nên chấp nhận, nên thực hành và nên khuyến khích người khác thực hành.
Này các cháu, ngoài việc dùng lý trí để nhận xét, người học đạo còn cần phải biết nương theo pháp Tứ-y[16] (Catvari pratisaranena) như sau:
1-Y pháp, bất y nhân (Dharma pratisaranena bhavitavyam, na puggala pratisaranena) là nên tìm hiểu và học hỏi giáo pháp, chứ không nên cố chấp vào tên tuổi hay tướng mạo của người nói.
2-Y nghĩa, bất y ngữ (Artha pratisaranena bhavitavyam, na vyanjana pratisaranena) là nên căn cứ vào nghĩa lý, không nên chấp vào ngôn ngữ, văn tự.
3-Y trí, bất y thức (Jnana pratisaranena bhavitavyam, na vijnana pratisaranena) là nên dùng trí tuệ sáng suốt để tìm hiểu giáo pháp và thực hành theo, chứ không nên dựa vào giác quan (6 thức) hay tình cảm (thọ và ái) của mình.
4-Y kinh liễu nghĩa, bất y kinh bất liễu nghĩa (Nitartha sutra pratisaranena bhavitavyam, na neyartha sutra pratisaranena) là nên theo kinh chỉ đúng chân lý, không nên chấp theo khế kinh chưa chỉ đúng chân lý.
Người học đạo như thế chắc chắn sẽ theo đúng Chánh Pháp, không sợ bị lầm lạc.
– Bạch thầy, hôm nay là lần đầu tiên chúng con được nghe một vị đạo sư chỉ dạy những điều hợp với lý trí, không bắt buộc tín đồ phải có lòng tin tưởng mù quáng vào một đấng thiêng liêng hay một giáo điều nào cả. Chúng con rất vui mừng như người đang ở trong nhà tối được ngọn đèn sáng, như người lạc lõng trong rừng tìm được lối ra. Chúng con kính xin thầy cho chúng con được quy y Tam Bảo, làm đệ tử tại gia của thầy.
Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận.
Người tu sĩ như khúc gỗ trôi trên sông[17]
Ðức Phật đi về hướng nam đến thành phố Alavi, rồi từ đó đi về hướng tây, dọc theo bờ sông Ganga và Yamuna, hướng về thủ đô Kosambi của xứ Vatsa. Một hôm, đứng trên bờ sông Ganga, Phật nhìn thấy một khúc gỗ lớn đang trôi theo dòng nước chảy về phương đông. Phật gọi các vị khất sĩ đến, chỉ cho họ thấy khúc gỗ đang trôi và nói:
– Này các thầy, khúc gỗ kia nếu không bị vướng mắc vào hai bên bờ, nếu không bị người ta vớt lên hoặc bị mục nát tan rã, thì sẽ cứ trôi như thế cho đến ngày ra tới biển cả. Các thầy cũng thế, trên con đường tu tiến theo chánh pháp, nếu các thầy không bị vướng mắc vào các cạm bẫy của cuộc sống hằng ngày, nếu các thầy không bị người đời lôi kéo ra khỏi con đường tu tiến, nếu các thầy không tự thối chí ngã lòng, thì chắc chắn các thầy cũng sẽ đi đến đại dương của sự giải thoát và giác ngộ hoàn toàn.
– Bạch Thế Tôn, xin ngài nói rõ hơn cho chúng con dễ hiểu.
– Này các thầy, “không bị vướng mắc vào cạm bẫy của cuộc sống hằng ngày” là không bị vướng mắc vào sáu căn và sáu trần, là khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần không sanh ra sáu thức. Khi sáu thức không sanh là sáu căn đã được thanh tịnh, viên thông. Khi ấy các thầy sẽ được tự tại, không còn sợ bị vướng mắc vào cạm bẫy phiền não của cuộc sống nữa.
“Không bị người đời lôi kéo ra khỏi con đường tu tiến” là không còn đắm nhiễm dục lạc ở cõi đời này nữa. Do công phu trì giới thuần thục, tài, sắc, danh, thực, thùy không còn chút gì hấp dẫn đối với các thầy nữa. Trái lại các thầy sẽ thưởng thức được niềm thanh tịnh, an lạc trong thiền định và chánh niệm.
“Không tự thối chí ngã lòng” là khi các thầy đã hiểu rõ giáo pháp và đã thực tập được nhiều kết quả tốt đẹp. Khi ấy các thầy sẽ vững tin nơi Tam Bảo và vững tin nơi khả năng thành Phật của chính mình.
Này các thầy, tìm hiểu Giáo pháp, vững tin nơi Tam Bảo, trì giới thanh tịnh, thực hành thiền định và chánh niệm, tu căn viên thông là những phương tiện cần thiết để đưa các thầy tới giải thoát khỏi cảnh đau khổ, sanh, già, bệnh, chết. Chắc chắn không sai.
Trong lúc Phật đứng bên bờ sông Ganga giảng dạy cho các vị khất sĩ, có một thiếu niên chăn trâu khoảng 16 tuổi đứng gần đó. Thiếu niên này tên Nanda, trùng tên với thầy Nanda, em cùng cha khác mẹ với Phật. Nanda được nghe Phật giảng, thích lắm. Em mon men đến gần Phật xin được theo Phật làm khất sĩ. Em nói:
– Bạch sa-môn, con tên Nanda, con muốn được như các vị khất sĩ có dung mạo trang nghiêm kia. Con muốn được tu học như các vị ấy. Con xin hứa sẽ cố gắng làm những điều của sa-môn chỉ dạy để được như khúc gỗ trôi ra biển cả mà không bị vướng mắc vào hai bên bờ, không bị người ta vớt lên, cũng không bị mục nát tan rã. Con xin sa-môn nhận con theo làm đệ tử của ngài.
– Con năm nay được bao nhiêu tuổi?
– Bạch sa-môn, con 16 tuổi.
– Con còn có cha mẹ ở nhà không?
– Thưa, cha mẹ con đều đã mất. Con không có anh em, bà con nào hết. Con chỉ ở giữ trâu cho ông bà phú hộ trong làng mà thôi.
– Con có thể ăn mỗi ngày một bữa được không?
– Dạ, con đã quen ăn như thế từ lâu rồi. Mỗi buổi sáng con dắt trâu ra đồng, mang cơm nguội theo ăn, đến chiều tối mới dắt trâu trở về.
– Này Nanda, đáng lẽ ra phải đến 20 tuổi con mới được chấp nhận vào giáo đoàn khất sĩ. Nhưng thấy con có chí muốn tu nên Như Lai cho phép con gia nhập giáo đoàn với tư cách sa-di để tập sự xuất gia. Ðến 20 tuổi con mới được thọ giới khất sĩ. Bây giờ con nên lùa trâu về trả cho chủ con đi, rồi con xin phép chủ cho con nghỉ việc. Xong xuôi con trở lại đây gặp ta.
– Bạch sa-môn, con có thể đi theo sa-môn ngay bây giờ. Mấy con trâu này khôn lắm, chúng nó biết đường về chuồng một mình khi trời sụp tối.
– Ðành vậy, nhưng con phải lùa chúng về chuồng. Giao chúng lại cho chủ đàng hoàng. Rồi xin phép nghỉ việc. Sau đó Như Lai mới có thể cho con đi theo giáo đoàn được.
– Bạch sa-môn, con sợ khi trở lại đây sẽ không còn gặp sa-môn và các thầy nữa!
– Con đừng lo. Chúng ta sẽ đứng đây chờ con.
Nanda sung sướng, lật đật lùa trâu về chuồng. Ðức phật quay sang bảo Svastika:
– Này Svastika, Như Lai giao cho thầy hướng dẫn và dạy dỗ em bé chăn trâu này.
Svastika chắp tay vâng dạ. Thầy năm nay đã 33 tuổi. Thầy được làm quen với Phật tại làng Uruvela lúc năm anh em ông Kondanna vừa bỏ đi. Lúc bấy giờ thầy mới được chín tuổi. Cha mẹ mất sớm, thầy phải đi chăn trâu cho một ông chủ giàu lòng từ ái để nuôi ba đứa em: một đứa em trai tên Rupak, bảy tuổi, và hai đứa em gái, Bala năm tuổi và Bhima ba tuổi. Sau khi Phật thành đạo dưới cội Bồ-đề, thầy được quen với hai chị em cô Sujata, con ông xã trưởng trong làng, được hai cô này dạy đọc và viết chữ, và được giúp đỡ về vật chất để nuôi ba đứa em. Mấy năm gần đây, trong một chuyến du hành ngang qua thôn Uruvela, Svastika thấy túp lều của cha mẹ thầy khi xưa nay đã xiêu vẹo và đổ nát. Ba đứa em của thầy đều có gia đình, con cái và nhà cửa riêng. Thằng Rupak, sau khi cưới vợ, đã đi lập nghiệp ở một nơi khác. Hai đứa em gái là Bala và Bhima, sau khi lập gia đình, đều ở lại Uruvela, và mỗi người đều có một đàn con cả trai lẫn gái. Trong số đó có nhiều đứa cũng đi chăn trâu thuê như thầy khi xưa…
Rồi Svastika nhớ đến Rahula năm nay đã 30 tuổi. Thầy nhớ đến những điều Rahula đã chỉ dạy thầy khi thầy mới nhập chúng, cách nay thắm thoát đã 13 năm. Thầy nhớ đến bài kinh Chăn Trâu của Phật giảng sau khi thầy mới xuất gia được vài tháng. Thầy nguyện sẽ đem hết kinh nghiệm đời và đạo của thầy để chỉ dạy lại cho chú sa-di Nanda. Vừa nghĩ tới đây thì chú bé Nanda đã trở lại. Ðại đức Svastika trở về với giây phút hiện tại. Thầy bảo Nanda tới gần thầy, và cho chú biết thầy sẽ là y-chỉ-sư (y-chỉ A-xà-lê, Acariya), là thầy hướng dẫn của chú trong sự tu học. Ngay tối hôm ấy Nanda được xuống tóc làm một sa-di. Chú tiểu mới này được chỉ cách mặc áo, cầm bát và cách đi, đứng, nằm, ngồi theo Chánh Pháp.
Phật giảng về Tám Ðiều Giác Ngộ của Bậc Ðại Nhân[18]
Ðức Phật đến thành phố Kosambi giáo hóa một thời gian, rồi ngài lên đường về Rajagriha. Một hôm, đang ngồi trong vườn Bhesakala ở thành phố Sumsumaragiri, Phật nói với các vị khất sĩ:
– Này các thầy, hôm nay Như Lai muốn nói với các thầy về tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân (bồ-tát). Ðây là đề tài mà Thượng tọa Anuruddha đã chiêm nghiệm và thảo luận với Như Lai tại Vườn Tre xứ Ceti, lúc Thượng tọa đang ẩn cư nơi đó. Theo Thượng tọa Anuruddha thì đây là tám đề tài thực tế mà một bậc Bồ-tát đã giác ngộ nên đem ra giáo hóa những người còn mê lầm:
Ðiều thứ nhất là giác ngộ rằng tất cả các pháp đều là vô thường và vô ngã. Quán sát về tính vô thường và vô ngã của các pháp thì tránh được khổ đau và dần dần đạt tới giải thoát và an lạc.
Ðiều thứ hai là giác ngộ rằng càng nhiều ham muốn thì càng nhiều đau khổ. Giảm bớt ham muốn thì đời sống bớt khổ đau.
Ðiều thứ ba là giác ngộ rằng biết sống đơn giản (thiểu dục tri túc) là nguồn an lạc. Người biết sống đời đơn giản mới có thì giờ và tâm lực để tu tập và giúp đời.
Ðiều thứ tư là giác ngộ rằng phải siêng năng tinh tấn mới có thể đạt được quả vị giác ngộ. Tánh lười biếng và hưởng thụ chỉ đưa đến sự đọa lạc vào thế giới của ma chướng và phiền não.
Ðiều thứ năm là giác ngộ rằng sống trong vô minh và buôn thả sẽ bị giam hãm đời đời kiếp kiếp trong cảnh khổ của vòng sinh tử luân hồi. Chỉ có đời sống sáng suốt trong chánh niệm và tỉnh thức mới đưa tới sự thành tựu trí huệ, giác ngộ và giải thoát.
Ðiều thứ sáu là giác ngộ rằng bố thí là một phương pháp rất hiệu nghiệm để tự giúp mình và giúp người, cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính nhờ bố thí mới diệt được ngã chấp và pháp chấp.
Ðiều thứ bảy là giác ngộ rằng người hành đạo vào đời để hóa độ, phải luôn luôn giữ nếp sống đơn giản, thanh bạch, giới hạnh thanh cao, lấy đức từ bi hỷ xả mà đối xử với tất cả mọi người.
Ðiều thứ tám là giác ngộ rằng muôn loài chúng sanh đều đồng chung một Phật tánh. Tất cả chúng sanh đều bình đẳng và xứng đáng được tôn trọng, vì đều có khả năng thành Phật. Do đó mọi hành động, lời nói, ý nghĩ đều nhằm tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, để đi đến giác hạnh viên mãn.
Này các thầy, các bậc đại nhân (bồ-tát) đều nhờ quán chiếu và tu tập theo tám điều trên đây mà được giác ngộ. Khi vào đời họ cũng đem Tám Ðiều Giác Ngộ này để khai thị và giáo hóa cho mọi người. Các thầy đã phát tâm Bồ-tát cũng nên tu tập như thế song song với việc thực hành Lục Ðộ.
Ðức Phật nói xong, các vị khất sĩ đều hoan hỷ ghi nhớ và phụng hành.
Phật thăm khất sĩ Vakkali đang hấp hối[19]
Về đến tinh xá Venuvana ở Rajagriha, đức Phật được thông báo là Thượng tọa Vakkali đang bệnh nặng, rất trông mong được thấy mặt Phật trước khi qua đời. Chính vị thị giả của Thượng tọa đã đến đảnh lễ ba lạy dưới chân Phật và nói:
– Bạch Thế Tôn, thầy con đang bệnh nặng, hiện đang nằm tại nhà một cư sĩ làm đồ gốm. Thầy con bảo con thay thầy tới đây, cung kính lạy xuống ba lần, trán chạm chân Phật, cung thỉnh Thế Tôn đến hộ niệm cho thầy con.
– Ðược rồi, này Ananda, chúng ta hãy đến thăm Thượng tọa Vakkali.
Khi đức Phật và Thượng tọa Ananda vừa bước vào cửa, Thượng tọa Vakkali gắng gượng ngồi dậy, nhưng thầy ngồi lên không nổi. Phật đỡ thầy nằm xuống trở lại và nói:
– Này Vakkali, thầy đừng cố gắng ngồi. Cứ nằm xuống cho thoải mái. Tôi và thầy Ananda ngồi trên mấy cái ghế này được rồi.
Phật và thầy Ananda ngồi xuống ghế, rồi Phật hỏi thăm:
– Tình trạng sức khỏe của thầy hiện nay như thế nào? Gần đây có được thuyên giảm chút nào không?
– Bạch Thế Tôn, bệnh con không được thuyên giảm chút nào hết. Sức khỏe của con càng ngày càng tệ. Con cảm thấy khó chịu lắm. Trong thân con chỗ nào cũng đau nhức.
– Tâm thầy có được an không? Thầy có lo lắng ân hận gì không?
– Bạch Thế Tôn, con lo lắng và ân hận vì từ lâu nay con muốn đi thăm Thế Tôn mà con chẳng làm được việc ấy. Rất may là hôm nay con được nhìn mặt Thế Tôn, như thế là con đã mãn nguyện.
– Này Vakkali, cần gì phải thấy mặt nhau mới gọi là được gần nhau. Mỗi lúc thầy tinh tấn tu tập, trì giới thanh tịnh là đã có Như Lai ở bên cạnh. Cái thân ngũ ấm có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp này cũng chỉ là vật giả tạm. Cái tâm thanh tịnh của thầy và cái tâm thanh tịnh của Như Lai thì không có ranh giới, làm gì có sự xa cách.
Im lặng một lát, Phật hỏi tiếp:
– Này Vakkali, thầy có thấy sắc thân là vô thường không? Thầy có luyến tiếc nó không?
– Bạch Thế Tôn, con thấy rất rõ. Sức khỏe của con hiện nay sa sút từng giờ từng phút. Cơ thể của con cũng đang hao mòn và hoại diệt từng giờ từng phút. Cảm thọ và tri giác của con cũng lu mờ dần. Con không luyến tiếc sắc thân này vì nó hiện đang làm con đau đớn, và con cũng không thấy cái gì là thật sự của con, cái gì thật sự là con.
– Lành thay, này Vakkali, vạn vật đều vô thường và không có tự ngã, nhưng “cái biết vạn vật là vô thường, không có tự ngã” là tri kiến của chư Phật, là trí bát-nhã của chư Phật, là Phật tánh, là Chơn Tâm của muôn loài chúng sanh thì không bao giờ hoại diệt. Muốn chứng được cái Chơn Tâm thường, lạc, ngã, tịnh đó thì trước hết phải dứt trừ chấp ngã, chấp pháp.
Vakkali nhếch miệng cười, rồi hai hàng nước mắt ràng rụa chảy xuống, thầy nói:
– Bạch Thế Tôn, trong giờ phút khó khăn này con lại có phước được lãnh thọ lời dạy vô giá của đức Thế Tôn. Từ ngày được Thế Tôn cho xuất gia, con thường quán niệm “vạn vật đều vô thường, không có tự ngã” và “tất cả chúng sanh đều có Chơn Tâm, Phật tánh đầy đủ bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh”. Nhưng hôm nay lại được nghe chính kim khẩu của đức Thế Tôn nhắc nhở lời ấy trong giờ phúc này. Con cảm thấy sung sướng quá, hạnh phúc quá, con xin đa tạ Thế Tôn. Bây giờ con cảm thấy tâm con hoàn toàn an ổn, thân con không còn đau nhức nữa. Con xin hẹn gặp lại Thế Tôn trong Chánh Pháp (Dhamma).
Thượng tọa Ananda sụt-sùi thương cảm. Ðức Phật bảo:
– Lành thay, này Vakkali, thầy hãy can đảm lên. Như Lai lúc nào cũng ở bên cạnh thầy.
Sau khi đức Phật và Thượng tọa Ananda bước ra khỏi cửa, Thượng tọa Vakkali bảo thị giả nhờ người khiêng thầy luôn cả cái giường ra sườn núi Isigili, đặt dưới bóng mát của một tàng cây cổ thụ. Thầy nằm nhiếp tâm an tịnh đến xế chiều thì nhập diệt.
Ðược tin này, đức Phật nói với các vị khất sĩ:
– Vakkali đã được giải thoát.
Phật dạy cách vượt qua các đau khổ[20]
Ở lại Venuvana và Griddhakuta độ hai tuần, Phật lại lên đường đi Nalanda, rồi đến Vesali. Tại giảng đường Trùng Các (Kutagara) trong tinh xá Mahavana, một hôm Phật dạy các vị khất sĩ về cách vượt qua các đau khổ. Ngài nói:
– Này các thầy, đời là bể khổ, nào là phải lo sinh sống, già, bệnh, chết, ái ly, oán hội, cầu bất đắc. Thế nên không ai trên đời này mà không bị ít nhiều đau khổ. Nhưng người thường, người biết tu, người có thực chứng thánh quả cảm thọ sự đau khổ khác nhau. Người thường, do tham sân si làm gia tăng sự đau khổ, nên cảm thọ về đau khổ càng lớn. Người biết tu, nhẫn chịu sự đau khổ, không làm tăng sự đau khổ nhưng chưa biết cách làm giảm sự đau khổ. Bậc thánh nhân, do công phu thiền định và quán tưởng, làm cho sáu căn lần hồi thanh tịnh nên cảm thọ về sự đau khổ giảm dần xuống. Ðịnh lực và trí lực càng tăng, sáu căn càng thanh tịnh, thì cảm thọ đau khổ càng giảm lần cho đến khi dứt hẳn.
Rồi đức Phật nói kệ:
ỀNgười tu căn viên thông,
ỀGiữ mắt tai mũi lưỡi
ỀThân ý đều thanh tịnh,
ỀSiêu thoát mọi khổ đau. (Kinh Pháp Cú, bài 360, 361)
Ðức Phật cầm một hòn đá đưa lên, hỏi:
– Này các thầy, hòn đá trong tay Như Lai đây và núi Gayasisa (Tượng-Ðầu) cái nào lớn hơn?
– Bạch Thế Tôn, so với núi Gayasisa thì hòn đá trong tay Thế Tôn rất bé nhỏ, hầu như vô nghĩa.
– Cũng thế, này các thầy, trong cùng một cảnh khổ, người không biết tu có cảm thọ khổ lớn như núi Gayasisa, còn bậc thánh nhân có cảm thọ khổ chỉ bằng hòn đá này.
Này các thầy, ví dụ như có người bị trúng một mũi tên. Người đó cảm thấy đau nhức. Nhưng nếu một mũi tên thứ hai bay tới cắm đúng vào chỗ vết thương đó thì cái đau nhứt ấy chắc chắn càng lớn hơn bội phần. Và nếu một mũi tên thứ ba bay tới đúng ngay vào chỗ vết thương đó nữa thì sự đau nhức lại càng lớn hơn gắp trăm lần. Các thầy nên biết vọng tưởng, ngã kiến, ngã ái, tham, sân, si cũng như mũi tên thứ hai và thứ ba, chúng làm cho cảm thọ đau khổ gia tăng gắp bội.
Này các thầy, khi một bậc thánh nhân nhập đại định thì dù có 500 cỗ xe đi ngang qua trước mặt, hoặc trời giông bão sấm sét cũng không hề bị quấy rầy, mọi cảm thọ đều im bặt. Vị ấy luôn luôn cảm thấy an lạc, không bao giờ cảm thấy bị quấy nhiễu. Ðối với vị ấy không có ngã và ngã-sở, thì căn và trần không còn nương vào đâu để sanh ra thức và cảm thọ nữa.
Này các thầy, tu tập căn viên thông chính là phương pháp diệt trừ các cảm thọ, trong đó có cảm thọ đau khổ[21]. Sáu căn đối với sáu trần không sanh ra sáu thức thì cảm thọ không có nhân duyên gì để phát sanh.
Này các thầy, khi sắp mệnh chung, các thầy nên tập trung tư tưởng vào sự quán chiếu thân thể, cảm thọ[22], tâm ý[23] và đối tượng của tâm ý để thấy rõ rằng thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý đều là vô thường, duyên sanh, không có tự ngã. Sự quán chiếu đó làm lắng dịu sự đau khổ và giúp các thầy được an ổn trong tỉnh thức và chánh niệm. Tiếp đến các thầy nên niệm Phật hoặc trì chú để tâm được thanh tịnh hầu sanh về các cõi an lành.
Hôm nay các vị khất sĩ được nghe một thời pháp quý báu chưa từng có nên các thầy đều hoan hỷ, ghi nhớ và phụng hành.
Vô minh, hành, thức và danh sắc trong 12 nhân duyên[24]
Khi trận mưa đầu mùa đổ xuống làm giảm bớt cái nóng mùa hạ, Phật rời Vesali, lên đường đi Sravasti. Năm nay các vị khất sĩ cả nam lẫn nữ đều tựu về an cư tại Sravasti rất đông.
Tại giảng đường Lộc Mẫu (Migara-matas-pasada) trong tinh xá Ðông Viên (Pubbarama), trong lúc Phật giảng dạy thêm về đạo lý duyên sinh, một vị khất sĩ đứng lên bạch:
– Bạch Thế Tôn, trong 12 nhân duyên, Thế Tôn dạy do thức mà có danh sắc. Như vậy có phải toàn thể vũ-trụ này đều phát sinh từ tâm-thức không?
– Ðúng như vậy. Này các thầy, “danh” chỉ chung các sự vật vô hình, có tên mà không có tướng. “Sắc” chỉ chung các vật có tên có tướng như mùi hương, ánh sáng, âm thanh và các vật có thể xúc chạm được. Tất cả danh và sắc sở dĩ hiện hữu là vì có sự nhận thức phân biệt.. Nếu không có sự nhận thức phân biệt thì căn cứ vào đâu để nói một vật có hay không có?
– Bạch Thế Tôn, nếu danh sắc phát sinh từ thức thì quả thật thức là nguồn gốc của vũ-trụ và muôn vật. Vậy ta có thể biết được nguồn gốc của tâm thức hay không? Ta có thể hiểu được do đâu mà có tâm thức hay không? Và tâm thức có từ lúc nào?
– Này các thầy, ý niệm về bắt đầu và ý niệm về chung cuộc cũng đều phát sinh từ tâm thức. Thật ra, không có lúc bắt đầu cũng không có lúc chung cuộc, không có cái hiện-hữu cũng không có cái không hiện-hữu. Không nên nói danh sắc phát sinh từ thức, mà phải nói vì có thức mới thấy có danh sắc. Do vô minh nên chúng sanh mới có ý niệm phân biệt (thức) về thỉ và chung (hành), do vô minh nên chúng sanh mới có ý niệm phân biệt (thức) về cái hiện-hữu và cái không hiện-hữu (danh sắc). Hay nói cách khác, do vô minh nên mới có hành và thức. Hành là sự lưu chuyển, biến đổi. Thức là cái biết do sự phân biệt. Hành và thức nương vào nhau mà có. Do có “sự lưu chuyển, biến đổi” mới có “cái biết do sự phân biệt”. Do có “cái biết do sự phân biệt” mới thấy có “cái lưu chuyển, biến đổi”. Rồi chính cái ý thức phân biệt đó đưa chúng sanh vào vòng luân hồi sanh tử vô thỉ vô chung. Chỉ khi nào cái ý thức phân biệt đó bị tận diệt thì vòng luân hồi sanh tử mới chấm dứt.
– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn vừa nói “vòng luân hồi sanh tử vô thỉ vô chung”, sao lại nói đến “vòng luân hồi sanh tử chấm dứt”?
– Này các thầy, các thầy nên biết, “vòng sanh tử luân hồi” vốn không thật có. Ðó chỉ là vọng tưởng, là ảo ảnh do “ý thức phân biệt” tạo ra. Thế nên khi tận diệt được ý thức phân biệt thì ảo ảnh của “vòng sinh tử luân hồi” không còn. Ảo ảnh là vật không thật có thì làm gì có thỉ có chung?
– Bạch Thế Tôn, thầy Punna Mantaniputta (Phú-Lâu-Na Mãn-Từ-Tử) hỏi, vô minh là yếu tố đầu tiên trong 12 nhân duyên. Vậy do đâu mà có vô minh?
– Này Punna Mantaniputta, vô minh không có gốc, không do nhân duyên sanh. Tánh Giác (Chơn Tâm) lúc nào cũng thanh tịnh sáng suốt, thấy biết tất cả mà không có ý thức phân biệt. Tánh giác không thể sanh vô minh. Trong tánh giác thanh tịnh sáng suốt đó bỗng vọng sanh cái thấy biết có phân biệt năng sở (có chủ thể và đối-tượng)[25]. Cái thấy biết có phân biệt đó là vô-minh. Vô-minh đã vọng sanh nên không thật có, thì làm gì có gốc. Vô minh vốn là vọng nên tất cả những cái thấy biết do vô minh phát sanh đều là vọng tưởng, mê lầm, không thật có. Ví dụ như giảng đường Lộc-Mẫu này, chúng sanh dùng ý thức phân biệt, nương theo nhận thức của sáu căn, mà cho rằng giảng đường này thật có. Bậc thánh nhơn dùng huệ nhãn nhìn giảng đường chỉ thấy đất, nước, gió, lửa hòa hợp dung thông với nhau mà thôi. Nếu dùng Phật nhãn mà nhìn thì chỉ thấy toàn Tánh Giác, vì đất, nước, gió, lửa đều đồng một chơn thể, đồng một chơn tánh. Tất cả đều tịch-tĩnh, sáng suốt.[26]
Ðức Phật đưa mắt nhìn khắp đại chúng, rồi chẫm rãi nói tiếp:
– Này các vị khất sĩ, chúng sanh do vọng chấp nơi ý thức phân biệt, cho đó là thật có, cho đó thật là mình (ngã) hoặc thật là của mình (ngã-sở) cho nên phải bị lưu chuyển sanh tử trong ba cõi (dục, sắc và vô sắc). Nay quý vị muốn tu chứng bồ-đề, niết-bàn, muốn trở về tánh giác nguyên thủy, thì trước hết phải dứt trừ “ý thức phân biệt”, chuyển tất cả các thứ hư vọng sanh diệt vào tánh tịch-tĩnh (vắng lặng, viên trạm) của Chơn Như. Quý vị hãy dùng trí bát-nhã quán chiếu thâm sâu vào muôn sự muôn vật để chứng pháp không và ngã không. Ðến chừng đó dòng sanh tử luân hồi sẽ không còn nương vào đâu để hiện hữu nữa.
Thế nào là Chánh Kiến?
Ngưng một lúc, đức Phật nói tiếp:
– Quý vị nên biết con đường tu tập giải thoát mà Như Lai gọi là Bát Chánh Ðạo. Trong đó Chánh Kiến là căn bản của Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Ðịnh. Vì phải có Chánh Kiến trước mới thực hành được bảy pháp kia. Nhưng Chánh Kiến là gì? – Chánh Kiến là thấy biết tất cả muôn sự muôn vật đúng như thật, không bị các cảm thọ và ý thức phân biệt lừa gạt.
Thượng tọa Ananda vội quỳ xuống chắp tay bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, chúng con ngu muội không biết “thấy đúng như thật” là thấy như thế nào. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ rõ thêm.
– Này Ananda, thầy thưa hỏi rất đúng lúc, Như Lai sẽ vì thính chúng sơ học mà nói rõ thêm. Các thầy hãy lắng nghe. Nếu trong lúc thấy biết mà sanh ra ý niệm có / không, lớn / nhỏ, tốt / xấu, hay / dở, phải / quấy, đúng / sai … là thấy biết không đúng như thật, vì đã bị cảm thọ và ý thức phân biệt đánh lừa. Chánh Kiến là thấy biết bằng trí tuệ bát-nhã, trong đó không có ý niệm có / không, tốt / xấu, phải / quấy, …
– Bạch Thế Tôn, thấy biết bằng trí tuệ bát-nhã là như thế nào?
– Thấy biết bằng trí tuệ bát-nhã là thấy biết muôn sự muôn vật đều vô thường, duyên hợp, không có tự ngã, do đó đều bình đẳng, không có ý niệm phân biệt: Tất cả đều hòa hợp, dung thông trong một tổng thể tạm gọi là Chơn Tâm, Chơn Như, Phật Tánh (Tánh Giác).
Các vị khất sĩ im lặng, chăm chỉ lắng nghe, hiểu rằng 12 nhân duyên chỉ là tục đế, Tánh Giác mới là chơn đế, muốn thấy Tánh Giác phải thực hành Chánh Kiến. Tất cả đều lấy làm vui mừng nhận thấy con đường tu tập của mình đầy tương lai rực rỡ, chắc chắn sẽ đưa đến quả vô sanh.
Phật nói kinh Vu Lan Bồn (Ullambana sutta)[27]
Thượng tọa Moggallana (Mục-Kiền-Liên) là người rất tinh tấn về công phu thiền định. Mỗi lúc rảnh rang thầy thường tìm nơi thanh vắng ngồi thiền định liên tiếp nhiều giờ liền. Cách đây mấy hôm thầy chứng được năm trong sáu phép thần thông. Lục thông (Abhinna) là sáu phép thần thông do công phu thiền định (samadhi) mà được. Lục thông gồm có:
1- Thiên nhãn thông (dibba-cakkhu): Có thể nhìn thấy tất cả mọi vật lớn nhỏ ở cõi Dục và cõi Sắc.
2- Thiên nhĩ thông (dibba-sota): Có thể nghe tất cả những âm thanh lớn nhỏ ở cõi Dục và cõi Sắc.
3- Tha tâm thông (ceto-pariya-nana): Có thể biết tư tưởng của các chúng sanh hữu tình.
4- Thần túc thông (iddhi-vidha): Trong khoảnh khắc, có thể hiện đến bất cứ nơi nào ở cõi Dục và cõi Sắc.
5- Túc mạng thông (pubbe-nivasanussati): Có thể biết rõ các kiếp trước của một chúng sanh.
6- Lậu tận thông (asavak-khaya): Tâm trí sáng suốt, không còn phiền não và mê lầm, và biết cách chỉ cho người khác tu tập để được như mình.
Sau khi chứng được ngũ thông, trong mấy ngày liền, thầy thử sử dụng những khả năng mới của mình. Rồi thầy bỗng nghĩ đến hình ảnh thân yêu của cha mẹ thầy. Không biết hiện giờ cha mẹ của thầy ở đâu? Thầy nhớ đến lúc thầy cùng đi với Phật qua một bãi tha ma. Có một đống xương người to lớn bên vệ đường. Phật bỗng lặng lẽ bước đến đảnh lễ đống xương. Các vị khất sĩ thấy thế rất ngạc nhiên, không hiểu vì lý do gì Phật lạy đống xương. Thầy Ananda liền hỏi:
– Bạch Thế Tôn, ngài là bậc chánh đẳng chánh giác, là thầy của tất cả các cõi trời và cõi người. Vì cớ sao hôm nay Thế Tôn lại lạy đống xương.
– Này các thầy, đức Phật đáp, chúng sanh trong ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc chìm đắm trong vòng sanh tử luân hồi không dứt, thật rất thảm thương. Trong vô số kiếp sanh sanh tử tử, có thể đều là thân thuộc họ hàng với nhau. Trong đống xương to lớn này chắc chắn có xương của chính thân ta hoặc của chính cha mẹ ta trong nhiều kiếp trước. Như Lai đảnh lễ đống xương để tỏ lòng hiếu kính đối với công ơn cha mẹ trong nhiều kiếp trước.
Thầy Moggallana thầm nghĩ rằng “Ðức Phật khi nhìn thấy đống xương khô còn nhớ đến công ơn cha mẹ trong nhiều đời nhiều kiếp. Vậy hôm nay ta thử dùng thiên nhãn tìm xem cha mẹ ta hiện giờ ở đâu.” Thầy Moggallana liền dùng thiên nhãn nhìn khắp cõi trời, không thấy cha mẹ đâu. Thầy tìm kiếm trong cõi người thì thấy cha thầy đang sinh sống trong một gia đình bà-la-môn khá giả, nhưng vẫn chưa thấy mẹ thầy ở đâu. Thầy cố tìm kỹ nhưng vẫn không thấy. Thầy rất ngạc nhiên, rồi thầy thử nhìn vào cõi ngạ quỷ, thầy thấy biết bao cảnh thương tâm, lầm than, đói khổ do ác nghiệp ganh ghét, tham lam, bỏn sẻn đời trước tạo nên. Bỗng thầy nhìn thấy bóng dáng ai giống như mẹ thầy, một người đàn bà gầy ốm như bộ xương khô, tóc tai rũ rượi, vẻ mặt đau khổ sợ sệt, mắt nhìn láu liên tìm kiếm thức ăn để tranh giành với những ngạ quỷ khác. Thầy nhìn một lúc nhận ra quả thật mẹ thầy là bà Moggali (Thanh-Ðề) đang ở trong một hoàn cảnh bi đát thảm thương. Thầy Moggallana liền dùng thần túc thông hiện đến trước mặt mẹ, thầy gọi:
– Thưa mẹ! Thưa mẹ! Con là Moggallana đây. Mẹ còn nhớ con không?
Các ngạ quỷ đang tranh ăn, trong đó có mẹ thầy. Bà Thanh-Ðề thấy thầy bỗng nhiên hiện đến, tướng mạo trang nghiêm, hào quang sáng rỡ, thì hoảng sợ, sụp xuống lạy lia lịa. Thầy Moggallana liền ngồi xuống đỡ mẹ vào lòng, rồi âu yếm ôn tồn nói:
– Thưa mẹ, con đây, con là Moggallana đây. Mẹ còn nhớ con không?
– Ờ! Ờ! Moggallana đây hả? Sao con lại đến đây được? Mà con đến đây làm chi!? Ở đây khổ lắm con ơi! … Mẹ đói lắm, con có gì cho mẹ ăn đỡ không?
– Dạ có. Mẹ hãy ngồi đây chờ con, trong chốc lát con sẽ mang thức ăn đến.
Thầy biến đi trong thời gian co duỗi cánh tay rồi lại hiện trở lại với một bình bát đầy cơm nóng và cà-ri thơm phức. Bà Thanh-Ðề trông thấy, mừng rỡ, vội đưa tay phải ra chụp lấy bình bát, rồi lấy bàn tay trái đậy bình bát lại. Bà nói:
– Coi chừng tụi chết đói này giựt ăn hết của mẹ.
Rồi bà vừa che đậy bình bát, vừa bốc ăn, mắt láu liên trông chừng bọn ngạ quỷ. Nhưng hỡi ôi! Vừa đưa đến miệng thì bà cảm thấy cơm nóng như lửa, vội hất văng ra xa. Sợ chúng giựt, bà vội bốc nắm cơm khác đưa lên miệng, nhưng lại bị nóng, bà lại hất văng ra tứ tung. Trong chốc lát bát cơm đã hết mà bà vẫn chưa ăn được gì cả. Thầy Moggallana, trước cảnh thương tâm ấy, cũng đành bất lực. Năm phép thần thông của thầy không giúp được gì cho mẹ thầy. Thầy Moggallana, bùi ngùi thương cảm, đành từ giã mẹ, trở về tinh xá Jetavana, vào yết kiến Phật. Thầy đảnh lễ dưới chân Phật rồi nói:
– Bạch Thế Tôn, con vừa đến gặp mẹ con trong kiếp ngạ quỷ. Hoàn cảnh đói khổ của mẹ con thật thảm thương. Con mang cơm đến dâng lên cho mẹ con mà bà cũng không thể ăn được. Mỗi lần đưa cơm lên tới miệng thì cơm trở nên nóng như lửa. Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn chỉ dạy cho con phương cách nào có thể cứu mẹ con ra khỏi kiếp ngạ quỷ!?
– Này Moggallana, lòng hiếu thảo của thầy đã cảm ứng đến chư thiên, thật đáng làm gương cho hậu thế. Nhưng dù thầy có đủ năm phép thần thông, một mình thầy cũng không đủ sức cứu mẹ thầy ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Muốn cứu mẹ, thầy phải nhờ thần lực của chư Tăng hiện tiền và mười phương Tam Bảo, mới mong độ thoát.
Này Moggallana, vào ngày tự-tứ mãn hạ (pavarana), chư tăng được đầy đủ giới đức thanh tịnh. Thầy nên nhân cơ hội ấy cúng dường trai tăng với đầy đủ những thức ăn và trái cây ngon quý, hương, dầu, đèn nến, giường chiếu, y phục, thuốc men và vật dụng thường nhật, cầu các vị Thánh Tăng đồng một lòng chứng giám hiếu tâm của thầy mà hết lòng chú nguyện cho cha mẹ bảy đời[28] của thầy được đượm nhuần mưa pháp, thân tâm yên ổn, phát nguyện tu trì, lìa xa ác đạo, chóng thành Phật quả.
Rồi đức Phật quay sang các vị khất sĩ nói tiếp:
– Này các thầy, từ nay về sau, vào ngày tự tứ mãn hạ, nếu có thí chủ hiếu thuận thiết lễ Vu-Lan, cúng dường trai tăng để cầu siêu cho ông bà cha mẹ, thì bổn phận chúng Tăng trước hết là phải ngồi thiền định ý, tận tâm chú nguyện cho cha mẹ bảy đời của thí chủ, rồi phải cúng dâng các thức ăn tại bàn Phật, sau đó mới được tự thọ dụng.
Chẳng bao lâu, đến ngày mãn hạ, Thượng tọa Moggallana theo lời Phật dạy, thiết lễ Vu-Lan (Ullambana) cúng dường trai tăng để cầu siêu cho mẹ. Nhờ thần lực của mười phương Tam Bảo hộ niệm, bà Moggali (Thanh-Ðề), mẹ thầy Moggallana, từ cõi ngạ quỷ bỗng phát tâm lành, sám hối tội lỗi, liền được tái sanh về cõi trời Quảng-Quả[29] (Vehapphala). Thầy Moggallana dùng thiên nhãn thấy được như thế, rất hoan hỷ, liền đến đảnh lễ dưới chân Phật để tạ ơn. Ðức Phật cũng hoan hỷ khen ngợi lòng hiếu thảo của thầy, và bảo các vị khất sĩ nên truyền dạy phép Vu-Lan báo hiếu này cho dân chúng được biết.
5- Hạ thứ 25 tại Jetavana (năm -565)
Thượng tọa Punna Mantaniputta[30] đi hoằng hóa tại xứ Thâu-lô-na[31]
Thượng tọa Punna Mantaniputta (Phú-Lâu-Na Mãn-Từ-Tử) còn gọi là Purana Maitrayaniputra (Phú-Lâu-Na Di-Ða-La-Ni-Tử) là con một vị quốc sư tại triều vua Suddhodana (Tịnh-Phạn). Thượng tọa cùng với 29 người bạn đã xuất gia theo Phật sau hạ thứ nhất, gần Lộc-Uyển. Thượng tọa là một trong 10 đệ tử lớn của Phật. Thầy nổi tiếng là vị đệ tử thuyết pháp hay nhất.
Ðến ngày mãn hạ, đức Phật phái Thượng tọa đến xứ Thâu-lô-na để hoằng pháp. Dân chúng xứ đó nổi tiếng hung ác và thô bạo. Ðức Phật nói:
– Này Punna Mantaniputta, người ta đồn rằng dân chúng xứ Thâu-lô-na rất hung dữ và thường hay bạo động. Vậy thầy nhắm có kham nổi việc đến xứ đó hoằng pháp hay không?
– Bạch Thế Tôn, con đến đó để khuyên nhủ và chỉ bảo điều hay, điều phải, có lợi ích cho họ. Con nghĩ rằng không vì thế mà họ lại la ó hay chửi mắng con.
– Này Punna, nếu lúc thầy đang thuyết pháp mà có người la ó và chửi mắng thầy thì thầy nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ rằng họ vẫn còn tử tế với con, vì họ chỉ la ó và chửi mắng bằng miệng thôi chứ chưa ném đá và đồ ô-uế vào người con.
– Này Punna, nếu có người ném đá và đồ ô-uế vào người thầy thì thầy nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ rằng họ vẫn còn tử tế với con, vì họ chỉ từ xa ném đá và đồ ô-uế vào người con thôi chứ chưa đến bên cạnh dùng gậy đánh đập con.
– Này Punna, nếu có người đến bên thầy, dùng gậy đánh đập thầy thì thầy nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, con sẽ nghĩ rằng họ vẫn còn tử tế với con, vì họ chỉ dùng gậy đánh đập con thôi chứ chưa dùng dao bén giết con.
– Này Punna, nếu có người mang dao bén đến để giết thầy thì thầy nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, con nghĩ rằng chết vì đạo pháp thật là vinh hạnh, và như thế họ đã giúp con được toại nguyện, đồng thời họ cũng giúp con thoát khỏi cuộc đời ô-trược dẫy đầy phiền não và đau khổ này.
– Lành thay! Punna, thầy có đầy đủ khả năng để giáo hóa họ. Vậy thầy hãy chuẩn bị lên đường đi Thâu-lô-na đi. Như Lai tin rằng thầy sẽ đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.
Thượng tọa Punna Mantaniputta phụng mệnh, đến xứ Thâu-lô-na hoằng dương chánh pháp. Trong vòng một năm, ngài độ được 500 người làm cư sĩ và làm lễ xuất gia cho 500 người làm khất sĩ. Về sau ngài nhập Vô-dư Niết-bàn tại đây. Trong hội Pháp-Hoa, đức Phật thọ ký cho ngài sẽ thành Phật hiệu là Pháp-Minh Như-Lai (Dhammaprabhasa Tathagata).
Phật thuyết kinh “Hải Bát Ðức” [32]
Mùa xuân năm sau, đức Phật du hành về miền đông. Ngài tới Vesali, Campa rồi theo dòng sông Ganga ra đến tận miền duyên hải, vịnh Bengal, để giáo hóa. Một hôm, đang ngồi trên một tảng đá bên bờ biển, Thượng tọa Ananda nói với Phật:
– Bạch Thế Tôn, ngồi bên bờ biển, theo dõi hơi thở với không khí trong lành, mắt nhìn những lượn sóng nối tiếp nhau nhô lên từ ngoài khơi, nổi lên càng lúc càng cao vừa chạy vào bờ, rồi vỡ tan thành một vùng bọt trắng phau trên bãi cát, hoặc đập vào những tảng đá lớn, bắn tung tóe lên cao, tai nghe điệu nhạc trầm hùng vang lên từng chập, tâm con tự nhiên được an trú trong hiện tại một cách thật thoải mái. Bạch Thế Tôn, con thấy phong cảnh nơi đây quả thật là một trợ duyên tốt cho việc tu tập.
Ðức Phật gật đầu, làm thinh.
Một hôm khác, trong khi đi khất thực, Thượng tọa Ananda có dịp nói chuyện với một ngư dân trên bãi biển, thầy hỏi:
– Này anh, tôi mới đến vùng biển lần đầu nên cảm thấy rất thích thú phong cảnh nơi đây. Còn như anh sanh sống nơi đây từ lâu, anh cảm thấy phong cảnh nơi đây thế nào?
– Thưa thầy, con đã sinh trưởng nơi đây và hiện đang sinh sống với nghề đánh cá. Con rất thích sống nơi đây. Con rất thích biển. Ba con cũng thế. Ba con đã dạy con về tám đức tính của biển như sau:
1) Biển có những bãi cát thoai thoải đưa ta đi từ từ xuống nước, khiến cho việc thả thuyền và kéo lưới được dễ dàng.
2) Biển luôn luôn ở một chỗ, khiến cho ai muốn ra biển thì biết ngay phải đi hướng nào.
3) Biển không chấp nhận thây chết. Khi có thây chết, biển luôn luôn đẩy nó lên bãi.
4) Biển chấp nhận nước của tất cả các dòng sông, dù đó là sông Ganga, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu hay sông Mahi. Sông nào ra tới biển thì cũng bỏ tên riêng của mình mà hòa đồng với biển cả.
5) Tuy ngày đêm, muôn sông liên tiếp đổ nước ra biển, biển cũng không vì vậy mà có khi vơi khi đầy.
6) Nước biển ở đâu cũng có vị mặn.
7) Biển chứa rất nhiều san hô, xa cừ và ngọc quý.
8) Biển là nơi sinh sống thoải mái của vô số sinh vật, có loài lớn hơn voi, có loài nhỏ hơn sợi chỉ.
Thưa thầy, biển đối với con rất quý. Biển là sự sống của con, là niềm vui của con, là thiên đàng của con.
Thượng tọa Ananda hơi ngạc nhiên về sự nói năng lưu loát của anh dân chài trẻ chỉ độ 25-26 tuổi. Anh ta có nước da sạm đen, hai mắt tròn sáng long lanh dưới đôi lông mày rậm và vầng trán cao, nét mặt luôn luôn tươi cười vui vẻ, miệng nói rất có duyên. Chiều hôm ấy thầy kể lại cho Phật nghe câu chuyện gặp gỡ giữa thầy và anh dân chài.
Qua hôm sau, sau giờ ngọ trai bên ven rừng gần bờ biển, trước các vị khất sĩ và một số đông dân chúng địa phương, Phật nói kinh “Hải Bát Ðức” như sau:
– Này các thầy, này quý vị, nếu chúng ta để ý quan sát biển cả chúng ta sẽ thấy biển rộng lớn bao la, dung chứa và nuôi sống vô số chúng sanh. Ðược như vậy là vì biển có nhiều đức tính đáng quý. Giáo pháp giác ngộ và giải thoát của Như Lai cũng có nhiều đức tính cao quý mà quý vị nên biết:
1) Biển có những bãi cát thoai thoải có thể đưa ta đi từ từ xuống nước, khiến cho việc thả thuyền và kéo lưới được dễ dàng. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Chánh Pháp có đủ các trình độ từ dễ đến khó, từ cạn đến sâu, từ thế gian pháp đến xuất thế gian pháp, để giúp cho tất cả mọi người thuộc đủ các thành phần, trình độ và căn tánh, từ trẻ đến già, từ kẻ ít học đến giới trí thức, từ người cùng đinh đến bậc vua chúa, ai ai cũng có thể tìm thấy trong Chánh Pháp một vài pháp môn tu học thích hợp với khả năng và sở thích của mình.
2) Biển luôn luôn ở một chỗ, khiến cho ai muốn ra biển thì biết ngay phải đi hướng nào. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Tứ Diệu Ðế, Mười Hai Nhân Duyên, Bát Chánh Ðạo, 37 phẩm trợ đạo, vô thường, khổ, không, vô ngã, năm giới, mười giới, cụ túc giới … đều là những sự thật bất di bất dịch, khiến cho bất cứ ai muốn tu tập đều biết rõ con đường mình phải đi, pháp môn mình phải hành trì, không thể lầm lẫn được.
3) Biển không chấp nhận thây chết. Khi có thây chết, biển luôn luôn đẩy nó lên bãi. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Chánh Pháp không bao giờ dung túng vô minh, buông thả theo dục vọng và lười biếng. Người tu nếu còn đeo đuổi theo ba thứ đó thì sớm muộn gì cũng sẽ bị đẩy ra khỏi Chánh Pháp.
4) Biển chấp nhận nước của tất cả các dòng sông, dù đó là sông Ganga, sông Yamuna, sông Aciravati, sông Sarabhu hay sông Mahi. Sông nào ra tới biển thì cũng bỏ tên riêng của mình mà hòa đồng với biển cả. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Bất cứ người thuộc giai cấp nào trong xã hội cũng được tiếp đón một cách bình đẳng vào giáo đoàn khất sĩ, bỏ lại phía sau tất cả mọi quá khứ vinh quang hay ô nhục của mình.
5) Tuy ngày đêm, muôn sông liên tiếp đổ nước ra biển, biển cũng không vì vậy mà có khi vơi khi đầy. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Dù có đông người theo hay có ít người theo, dù có đông người thuộc giai cấp cao sang trong xã hội theo hay có đông người thuộc giai cấp thấp hèn trong xã hội theo, thì giá trị của Chánh Pháp cũng không vì thế mà tăng hay giảm. Người chân tu theo Chánh Pháp vẫn luôn luôn đạt được thánh quả.
6) Nước biển ở đâu cũng có vị mặn. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, Chánh Pháp cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát.
7) Biển chứa rất nhiều san hô, xa cừ và ngọc quý. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Người tu theo Chánh Pháp sẽ được rất nhiều điều quý báu như tứ vô sở úy[33], lục thông, tam minh, chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh.
8) Biển là nơi sinh sống thoải mái của vô số sinh vật, có loài lớn hơn voi, có loài nhỏ hơn sợi chỉ. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Trong Chánh Pháp có rất nhiều thánh chúng, từ các vị Ðại Bồ-Tát, các vị A-la-hán cho đến các vị mới chứng quả Nhập-lưu đều cảm thấy rất thanh nhàn, thoải mái.
Này quý vị, biển là một nguồn cảm hứng, là một kho tàng vô tận. Chánh Pháp của Như Lai cũng thế. Chánh Pháp là một nguồn cảm hứng, là một kho tàng vô tận.
Trong thính chúng hôm nay có anh dân chài đã nói chuyện với thầy Ananda hôm qua và đã được thầy mời đến nghe Phật thuyết pháp. Anh ta rất ngạc nhiên khi nghe Phật lập lại đúng tám đức tính lớn của biển mà anh ta vừa nói với thầy Ananda hôm qua và lồng vào đó tám đức tính lớn của giáo pháp. Anh ta cảm thấy Phật thuyết pháp thật hay, thật dễ hiểu. Trên đường về nhà, anh ta như vẫn còn nghe rõ bên tai từng câu, từng tiếng nói của Phật. Về đến xóm chài, anh ta thuật chuyện lại cho những người chưa được nghe và khuyến khích họ nên đến nghe Phật thuyết pháp kỳ tới.
Những mầm móng chia rẽ không đáng ngại[34]
Rời miền duyên hải thuộc vịnh Bengal, Phật trở về thành phố Pataliputta (hiện nay là Patna) trên bờ sông Ganga. Từ Pataliputta, Phật đi về hướng bắc đến Vesali. Rồi từ Vesali, Phật đi về hướng tây-bắc, đến thành phố Samagama thuộc vương quốc Sakya. Ở đây Phật được biết tin vị giáo chủ đương thời của phái Nigantha (Jaina) là Nataputta vừa mới qua đời tại thành phố Pava. Ông hưởng thọ 72 tuổi. Giáo đoàn du sĩ Nigantha hiện đang chia rẽ trầm trọng thành hai cánh chống đối nhau kịch liệt về mặt giáo lý cũng như về mặt tổ chức, khiến cho giới đệ tử tại gia rất đau khổ và phân vân không biết nên theo ai. Trong 11 vị đệ tử lớn của ông có nhiều vị thua buồn, tuyệt thực chết theo thầy.
Chú sa-di Cunda, thị giả của Thượng tọa Sariputta đã tới gặp Thượng tọa Ananda và kể lại những chuyện trên do chú nghe được trong lúc Thượng tọa Sariputta đi hoằng hóa ở thành phố Pava. Sau khi kể lại cho Phật nghe chuyện chia rẽ của giáo phái Nigantha, thầy Ananda rầu rầu nói:
– Bạch Thế Tôn, có cách nào tránh được sự chia rẽ của giáo đoàn sau khi Thế Tôn diệt độ không?
– Này Ananda, có bao giờ thầy thấy các vị khất sĩ tranh chấp và cãi nhau về nội dung của giáo pháp không?
– Bạch Thế Tôn, con chưa thấy có huynh đệ nào tranh chấp và cãi nhau về nội dung của giáo pháp. Nhưng con nghĩ khi Thế Tôn còn tại thế, nhờ oai đức của Thế Tôn nên mọi việc đều được dễ dàng, yên ổn. Nhưng một khi Thế Tôn nhập niết-bàn rồi thì, giáo đoàn thiếu sự lãnh đạo của Thế Tôn có thể xảy ra những vụ bất đồng ý kiến và tranh chấp về giới luật, tổ chức và sinh hoạt. Con còn nhớ cuộc tranh chấp trước đây tại tinh xá Ghosita ở Kosambi vào hạ thứ 9 giữa hai nhóm kinh sư và luật sư đã làm cho các huynh đệ và giới cư sĩ phiền muộn không ít.
– Này Ananda, thầy chớ quá lo ngại. Chừng nào trong giáo đoàn có sự tranh chấp và bất đồng ý kiến với nhau về phần giáo lý căn bản như Tứ Diệu Ðế, 37 phẩm trợ đạo, vô thường, khổ, không, vô ngã … thì đó mới là điều đáng ngại, vì điều đó chứng tỏ rằng Chánh Pháp không còn được thông hiểu trọn vẹn nữa. Còn những tranh chấp về giới luật, tổ chức và sinh hoạt, thuộc về những chi tiết không đáng ngại lắm, chưa phải đến thời mạt pháp.
Tuy được Phật trấn an, Thượng tọa Ananda vẫn cảm thấy lo lắng. Thầy mới nghe tin tại Vesali, đại đức Sunakkhatta[35], trước kia đã từng làm thị giả cho Phật, tu đến tứ thiền, nay đã rời bỏ giáo đoàn khất sĩ vì những bất mãn riêng tư. Sunakkhatta đã bắt đầu thuyết pháp chống lại Phật và giáo đoàn. Thầy nói sa-môn Gotama cũng chỉ là người thường thôi, không có gì đặt biệt, và giáo pháp của sa-môn Gotama chỉ đem tới giải thoát cho cá nhân, không có ích lợi gì cho xã-hội. Sunakkhatta đã bắt đầu gây hoang mang trong quần chúng. Ðiều này chính Thượng tọa Sariputta cũng đã biết.
Ngoài ra Thượng tọa Ananda còn nghe nói đến mầm chia rẽ đã manh nha trong giáo đoàn ở thủ-đô Rajagriha. Thượng tọa Devadatta đang âm thầm tổ chức một giáo đoàn khất sĩ độc lập, đặt căn cứ tại núi Gayasisa cách Rajagriha chỉ độ 50 km về phía tây-nam. Cộng tác với thầy Devadatta có nhiều thầy cũng thuộc hạng giỏi như các Thượng tọa Kokalika, Kotamoraka Tissa, Khandadeviputta và Samuddadatta. Thầy Devadatta vốn là một trong những đệ tử xuất sắc của Phật. Chính Thượng tọa Sariputta đã nhiều lần ca ngợi Thượng tọa Devadatta trong các buổi họp chúng tại Rajagriha. Thượng tọa Sariputta đối xử với Thượng tọa Devadatta như một người bạn thân. Vậy mà gần đây Thượng tọa Devadatta đã tỏ vẻ ganh tỵ với Thượng tọa Sariputta và ngay cả với Phật.
Thầy Ananda không biết đã có ai trình lên Phật các vụ này chưa. Riêng thầy, thầy thấy rất ngại phải nói với Phật những chuyện đau buồn như thế.
Phật dạy Tam Pháp Ấn[36]
Mùa mưa năm nay Phật nhập hạ tại tinh xá Jetavana ở thủ-đô Sravasti, xứ Kosala. Một hôm, vào đầu mùa an cư, Thượng tọa Ananda, trong lòng không an, lo sợ sau này trong giáo đoàn khất sĩ sẽ có tranh chấp về giáo pháp như đã xảy ra trong gíáo phái Nigantha. Thầy bèn thỉnh Phật nêu rõ những điểm căn bản trong giáo lý của ngài:
– Bạch Thế Tôn, sau này khi Thế Tôn nhập diệt rồi, làm sao biết giáo lý nào là đúng Chánh Pháp, là đích thật do Thế Tôn giảng dạy, giáo lý nào là không đúng Chánh Pháp, không phải do Thế Tôn giảng dạy?
– Lành thay, này Ananda, có Pháp Ấn mầu nhiệm để nhận ra đâu là Chánh Pháp. Như Lai sẽ giảng nói, quý vị hãy giữ tâm thanh tịnh, chăm chỉ lắng nghe. Pháp ấn là con dấu chứng thực tính cách xác thật của Chánh Pháp. Có ba pháp ấn là Vô-thường, Vô-ngã và Niết-Bàn[37].
1) Thứ nhất là Hành Vô-Thường Ấn (Anityah-sarva-samskarah), còn gọi là Nhất Thiết Hành Vô-Thường Ấn hay Nhất Thiết Hữu Pháp Vô-Thường Ấn. Này quý vị, Như Lai nói tất cả các pháp hữu vi ở thế gian đều vô-thường, vô thường là nhân của khổ. Chúng sanh mê muội, đối với vô thường mà chấp là thường, là vui, cho nên phải chịu phiền não và luân hồi đau khổ. Nói đúng như thế là Phật nói; nói không đúng như thế là ma nói.
2) Thứ nhì là Pháp Vô Ngã Ấn (Niratmanah-sarva-dharmah), còn gọi là Nhất Thiết Pháp Vô Ngã Ấn. Này quý vị, Như Lai nói tất cả các pháp hữu vi cũng như vô vi ở thế gian đều vô ngã, không thật có. Chúng sanh mê muội, đối với vô ngã mà chấp là có ngã, rồi chính cái ngã vọng lập đó trở thành cái nhà chứa đầy phiền não, và trở thành con thuyền nghiệp lực đưa chúng sanh vào dòng sanh tử. Nói đúng như thế là Phật nói; nói không đúng như thế là ma nói.
3) Thứ ba là Niết-Bàn Tịch-Tĩnh Ấn (Satamnirvanam) còn gọi là Niết-Bàn Tịch-Diệt Ấn. Như Lai nói vắng lặng, thanh tịnh và sáng suốt là hạnh phúc chân thật, là niết-bàn. Chúng sanh mê muội, chạy theo các dục lạc ở thế gian, cho đó là vui, là khoái lạc, là hạnh phúc, không biết đó là nguyên nhân của tham lam, giận tức, si mê, phiền não, đau khổ … Nói đúng như thế là Phật nói, nói không đúng như thế là ma nói.
Này quý vị, bất cứ một giáo lý nào hay một pháp môn nào không có ba Pháp Ấn đó thì chắc chắn giáo lý đó, pháp môn đó không phải của Như Lai. Ba con dấu đó cũng là ba cánh cửa để đi vào thế giới giải thoát. Vì vậy Tam Pháp Ấn cũng là Tam Giải Thoát Môn, quý vị nên tinh tấn nương theo đó mà tu tập.
Ðức Phật vừa dứt lời, Thượng tọa Ananda, Thượng tọa Sariputta và các vị đại đệ tử đều bước ra đảnh lễ tạ ơn Phật. Thượng tọa Ananda nói:
– Bạch Thế Tôn, Tam Pháp Ấn của Thế Tôn thật là quý báu! Con nguyện sẽ đem hết sức lực và sanh mạng của con để bảo trì Tam Pháp Ấn suốt đời con và truyền lại nguyên vẹn cho hậu thế.
Thượng tọa Sariputta nói:
– Bạch Thế Tôn, Tam Giải Thoát Môn của Thế Tôn thật là huyền diệu! Con nguyện sẽ đem hết khả năng của con để hướng dẫn và giảng giải lại cho các huynh đệ còn sơ cơ để ngọn đuốc Tuệ của Thế Tôn được lưu truyền mãi cho hậu thế.
Nên học giáo lý bằng tiếng mẹ đẻ
Qua ngày hôm sau, hai đại đức Yamelu và Tekula đến tịnh thất Phật xin phép được viết lại các bài pháp của Phật bằng chữ Sanskrit. Hai đại đức này là anh em ruột, thuộc dòng dõi Bà-la-môn, nổi tiếng là lảu thông văn chương, cú pháp cổ ngữ Sanskrit trong kinh Veda. Hai thầy cũng nổi tiếng về việc xướng tụng kinh Veda, giọng của hai thầy rất thanh tao, trong như tiếng chuông đồng, hùng mạnh như tiếng trống. Hai thầy đến đảnh lễ Phật rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn, chúng con muốn xin phép Thế Tôn được viết lại những bài pháp thoại của Thế Tôn bằng chữ Sanskrit. Trong khi thuyết pháp Thế Tôn thường dùng ngôn ngữ Pali tại Magadha. Nhưng các thổ ngữ Pali hiện nay rất khác nhau nên việc hoằng pháp nhiều khi gặp trở ngại. Các vị khất sĩ khi dùng thổ ngữ Pali để thuyết giảng cho dân chúng nhiều khi đã vô tình bóp méo ý của Thế Tôn. Chúng con nghĩ cổ ngữ Sanskrit đã được phổ biến đồng nhất ở mọi nơi. Vậy nếu các bài pháp của Thế Tôn được viết bằng Sanskrit thì tất cả các vị khất sĩ và các học giả cư sĩ đều có một tài liệu đồng nhất và chính xác, không sợ bị sai lệch.
Ðức Phật im lặng một lát rồi đáp:
– Các thầy làm như thế e cũng không tiện. Giáo pháp là một thực thể linh động. Ngôn ngữ, văn tự là phương tiện để chuyên chở giáo pháp, phải là những sinh ngữ đang được sử dụng mới có thể được dân chúng tiếp thu dễ dàng. Nếu trình bày giáo pháp bằng một cổ ngữ thì chỉ những học giả hay người trí thức mới hiểu được. Như vậy giáo pháp sẽ trở thành một pho tượng chứ không còn là một con người sống động nữa. Này Yamelu và Tekula, người xuất gia cũng như tại gia đều nên học hỏi giáo pháp bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình. Như vậy giáo pháp mới linh động và dễ hiểu.
Hiểu được ý Phật, hai đại đức Yamelu và Tekula đảnh lễ Phật rồi lui ra.
6- Hạ thứ 26 tại Jetavana (năm -564)
Nên làm gì khi biết mình sắp chết[38]?
Một hôm, Phật đang đi thiền hành đến cổng tinh xá Jetavana thì thấy xa giá của vua Pasenadi cũng vừa dừng lại trước cổng. Hai người còn đang đứng trò chuyện thì có bảy vị du sĩ phái Nigantha đi ngang qua. Họ là những người tu khổ hạnh, lõa thể, tóc và râu không cạo, móng tay móng chân để dài. Trong thấy họ, vua Pasenadi xin lỗi Phật, rồi bước đến chào đón các vị du sĩ. Vua Pasenadi lạy xuống rất cung kính trước bảy vị du sĩ, vừa nói:
– Thưa các vị hiền đức, trẫm là Pasenadi, vua nước Kosala, xin đảnh lễ chư vị.
Vua lạy và nói ba lần như thế, rồi mới từ giã họ và trở lại với Phật. Ðợi họ đi khuất, vua hỏi:
– Bạch Thế Tôn, theo Thế Tôn thì trong bảy vị du sĩ đó có vị nào chứng quả A-la-hán chưa? Hoặc có vị nào sắp chứng được quả vị ấy?
– Thưa Ðại vương, Phật đáp, ngài sống cuộc đời vương giả, thân cận với giới chính trị nhiều hơn với giới tu sĩ nên ngài khó biết được ai là người đã tu chứng và được giải thoát. Chỉ khi nào ta sống bên họ lâu ngày, có thì giờ nhận xét họ trong mọi cử chỉ, hành động, lời nói, ta mới biết được họ đã có thực chứng hay chưa. Ðối với người đã quen sống với giới tu sĩ thì việc nhận xét có phần dễ dàng hơn. Nhưng thực ra việc tu chứng là việc riêng của từng người. Mỗi người nên tự cố gắng học hỏi giáo pháp cao thượng rồi mang ra thực hành trong đời sống hằng ngày. Tu chứng tới đâu liền tự biết lấy, đâu cần phải được ai ấn chứng. Việc quan trọng là khi mới được chút ít đừng vội vui mừng tự cho là đủ, là hơn người, vì như thế sẽ bị lạc vào tà đạo. Phải luôn luôn tinh tấn, tự giác, giác tha, cho đến khi giác hạnh được viên mãn, không còn chấp pháp, chấp ngã, mới thật sự được giải thoát.
– Bạch Thế Tôn, trẫm nay đã 60 tuổi. Trẫm nghĩ là trẫm phải để nhiều thì giờ hơn vào việc tu học, quán tưởng, thiền tọa và thiền hành. Nhưng công việc triều chính quá bận rộn. Sau bữa ăn trưa và bữa ăn tối thì trẫm cảm thấy mỏi mệt và buồn ngủ. Do đó việc tu tập không được mấy tiến bộ. Thế Tôn có phương pháp nào hay chỉ cho trẫm không?
– Thưa Ðại vương, việc triều chính Ðại vương nên giao bớt lại cho các quan đại thần trông coi theo đường lối chính trị ích nước lợi dân của Ðại vương và triều thần đã vạch ra. Về các bữa ăn, Ðại vương nên chú trọng về phẩm chất dinh dưỡng và bớt số lượng thức ăn. Vì ăn nhiều làm cho cơ thể mỏi mệt và sanh ra buồn ngủ.[39]
Thưa Ðại vương, Ðại vương nay đã 60 tuổi rồi. Ðại vương thử nghĩ nếu bây giờ có một người hộ vệ thân tín của Ðại vương từ phương đông trở về báo cáo với Ðại vương là có một hòn núi vĩ đại đang tiến dần từ phương đông tới, và trên đường đi trái núi ấy nghiền nát tất cả mọi chướng ngại vật, không có gì ngăn cản được nó. Ðại vương đang lo lắng thì lại có một người thân tín khác về báo cáo là có một hòn núi vĩ đại khác đang từ phương tây tiến tới. Rồi lại có những người thân tín khác báo cáo là có một hòn núi vĩ đại đang từ phương nam tiến tới, và một hòn núi vĩ đại đang từ phương bắc tiến tới. Không có đường nào tránh được bốn ngọn núi oan nghiệt đó. Vậy Ðại vương sẽ làm gì trong tình trạng ấy?
Vua Pasenadi ngẫm nghĩ giây lát rồi nhìn Phật, đáp:
– Bạch Thế Tôn, trẫm nghĩ trong trường hợp ấy thì chỉ còn một việc đáng làm mà thôi. Ðó là sống những ngày còn lại thật xứng đáng, thật trầm tĩnh, đúng theo Chánh Pháp.
– Lành thay! Ðại vương. Bốn ngọn núi oan nghiệt đó là bốn ngọn núi Sanh, Già, Bệnh, Chết. Chúng nó tiến tới từ từ, từng giây, từng phút, một cách chắc chắn. Không có gì ngăn cản chúng được. Không ai ở thế gian này có thể tránh khỏi. Chỉ có Chánh Pháp giác ngộ giải thoát mới có thể giúp ta vượt khỏi bốn hòn núi ấy khi ta đã có đầy đủ nguyện lực, định lực, trí tuệ và giác hạnh.
– Bạch Thế Tôn, trẫm đã hiểu. Ðứng trước vấn đề sinh tử không có gì khác quan trọng và đáng làm hơn là tinh tấn tu tập giác ngộ và giải thoát.
– Ðúng vậy! Ðại vương cứ theo đó mà hành trì.
Bốn người mù sờ voi[40]
Mùa mưa năm nay, các đạo sĩ Bà-la-môn và các giáo phái khác tựu về Sravasti đông lắm. Các buổi thuyết giảng của họ được tổ chức khắp nơi. Thỉnh thoảng dân chúng thủ đô còn được dự thính những cuộc đàm luận giữa những vị đại diện của các giáo phái khác nhau. Những chủ thuyết khác nhau có dịp được trình bày, đưa ra so sánh và tranh luận.
Trong giới khất sĩ và đệ tử tại gia của Phật cũng có nhiều người dự thính những cuộc đàm luận này. Trở về tinh xá, họ kể lại cho Phật và các vị đại đệ tử những điều họ đã nghe và thấy. Họ nói phần lớn các đề tài tranh luận đều thuộc vấn đề siêu hình. Vị đạo sư nào cũng cho thuyết của giáo phái mình là đúng, ai nói khác là sai. Các cuộc tranh luận thường khởi đầu một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng lần hồi đi đến to tiếng và nặng lời với nhau. Rốt cuộc người nghe vẫn không biết đâu là chân lý.
Ðức Phật mỉm cười kể cho các đệ tử nghe câu chuyện ngụ ngôn “Bốn người mù sờ voi” như sau:
– Xưa kia có một ông vua hiền triết, khi nghe các vị đại thần tranh luận với nhau mãi về phương pháp an bang tế thế mà không thể đi đến một kết luận nào thỏa đáng, bèn gọi quân hầu mang ra giữa sân chầu một con voi to lớn và bốn người mù từ khi mới sanh. Nhà vua bảo quân hầu đưa bốn người mù đến sờ voi rồi nói lớn lên cho mọi người nghe con voi như thế nào, ai mô tả đúng trước nhất sẽ được trọng thưởng.
Người mù thứ nhất sờ nhằm bụng voi, liền nói lớn “Tâu Bệ-hạ, con voi giống như cái thúng nhưng to hơn nhiều”. Người mù thứ hai sờ nhằm tai voi, vội cãi “Tâu Bệ-hạ, con voi không phải giống cái thúng lớn, nó giống như một cây quạt lớn nhưng rất dịu dàng”. Người mù thứ ba sờ nhằm đuôi voi, lại cãi “Tâu Bệ-hạ, con voi không phải giống cái thúng lớn, cũng không giống cây quạt, nó giống như cây chổi cùn hay cây phất trần, nhưng cái cán dịu dàng, cong qua cong lại được”. Người mù thứ tư sờ nhằm chân voi, anh ta sờ từ trên xuống dưới một hồi rồi quả quyết nói “Tâu Bệ-hạ, cả ba anh mù kia đều nói sai cả, con đã sờ thật kỹ, con voi không phải giống cái thúng, cũng không giống cây quạt, cũng không giống cây chổi cùn hay cây phất trần, theo con thì con voi giống như cây cột nhà tròn nhưng rất sần sùi, không được trơn láng”.
Nhà vua cười nói “Các ngươi đều nói đúng cả, nhưng chỉ đúng một phần thôi. Vậy tiền thưởng được chia ra đồng đều cho cả bốn người”. Rồi nhà vua quay sang các vị đại thần, nói “Các khanh đều có lý cả, vì mỗi người đều căn cứ vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình mà nói. Có người thì đứng trên bình diện kinh tế mà nói; có người thì đứng trên bình diện xã hội mà nói; có người thì đứng trên bình diện luật pháp và an ninh mà nói; có người đứng trên bình diện quân sự mà nói. Thay vì tranh cãi nhau, các khanh nên học hỏi và rút tỉa kinh nghiệm của nhau để cùng nhau vạch ra một đường lối chính trị chung tốt đẹp trên nhiều bình diện để mang ra áp dụng cho dân chúng”.
Này các vị khất sĩ và cư sĩ, quí vị nên bình tỉnh lắng nghe tất cả, rồi dùng trí sáng suốt của mình mà nhận xét xem điều nào đúng với Chánh Pháp, có thể đưa đến hạnh phúc chân thật, giác ngộ và giải thoát, thì quí vị nên học hỏi thêm rồi mang ra áp dụng trong đời sống hằng ngày của quí vị. Người tu học phải có tâm khiêm cung và phóng khoáng. Người bị kiến chấp và kiến thủ ràng buộc thì dù chân lý có đến nhà họ gõ cửa, họ cũng không chịu mở cửa cho vào.
7- Hạ thứ 27 tại Jetavana (năm -563)
Thầy Vangisa hộ trì sáu căn[41]
Ðại đức Vangisa nổi tiếng là một vị khất sĩ vừa có biện tài vừa có khiếu về văn chương. Thầy rất có tâm hồn thi sĩ nói riêng và nghệ sĩ nói chung. Hồi mới xuất gia, thầy được theo học với vị y-chỉ-sư của thầy là Thượng tọa Nigrodhakappa. Hai thầy trò cư trú tại một ngôi đền ở ngoại ô thành Sravasti. Sau khi trưởng lão Nigrodhakappa tịch, thầy về nhập chúng tại tinh xá Jetavana. Một hôm, thầy Vangisa tâm sự với thầy Ananda rằng tâm thầy không được an tịnh và khẩn cầu thầy Ananda hóa giải dùm. Hỏi ra, thầy Ananda biết rằng, vốn có tâm hồn nghệ sĩ, thầy Vangisa thường cảm thấy rung động, xao xuyến trước nhan sắc của các tiểu thư đến cúng dường tại tinh xá. Thầy Ananda nói:
– Này huynh đệ Vangisa, có nhiều vị khất sĩ trước kia cũng có tâm trạng như thầy đã được đức Thế Tôn dạy pháp quán bất tịnh. Huynh đệ nên quán chiếu tấm thân kiều diễm của nữ giới như một túi da mong manh chứa đầy dẫy những thứ bất tịnh bên trong như máu mủ, đờm dãi, phân, nước tiểu, chẳng bao lâu sẽ đến lúc già nua, bệnh hoạn, thân thể sẽ thúi nát, tan rã, chẳng còn gì là đẹp đẽ nữa. Trong khi đó Chánh Pháp, Tam Bảo là những gì quý giá, cao thượng, mang đến hạnh phúc chân thật cho mọi người, thì đó mới là cái đẹp xuất trần, thanh tịnh, vĩnh cửu.
Hơn nữa, này huynh đệ, đức Thế Tôn lại thường nhắc nhở các vị khất sĩ phải tinh tấn thực tập hộ trì sáu căn, gìn giữ cho sáu căn được thanh tịnh. Mắt không nên dính sắc, phải biết sắc là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã để sanh nhàm chán. Ðối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng thế. Ðức Thế Tôn từng nói “Này các vị khất sĩ, mắt là một đại dương sâu thẳm, trong đó có đầy dẫy những loài thủy quái, những con nước xoáy và những đợt sóng ngầm rất nguy hiểm. Nếu không đi vững chắc trong chánh niệm, con thuyền nghiệp thức của quý vị sẽ bị những loài thủy quái, những con nước xoáy và những đợt sóng ngầm ấy nhận chìm trong biển sắc. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý của quý vị cũng là những đại dương sâu thẳm, trong đó có đầy những loài thủy quái …”
Này huynh đệ Vangisa, tôi nghĩ rằng quán bất tịnh và hộ trì nhãn căn là những vị thuốc có thể chữa lành bệnh “nhãn thức” của huynh đệ.
Thầy Vangisa tạ ơn Thượng tọa Ananda, rồi từ đó thầy chuyên cần thực hành phép quán bất tịnh và hộ trì sáu căn. Thầy làm bài thơ tự tỉnh như sau:
Ðã khoác áo cà-sa,
Tham dục còn theo đuổi
Như trâu nhớ lúa người,
Quả thật là hổ thẹn!
Con của nhà đại tướng
Tài giỏi nghề cung tên
Ngàn quân bắn tứ phía
Vẫn phá được vòng vây.
Nhưng nay giai nhân đến
Sao đành chịu bó tay!?
An trú nơi Chánh Pháp
Ta quyết thắng trận này.
Ta đã theo Thế Tôn
Dòng họ của mặt trời[42]
Trên đường về thong dong
Tình ta đà trọn gởi.
Do hộ trì sáu căn
Ta ung dung tiến bước
Phiền não dù vô lượng
Nào lay chuyển được ta?
Thầy Vangisa là người thông minh tài giỏi nên dễ vướng vào tâm trạng tự cao. Có lần thầy thầm có ý khinh miệt các thầy khác, nhưng nhờ tu tập chánh niệm, thầy tự nhận ra tánh xấu của mình nên làm bài thơ sám hối như sau:
Ðệ tử Gotama,
Hãy đoạn trừ kiêu mạn!
Con đường kiêu mạn này
Chỉ đưa về khổ thú!
Kẻ kiêu mạn ngấm ngầm
Cũng đi về địa ngục
Huống chi là những kẻ
Vênh váo nhìn cuộc đời.
Học đạo, thấy đường ngay
Tâm hồn được an lạc
Niềm vui đó thật cao
Ta phải mau đạt tới.
Hãy tập giữ chánh niệm
Mới mong được tam minh.
Kiêu mạn đoạn trừ xong
Mới thành công thật sự.
Sau khi được Thượng tọa Ananda khai thị, thầy Vangisa đã vượt được nhiều chướng ngại. Thầy tiến bộ rất nhanh và đã được trưởng lão Sariputta xác nhận. Ngày tâm thầy bừng sáng, thầy làm bài thơ sau đây:
Ngày xưa say thơ mộng
Ta phiêu bồng khắp nơi
Cảnh chợ rồi cảnh quê
May thay được gặp Phật.
Thế Tôn đã thương xót
Dạy cho ta pháp mầu
Nghe xong khởi niềm tin
Khoát áo người khất sĩ.
An trú trong chánh pháp
Kiên cố, ta một lòng
Nay chứng được tam minh
Ðền ơn bậc tỉnh thức.
Hạt giống của mặt trời
Thế Tôn đà gieo rắc
Vì chúng sanh u tối
Người khai mở lối ra.
Bốn sự thật nhiệm mầu
Con đường tám nẻo chánh
An lạc và tự do
Nghĩa lời đều vi diệu.
Phạm hạnh đã cao siêu
Ðộ sanh càng khéo léo
Niết-bàn cứu muôn loài
Ơn sâu người chỉ dạy.
Thầy Sariputta, trong một buổi giảng dạy cho các vị khất sĩ trẻ, có đem trường hợp của thầy Vangisa ra để làm gương. Thầy bảo trong bước đầu tu học, thầy Vangisa cũng đã từng có những tình cảm và những tâm trạng yếu đuối, nhưng sau đó, nhờ tu học tinh chuyên pháp hộ trì sáu căn, thầy đã vượt thắng được mọi phiền não và chứng ngộ được diệu pháp. Hộ trì sáu căn là pháp môn rất mầu nhiệm để vững tiến trên đường đạo.
Các luận chấp và những câu hỏi về siêu-hình do đâu mà có[43]
Ðại đức Isidatta, người xứ Avanti[44], là một khất sĩ trẻ tuổi nhưng có nhiều tài năng và đạo hạnh. Một hôm, thầy và chín Thượng tọa cao niên được mời tới thọ trai tại tư gia của cư sĩ Citta tại thị trấn Macchikasanda. Cư sĩ Citta là người có đạo tâm, tinh thông giáo lý và cũng được dân chúng ái mộ gần như cư sĩ Anathapindika. Ông thường hay thỉnh các vị cao đức tới nhà để cúng dường trai phạn[45] và để học hỏi thêm về giáo lý. Sau khi cúng dường trai phạn xong, cư sĩ Citta đảnh lễ các vị khất sĩ rồi xin phép được ngồi xuống một bên. Ông từ tốn nêu câu hỏi sau đây:
– Bạch chư thượng tọa, con đã được nghe kinh Brahmajala (Phạm Võng), trong đó Phật nói về 62 luận chấp của các giáo phái đương thời. Con cũng từng nghe những câu hỏi về siêu hình như: Thế giới là hữu biên hay vô biên, vĩnh cửu hay phải đoạn diệt; linh hồn và thân xác là một hay là khác; con người sau khi chết thì cái gì còn cái gì mất, … Bạch chư thượng tọa, do đâu mà có những luận chấp và những câu hỏi siêu hình ấy?
Trước câu hỏi của cư sĩ Citta, tất cả các vị khất sĩ đều nín thinh. Citta lập lại câu hỏi này tới ba lần mà cũng không có vị khất sĩ nào lên tiếng trả lời cả. Vị khất sĩ trẻ Isidatta bỗng hướng về các vị trưởng lão, lên tiếng:
– Bạch chư thượng tọa, con có thể trả lời câu hỏi đó của cư sĩ Citta được không?
– Này huynh đệ, thầy có thể trả lời nếu thầy muốn.
Hướng về cư sĩ Citta, thầy Isidatta nói:
– Này đạo hữu, theo tôi nghĩ, sở dĩ có những luận chấp và những câu hỏi siêu hình ấy vì người ta còn vướng mắc vào ngã kiến. Một khi đã diệt được ngã kiến, người ta sẽ không còn luận chấp và thắc mắc như thế nữa.
Cư sĩ Citta lộ vẻ ngạc nhiên và thán phục. Song ông ta lại nói:
– Xin đại đức vui lòng giảng rõ hơn.
– Này đạo hữu, người không được gần các bậc thiện-tri-thức, không được học hỏi giáo pháp giác ngộ, thường chấp rằng thân thể này là ta, hoặc thân thể này là của ta, hoặc có ta trong thân thể này, hoặc thân thể này ở trong ta. Người ấy lại có thể chấp rằng cảm giác là ta hay là của ta. Người ấy lại có thể chấp rằng tư tưởng là ta hay là của ta[46] … Ðó là người đang bị vướng vào ngã kiến. Chính vì bị vướng vào ngã kiến, chính vì chấp có cái ta thật sự, nên mới có cái chấp ta là cái này hay ta không phải là cái này, ta ở trong cái này hay cái này ở trong ta …Do đó sinh ra 62 luận chấp mà đức Thế Tôn đã đề cập đến trong kinh Brahmajala (Phạm Võng). Cũng chính vì chấp ngã nên mới sanh ra các thắc mắc về hữu biên hay vô biên, thường hay đoạn, còn hay mất, đồng hay khác, vân vân … Này đạo hữu, một khi đã tu tập phá trừ được ngã kiến thì những luận chấp và những câu hỏi về siêu hình kia sẽ trở thành vô nghĩa.
Cư sĩ Citta hoàn toàn bị thầy Isidatta chinh phục. Ông kính cẩn hỏi:
– Bạch đại đức, quê ngài ở đâu?
– Thưa đạo hữu, quê tôi ở Avanti.
– Bạch đại đức, tôi nghe nói ở Avanti có một người trẻ tuổi tên Isidatta đã xuất gia. Ðó là một thanh niên thông minh lỗi lạc. Chẳng hay đại đức có biết người đó không?
– Thưa đạo hữu, tôi có biết.
– Thưa đại đức, vị khất sĩ tài đức ấy hiện đang ở đâu?
Ðại đức Isidatta im lặng. Cư sĩ Citta là người thông minh, ông biết ngay người đang ngồi trước mặt mình là Isidatta. Ông liền hỏi:
– Có phải đại đức chính là đại đức Isidatta đó không?
– Thưa phải.
– Vậy thì thật là quý hóa và hân hạnh cho tôi biết mấy. Bạch đại đức Isidatta, chúng tôi rất mong được đại đức đến viếng chúng tôi thường thường. Chúng tôi xin nguyện cúng dường đại đức tất cả những gì đại đức cần đến như thực phẩm, y phục, thuốc men và chỗ ở.
Thầy Isidatta im lặng. Sau đó các vị khất sĩ từ giã. Thầy Isidatta không có dịp nào trở lại nhà cư sĩ Citta nữa.
[1] Ðây là cây Bồ-Ðề lịch sử cao niên nhất được sùng bái và còn sống đến ngày nay.
[2] Kinh Kalingabodhi Jataka, số 479; Kinh Jataka, IV. 228.
[3] Paticca là “bởi vì” hay “tùy thuộc”. Samuppada là “phát sanh” hay “sanh khởi”. Vậy Paticca-samuppada có nghĩa là “Tùy thuộc phát sanh”. Thí dụ: Bởi vì có A nên B phát sanh. Bởi vì có B nên C phát sanh. Khi nào A diệt thì B cũng diệt. Paticca-samuppada là phương pháp quán chiếu để tìm nguồn gốc của đau khổ và sanh tử luân hồi của chúng sanh (nhân sinh quan), chứ không phải là phương pháp để tìm nguồn gốc của vũ trụ và vạn vật (vũ trụ quan).
[4] Xem kinh Ðại Bát-niết-bàn, quyển 2, phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát, trang 178.
[5] Xem Tạp-A-hàm 285; Anguttara Nikaya: Gotama.
[6] Có Hữu là có hiện-hữu, có Ngã, có Nghiệp, có Vật-sở-hữu.
[7] Có Thủ là có ý muốn giữ làm vật sở hữu, làm của riêng mình.
[8] Kinh Tạp A-hàm số 288; Kinh Anguttara-nikaya: Nalakalapiya.
[9] “Danh” là các sự vật vô hình. “Sắc” là các sự vật hữu hình. “Danh sắc” là nói chung tất cả các pháp, tất cả các sự vật hữu hình và vô hình.
[10] “Thức” là ý thức phân biệt, là cái biết của người thế tục.
[11] Nếu không có Thức thì lấy gì để biết có Danh Sắc? Nếu không có Danh Sắc thì làm sao có Ý Thức?
[12] Bánh chapati là món ăn rất thông dụng tại Ấn-độ, làm bằng bột mì, tương tợ như bột bánh pizza nhưng mềm, hình tròn và dẹp, lớn bằng bàn tay xòe, chỉ toàn bằng bột nướng. Lúc ăn, chấm với nước cà-ri.
[13] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 203-205; Anguttara-nikaya III, 65: kinh Kalama; Anguttara-nikaya IX, 11: kinh Sariputta-sihanada.
[14] Xem Samyutta-nikaya VI.1.10; Tạp A-Hàm 47; Tăng Nhất A-Hàm 19.
[15] Xem Tăng Chi Bộ (Anguttara-nikaya), tập I: kinh Các vị ở Kesaputta; Trung A-hám: kinh Anh Võ.
[16] Theo : Kinh Ðại Bát-niết-bàn: Phẩm Tứ-Y (8); Ðại Phương Ðẳng Ðại Tập: kinh 29; Luận Ðại Trí Ðộ 9; Luận Du-già-sư-địa 45; Ðại Thừa Nghĩa Chương 11; Thích Môn Quy Kính Nghi: tập thượng.
[17] Samyutta-nikaya.
[18] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 779.
[19] Xem Samyutta-nikaya.
[20] Xem Samyutta-nikaya; Jataka 96: Takkasila; Buddhist Legends, quyển III, trang 243-244.
[21] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 243-244.
[22] Cảm thọ: Cảm giác, tình cảm.
[23] Tâm ý : Ý kiến, ý thức, tư tưởng.
[24] Xem Samyutta-nikaya XXXV.84-85; Majjhima-nikaya 121; Tạp A-Hàm 232.
[25] Trong kinh Lăng-Nghiêm, Phật nói “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn; tri kiến vô kiến tức thị bồ-đề, niết-bàn vô lậu thanh-tịnh.” là nghĩa như thế.
[26] Ý này được khai triển trong Bát-Nhã Tâm Kinh.
[27] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 684, 685 và 687
[28] Cha mẹ bảy đời = Cha mẹ trong bảy đời sau cùng của chúng ta (theo tư tưởng Phật giáo). Khác với:
Cửu huyền thất tổ (theo Nho giáo) = Thất tổ gồm có 1) Ông nội ông ngoại (Tổ phụ), 2) ông Cố (Tằng tổ, Cao tổ), 3) ông Sơ (Huyền tổ), 4) ông Sờ (Lai tổ), 5) ông Sẩm (Côn tổ), 6) ông Cẩm (Nhưng tổ), 7) ông Kỷ (Vân tổ). Cửu huyền là vô số đời tổ trước ông Kỷ (chữ Cửu ở đây có nghĩa là vô-số).
[29] Quảng-quả thiên là tầng trời thứ nhất của Tứ Thiền.
[30] Xem Majjhima-nikaya 145; Samyutta-nikaya XXXV.63-64; Tạp A-Hàm 311.
[31] Theo “Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang” thì Thầy Punna Mantaniputta hoằng pháp tại xứ Thâu-lô-na ở phương tây. Theo “Phật Học Từ Ðiển” của Ðoàn-Trung-Còn thì tên xứ là Du-lư-na. Theo “Ðường Xưa Mây Trắng” của Hòa-Thượng Thích-Nhất-Hạnh thì tên xứ là Sunaparanta ở phương đông. Theo “Dictionnaire Encyclopédique du Bouddhisme” của Philippe Cornu thì tên xứ là Soparaka thuộc bờ biển Dekkan.
[32] Xem Anguttara-nikaya VIII.19; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 34-35; Ðại Bát Niết Bàn, tập 2, phẩm Sư Tử Hống Bồ-tát, trang 336.
[33] Tứ vô sở úy gồm có: Chánh đẳng giác vô úy, Lậu vĩnh tận vô úy, Thuyết chướng pháp vô úy, Thyết xuất đạo vô úy. Tứ vô sở úy có nghĩa là ở trong hoàn cảnh nào cũng an nhiên tự tại, không sợ hãi.
[34] Xem Majjhima-nikaya 104: Samagama-sutta.
[35] Sunakkhatta là anh cùng cha khác mẹ với Rahula.
[36] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 103-104.
[37] Theo kinh Ðại thừa thì Tam Pháp Ấn là “Không, Vô Tướng, Vô Tác”. “Không” là không thật tánh, là vô thường, là vô ngã. “Vô tướng” là không ý thức phân biệt; do 6 căn không đắm nhiễu 6 trần nên thấy vô tướng. “Vô tác” hay “vô nguyện” là không ham muốn, không tạo tác gây nghiệp, không theo đuổi.
[38] Xem Samyutta-nikaya III.3.5.
[39] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 206.
[40] Xem Udana VI.4.
[41] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 465-469; Tạp A-Hàm 1208-1221; Samyutta-nikaya VIII.1.1-12.
[42] Suryavamsa (Nhật-Chủng: dòng họ mặt trời) là một trong năm họ của đức Phật. Bốn họ kia là Gotama (Cồ-Ðàm), Okkaka (Cam-Giá), Sujata (Thiện-Sanh) và Sakya (Thích-Ca).
[43] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 470-472; Samyutta-nikaya XLI.1.2-3; Tạp A-Hàm 570.
[44] Theo Geography of Early Buddhism thì xứ Avanti có thủ đô là Ujjeni. Hiện nay Avanti là Mâlwa Nimâr.
[45] Cúng dường Trai phạn (Trai diên, Trai hội) là cúng dường vật thực cho Tam Bảo, người thí và kẻ thọ đều phải lấy cung kính làm tông chỉ và phải cẩn thận gìn giữ 3 nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh. Cúng dường Trai tăng (Sanghikadana) là ngoài việc cúng dường vật thực lại cúng dường thêm các vật dụng hằng ngày.
[46] Ðây là 62 kiến chấp: 5 uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) X 4 chấp (sắc là ngã, sắc là ngã sở, ngã ở trong sắc, sắc ở trong ngã; thọ là ngã, …) X 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai) + 2 chấp (có ngã, không ngã).
8- Hạ thứ 28 tại Jetavana (năm -562)
Thượng tọa Ananda và cô gái hạ tiện tên Prakriti[1]
Các trung tâm tu học tại Sravasti đang chuẩn bị cho mùa an cư thứ 28. Năm nay đức Phật được 62 tuổi và Thượng tọa thị giả Ananda được 43 tuổi. Một hôm Thượng tọa Ananda, y phục chỉnh tề, tay ôm bình bát, chân bước thong thả đều đặn từng bước, mắt nhìn xuống, vừa đi vừa quán niệm hơi thở theo đúng khuôn phép, vào thành Sravasti khất thực. Khi đã nhận vừa đủ vật thực, thầy tìm một nơi yên tĩnh mát mẻ để độ ngọ. Thọ thực xong, thầy đến cái giếng trong xóm để tìm nước uống. Vào lúc ấy có một thiếu nữ thuộc giai cấp hạ tiện (chandala) đang đến giếng lấy nước. Thượng tọa Ananda đến bên giếng, đứng lại, mắt nhìn xuống đất, hai tay ôm bát, thầy từ tốn nói:
– Xin cô cho tôi chút nước để giải khát.
– Bạch sa-môn, tôi là người thuộc giai cấp hạ tiện (chandala), tôi không dám đến gần thầy, sợ làm ô uế thầy.
– Này cô, tôi chỉ muốn xin chút nước để uống đỡ khát. Cô đừng ngại. Tôi đang cần nước để uống chứ tôi không cần biết người cho nước thuộc giai cấp nào.
– Tôi không dám đâu! Tôi không dám đến gần thầy. Người ta biết được thì tôi sẽ bị phạt đó.
– Này cô, tôi là Ananda, bổn sư của tôi là đấng Toàn Giác Gotama có dạy rằng bất cứ ai biết học hỏi và tu tập Chánh Pháp cũng đều có thể trở thành đấng Toàn Giác như ngài. Do đó tất cả mọi người đều bình đẳng, không nên phân biệt giai cấp. Thầy tôi nói:
“Là cùng đinh không phải do sanh trưởng,
“Không phải do sanh trưởng thành Bà-la-môn,
“Do hành động ta trở thành cùng đinh,
“Do hành động ta trở thành Bà-la-môn.[2]
Tôi không quan tâm đến giai cấp. Cô đừng sợ, hãy cho tôi xin chút nước.
Cô Prakriti ngó dáo dác xem có ai trông thấy không, rồi cô run rẩy trịnh trọng rót nước từ trong bầu vào bát của Thượng tọa Ananda, tim cô bắt đầu đập càng lúc càng nhanh. Thượng tọa Ananda nâng bát hớp từng ngụm nước, cúi đầu cám ơn cô Prakriti, rồi thầy quay gót trở về tinh xá Jetavana.
Nhưng cô Prakriti đứng ngẩn người nhìn theo gót chân thầy. Cô nhớ lại giọng nói diệu hiền từ tốn của thầy, nhớ hình dáng đẹp đẽ, phong cách trang nghiêm của thầy. Ôi! chưa bao giờ cô thấy một người đẹp trai phong nhã như thế. “Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước”, tiếng nói của thầy sao lại êm ái, dịu dàng, truyền cảm như thế!? Tại sao thầy không có chút gì xem thường một cô gái hạ tiện như cô? Ngần ấy câu hỏi lẫn lộn với những tình cảm vừa bồng bột vừa nhẹ lâng lâng làm cô đứng sững sờ nửa mê nửa tỉnh. Rồi cô như người mất hồn, thơ thẩn lần bước về nhà.
Về đến nhà, cô đặt bầu nước xuống, rồi cô ngồi phệt xuống đất, đôi mắt lờ đờ nhìn vào nơi vô định. Mẹ cô thấy thế, lo lắng hỏi:
– Này Prakriti, con làm sao thế? Con khó chịu trong người phải không? Ðể mẹ đánh gió cho.
– “Xin cho tôi chút nước, xin cho tôi chút nước”. Mẹ ơi! Chưa bao giờ con được nghe một giọng nói dịu dàng, trang nhã như thế! Chưa bao bao giờ con được thấy một người… một người … vừa đẹp, vừa sang, vừa đáng kính như thế!
– Người đó có cùng một giai cấp với chúng ta không?
– Thưa mẹ không. người đó đầu cạo trọc, mình khoác y vàng, tay ôm bình bát, xinh đẹp, trang nghiêm, nhã nhặn, đến xin con chút nước để giải khát.
– Con nói gì bậy bạ vậy? Ông ta là một sa-môn?
– Thưa mẹ, người ấy là Ananda, đệ tử của đức Gotama. Người ấy không chấp con thuộc giai cấp chandala. Người ấy xin con chút nước để uống. Chắc người ấy đã để ý đến con. Thưa mẹ, con van xin mẹ, con không thể sống xa người ấy. Xin mẹ hãy dùng tất cả bùa chú và phù phép, hãy tận dụng hết quyền lực thần thông của mẹ để đưa Ananda đến chung sống với con. Nếu không được vậy chắc con sẽ chết, con không sống nổi, con mà chết rồi thì đâu còn ai để chăm sóc cho mẹ!
– Này con yêu quý của mẹ, con có biết không? Ðức vua là tín đồ nhiệt thành của đức Phật Gotama, nếu vua biết được vụ nầy chắc mẹ con mình khó sống. Hơn nữa đức Gotama là một thánh nhân đầy đủ phép lạ và thần thông, tài của mẹ đâu thể sánh kịp.
– Thưa mẹ, con không còn biết gì nữa. Con chỉ biết chắc chắn rằng nếu không có Ananda bên cạnh thì con sẽ chết, con không sống nổi. Xin mẹ thương con.
Ðể đáp lại lời van xin khẩn thiết của người con gái duy nhất, bà Matangi[3] (Ma-đăng-già) dùng phân bò khô nhúm một bếp lửa ngoài sân. Bà ngồi lại một bên bếp lửa với 108 cành hoa arka và bắt đầu đọc thần chú Sankhya Kapila (Ta-tỳ-ca-la Tiên Phạm-thiên), rồi thỉnh thoảng bà ném một cành hoa vào lửa, cho đến hết 108 cành hoa arka.
Thượng tọa Ananda không thể cưỡng lại năng lực, sức quyến rũ mãnh liệt của chú thuật Sankhya Kapila. Thầy rời tinh xá Jetavana, quên hẳn quy chế xuất gia, đi thẳng đến nhà của người thiếu nữ chandala tên Prakriti. Bà Matangi trông thấy Thượng tọa Ananda sắp đến nhà, liền bảo con gái dọn sẵn một chỗ ngồi. Vừa lúc Prakriti sắp xếp xong thì thầy Ananda bước vô nhà, ngồi vào chỗ đã dọn sẵn. Thầy chú ý đến nụ cười và cử chỉ quyến rũ của Prakriti, có vẻ thuận chiều theo sự cám dỗ của cô. Vầng thái dương dần dần chìm xuống dưới chân trời. Bỗng Thượng tọa Ananda cảm thấy ngột ngạt, lúng túng, khó chịu. Thầy bỗng nghĩ đến đức Phật, liền cầu nguyện:
– Bạch Thế Tôn, đức bổn sư từ mẫn, xin Thế Tôn cứu con ra khỏi hiểm họa này.
Lúc bấy giờ đức Phật đang ở tinh xá Jetavana, linh cảm biết Thượng tọa Ananda đang bị nạn dâm thuật và đang cầu cứu đến ngài. Ðức Phật liền ngồi kiết già, đọc thần chú Thủ-Lăng-Nghiêm (Suramgama mantra), nhập đại định, đảnh phóng hào quang chiếu sáng đến nơi thầy Ananda đang bị nạn, phá tan chú thuật Sankhya Kapila.
Thầy Ananda bỗng nhiên tỉnh táo trở lại, thầy liền đứng lên, sửa lại y phục chỉnh tề, ôm bát bước ra khỏi nhà, đi mau về tinh xá.
Prakriti rất đau lòng xót dạ, nhưng cô quyết chí đeo đuổi theo mối tình đầu vừa chớm nở. Sáng sớm hôm sau, cô sửa soạn ăn mặc tươm tất với những đồ trang sức lộng lẫy nhất của mình, rồi đến đứng chờ Thượng tọa Ananda trên khoảng đường từ tinh xá Jetavana đến thành phố Sravasti. Khi Thượng tọa Ananda đi ngang qua đó để vào thành khất thực thì cô Prakriti cũng lặng lẽ đi theo phía sau lưng. Thượng tọa Ananda lúng túng, không lẽ cứ đi khất thực với một cô gái lúc nào cũng đi theo sau lưng, thầy liền quay bước trở về tinh xá. Cô Prakriti vẫn tiếp tục đi theo phía sau.
Qua cổng tinh xá, cô vẫn tiếp tục đi theo. Thượng tọa Ananda liền đi thẳng đến am của Phật. Thầy bước vào am. Cô Prakriti đứng chờ trước cửa. Thượng tọa Ananda thuật lại đầu đuôi câu chuyện với đức bổn sư. Ðức Phật cho gọi cô Prakriti vào. Cô bước vào, mặt cúi xuống, đảnh lễ dưới chân Phật rồi chấp tay ngồi lại một bên. Phật hỏi:
– Cô là ai? Cô theo thầy Ananda đến đây có việc gì?
– Bạch Thế Tôn, con là Prakriti. Con lỡ thương thầy Ananda nên con theo thầy đến đây. Con không thể sống xa thầy Ananda được, nên thầy đi đâu thì con theo đó.
– Này Prakriti, con hãy về nhà xin phép cha mẹ trước đi.
– Bạch Thế Tôn, cha con đã mất lâu rồi. Mẹ con đã biết chuyện này, và vì thương con nên mẹ con cũng đồng ý chiều theo con.
– Này Prakriti, có rất nhiều thanh niên trong thành Sravasti, tại sao con chỉ thương một mình Ananda là một khất sĩ đã xuất gia?
– Bạch Thế Tôn, con thương thầy Ananda với tất cả tấm lòng. Thầy đã đem ánh sáng đến cho đời con. Nhờ thầy mà con không còn mặc cảm bị người đời khinh khi, ruồng rẫy. Nhờ thầy mà con có thể vươn lên để sống một đời đáng sống. Thầy là tất cả nguồn hy vọng của con, là tất cả những mơ ước của con, là dòng suối mát của đời con. Bạch Thế Tôn, con không thể sống xa thầy được, cũng như cá không thể sống xa nước.
– Này Prakriti, nếu con muốn được sống gần thầy Ananda thì con phải làm theo những gì Như Lai bảo con làm.
– Bạch Thế Tôn, con sẽ làm tất cả những gì để được sống gần thầy Ananda.
– Tốt lắm, vậy con hãy trở về nhà xin phép mẹ cho con xuất gia, xuống tóc cho con, rồi đưa con đến đây làm lễ đắp y.
– Ðiều đó không khó. Bạch Thế Tôn, bây giờ con xin trở về nhà. Chiều nay con sẽ trở lại với mẹ con.
Prakriti vui vẻ trở về nhà, kể lại đầu đuôi câu chuyện, rồi xin mẹ xuống tóc cho cô. Mẹ cô nói:
– Prakriti, con điên rồi sao? Con gái mà cạo đầu thì trở nên xấu xí, mất hết vẻ đẹp, xuất gia thì không thể lấy chồng được nữa. Con không biết sao? Sao con ngu quá vậy?
– Thưa mẹ, con không cần lấy chồng, con chỉ muốn được sống gần Ananda thôi.
Bà Matangi chiều ý con, xuống tóc cho cô, rồi dắt cô trở lại tinh xá Jetavana, vào đảnh lễ Phật. Ðức Phật mời hai mẹ con cô Prakriti ngồi xuống, rồi nói:
– Này Prakriti, con trở lại đây để xin xuất gia phải không?
– Bạch Thế Tôn, phải.
– Con xin xuất gia để được gần thầy Ananda phải không?
– Dạ phải. Con thương thầy Ananda lắm! Con không thể sống xa thầy.
– Cái gì của thầy Ananda làm cho con say mê đắm đuối như vậy?
– Bạch Thế Tôn, cái gì của thầy Ananda con cũng thương hết. Con mắt, cái mũi, cái miệng, tướng đi, giọng nói, cái gì của thầy con cũng thương hết.
– Này Prakriti, tất cả những gì con trông thấy nơi thầy Ananda chỉ là lớp da bọc bên ngoài. Con phải biết con người ai cũng có tóc, móng, răng, da, thịt, xương, gân, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, chất nhờn, nước miếng, nước mũi, nước tiểu, phẩn, … Tất cả những thứ đó đều biến đổi từng giờ, từng phút, từng giây; thương tích, bệnh hoạn có thể xảy ra bất cứ lúc nào; rồi đến lúc phải già nua, tàn hoại, tan rả. Con người chỉ là một túi da chứa đầy bệnh tật, già nua, chết chóc, kiêu hãnh, ngã mạn[4]. Nếu vì một lý do gì những thứ bên trong bị phơi bày ra ngoài, như một cái gối rách bị lộn ngược, chắc chắn cần phải có một người cầm cây đứng đó để xua đuổi bầy quạ, bầy kên kên, bầy chó, từng đoàn từng lũ kéo đến tranh nhau xé ăn, thật ghê tởm. Khát vọng say mê là lòng ham muốn ích kỷ chỉ mang đến đau khổ. Con nên biết:
“Trìu mến sanh sầu muộn,
“Trìu mến sanh lo sợ.
“Người đã dập tắt hoàn toàn lòng triều mến,
“Không còn sầu muộn, không còn lo sợ.[5]
Từ lúc bắt đầu thương Ananda đến giờ, mới có hai ngày, mà con đã chịu trăm phần đau khổ, mất ăn, mất ngủ, than vắn thở dài, nỉ non khóc kể, rên rỉ bi ai, biết bao sầu muộn. Giờ đây, con hãy sáng suốt suy nghĩ lại xem cơ thể của Ananda có phải là cái gì đáng được trìu mến bám víu không? Có phải là cái gì đáng được khát khao ham muốn một cách tuyệt vọng không? Có phải là cái gì đáng được ta hân hoan ôm giữ không? Tất cả mọi sự vật trên đời này đều như thế. Khi ta vừa bám vào nó thì nó đã hư hoại, suy tàn, mục thúi, tan rã.
Này Prakriti, chỉ có xuất gia, sống đời phạm hạnh thanh cao như thầy Ananda, dứt bỏ hết mọi ái dục, tham lam, giận tức, si mê, tập sống theo Chánh Pháp, phát tâm từ bi hỷ xả, thương yêu giúp đỡ tất cả muôn loài chúng sanh, mới tạo được hạnh phúc chân thật cho chính mình và cho những người mình thương. Này Prakriti, nếu con muốn sống gần thầy Ananda, thì chỉ có cách duy nhất là con phải tập sống đời phạm hạnh thanh cao như thầy, phải học hỏi và tu tập theo Chánh Pháp để biết cái hay, cái đẹp thật sự của thầy còn quý gấp vạn lần cái bề ngoài mà con thấy nơi thầy.
– Bạch Thế Tôn, lời dạy của ngài thật sáng suốt và chính đáng, đã đem lại cho con nhiều an ủi. Kính xin Thế Tôn cho phép con được xuất gia.
– Tốt lắm! Này Prakriti, như nước các sông Ganga, Yamuna, Sindu, Aciravati tuôn chảy vào đại dương và mất đi lai lịch của chúng. Bất cứ người thuộc giai cấp, bộ lạc nào gia nhập vào giáo hội của Như Lai rồi thì cũng đều là khất sĩ như nhau. Này Prakriti, nước trong đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn của muối. Trong Giáo Hội Khất Sĩ cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát.
Rồi đức Phật gọi:
– Hãy đến đây, này tỳ-kheo-ni, hãy sống đời thánh thiện.[6]
Ni sư Khema mang đến cho Prakriti một bộ áo cà-sa. Sau khi đắp y, cô theo ni sư về ni viện. Nơi đây cô được các sư cô an ủi, dùng lời lẽ đơn giản dạy cô về Tam Bảo (Tri-ratana), Tứ Diệu Ðế, cách đắp y, cách đi khất thực và các giới luật phải tuân hành. Lần hồi cô được học về bốn uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, và cách thực tập thiền quán. Cô tu tập rất tinh tấn, về sau cô được đắc quả A-la-hán trước Thượng tọa Ananda.
Hay tin một cô gái chandala được xuất gia theo Giáo Ðoàn Nữ Khất Sĩ của Phật, các thân hào nhân sĩ trong thành Sravasti xôn xao bàn luận. Vua Pasenadi đến viếng Phật và hỏi thăm về việc này:
– Bạch Thế Tôn, nhiều nhân sĩ trong thành Sravasti nói rằng việc cho người phụ nữ xuất gia đã là một việc trái với phong tục, truyền thống Bà-la-môn từ xưa tới nay. Nhưng đối với những người phụ nữ thuộc dòng Bà-la-môn (Brahmana), dòng Sát-đế-lợi (Kshatriya) thì còn có thể tạm chấp nhận được. Ðàng này, một đứa con gái hạ tiện (chandala) xuất gia quả là một sự sỉ nhục cho hàng tu sĩ, nó sẽ làm ô uế cả giới tăng lữ. Thế Tôn nghĩ thế nào?
– Này Ðại vương, nếu một người chandala được tắm trong dòng nước dành riêng cho người kshatriya, và nếu người đó biết cách kỳ cọ khắp mình. Sau khi tắm lên người đó được dùng khăn trắng sạch lau khô thân thể rồi xức nước hoa vào mình. Ðại vương nghĩ sao? Thân thể người chandala đó có thơm sạch như thân thể người kshatriya không?
– Bạch Thế Tôn, nếu hai người cùng tắm trong một dòng sông, cùng kỳ cọ như nhau, lau khô như nhau, xức nước hoa như nhau, thì thân thể họ cũng sạch thơm như nhau.
– Ðúng vậy, Ðại vương. Nếu người kshatriya và người chandala cùng sống đời phạm hạnh thanh cao, cùng tu tập giáo pháp cao thượng thì họ cũng có thể giác ngộ và đạt đến giải thoát như nhau.
Như Lai xin kể Ðại vương nghe một câu chuyện: Vào thuở xưa, có một làng tên Chandala ở bên cạnh sông Ganga. Vị xã trưởng làng này tên Trishanku. Ông có một người con trai đẹp đẽ lạ thường tên Sardulakarna, lảu thông cả ba bộ kinh Veda. Người cha mong ước con mình cưới được một người vợ xinh đẹp và thông minh. Ông đến dạm hỏi cho con một cô gái xinh tươi đoan chánh tên Prakriti, con của một người Bà-la-môn tên Pushkarasasi, nhưng ông này từ chối. Ông Trishanku phải nhẫn nại tới lui nhiều lần nài xin và cho thấy con trai mình cũng đẹp đẽ thông minh không kém ai. Cuối cùng ông Pushkarasasi nhận lời và cô Prakriti được thành hôn với cậu Sardulakarna. Ðại vương, Prakriti thuở xưa cũng là Prakriti ngày nay; Sardulakarna là tỳ kheo Ananda bây giờ. Hai người đã có duyên tiền kiếp với nhau. Và ông xã trưởng Trishanku chính là Như Lai hiện nay vậy.
Vua Pasenadi và đoàn tùy tùng chăm chỉ lắng nghe câu chuyện tiền thân, lấy làm kinh ngạc, không nói được một lời, đồng đảnh lễ Phật và chư tăng rồi lặng lẽ lui gót.
Phật nói kinh Thủ-Lăng-Nghiêm (Suramgama-sutta)
Sau khi ni sư Khema đưa Prakriti về ni viện, thầy Ananda bước đến đảnh lễ dưới chân Phật, rồi thầy khóc ròng, khổ tâm vì từ trước đến nay chỉ chuyên học rộng, nghe nhiều, nhưng chưa có thực tu thực chứng, nên mới bị chú thuật Sankhya Kapila, suýt mất giới thể, phải nhờ Phật nhập đại định Thủ-Lăng-Nghiêm (Suramgama samadhi) phóng quang đến cứu thoát. Thầy khóc một hồi rồi thưa:
– Bạch Thế Tôn, con tuy có phước được kề cận Thế Tôn, nghe nhiều và nhớ hầu hết những điều Thế Tôn dạy bảo, nhưng đạo lực còn non kém, suýt bị mất giới thể vì chú thuật Sankhya Kapila. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy cho con các diệu pháp Xa-ma-tha (Samatha[7]), Tam-ma-đề (Samadhi[8]), Thiền-na (Dhyana[9]) là những pháp môn tu chứng đạo quả Bồ-đề một cách chắc chắn và nhanh chóng của mười phương chư Phật.
– Này Ananda, thầy tuy nghe nhiều, nhớ nhiều, nhưng chưa nắm vững được nguồn gốc của Sanh Tử và Bồ-Ðề Niết-Bàn nên dù thầy đã xuất gia trên 20 năm nay chỉ mới chứng được quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna). Thầy hãy lắng nghe cho kỹ:
Do đâu mà có sanh tử? Là vì tất cả chúng sanh đều lấy tâm vọng động, suy tư, nghĩ tưởng theo trần cảnh bên ngoài làm tự tánh (bản ngã) của mình nên chịu khổ sanh tử luân hồi.
Do đâu mà có Bồ-đề (giác ngộ) Niết-bàn (giải thoát)? Một khi người tu hành dứt hết tâm vọng động, suy tư, nghĩ tưởng theo trần cảnh thì Chơn Tâm nguyên minh, thanh tịnh, sáng suốt từ vô thỉ sẽ hiển lộ. Chơn Tâm nguyên minh đó là Bồ-đề, là Niết-bàn, luôn luôn thanh tịnh, sáng suốt, không lay động, mặc tình cho trần cảnh cứ lao-xao biến đổi.
Rồi đức Phật dùng nhiều phương tiện như đưa nắm tay lên, bảo đánh chuông, để chỉ tánh thấy, tánh nghe là thường trụ. Không phải khi có nắm tay mới thấy, không phải khi có tiếng chuông mới nghe. Không có tiếng chuông không phải là không nghe, mà là nghe “không có tiếng chuông”. Người mù không phải là không thấy, mà là thấy tối đen vì hai con mắt không còn chuyền ánh sáng vào trong; cũng như khi người sáng mắt lấy tay bụm mắt lại.
Sáu căn chạy theo sáu trần sanh ra sáu thức. Sáu thức tức là vọng tâm, bị lệ thuộc vào sáu trần, là gốc của sanh tử luân hồi. Vì sáu trần sinh diệt biến đổi không ngừng.
Sáu căn không chạy theo sáu trần, thì sáu thức tức vọng tâm không sanh, Chơn Tâm liền hiển lộ Bồ-đề và Niết-bàn.
Người muốn tu Bồ-tát thừa để thành Phật quả phải hội đủ hai điều kiện quyết định như sau:
1- Lúc sơ phát tâm, phải biết rõ mình có Chơn Tâm thanh tịnh, thường trụ, rồi dùng Tâm đó mà phát nguyện tu hành. Phải gieo nhân thanh tịnh, thường trụ mới có quả thanh tịnh, thường trụ.
2- Lúc hạ thủ công phu thực hành, phải tu căn viên thông để sáu căn được thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần. Nhờ đó mà vào cảnh trí giải thoát, tự tại, vô ngại.
Nói đến đây, đức Phật tóm lược đại ý phần vừa mới giảng trong bài kệ như sau:
Chơn tánh không trần tướng,
Vô vi, không sinh diệt.
Duyên sanh tức không thật,
Hư vọng, như hoa đóm.
Dùng vọng để chỉ chân.
Vọng, chân đều là vọng.
Nếu không nói chân vọng,
Làm sao biết được chân?
Sáu thức không thực tánh,
Như dụm ba cọng sậy.
Buộc mở[10] đồng một gốc,
Thánh, phàm chẳng hai đường.
Hãy xét tánh sáu thức
Chẳng có, cũng chẳng không.
Vô minh chấp có không,
Không chấp là giải thoát.
Tự tâm chấp tự tâm,
Không huyễn thành pháp huyễn.
Không chấp thì không huyễn,
Không huyễn thì không sanh.
Pháp huyễn không lập được,
Gọi là Diệu Liên Hoa,
Bảo Giác Kim Cang Vương,
Như Huyễn Tam-ma-đề.
Búng tay thành vô-học.
Diệu pháp tuyệt đối này
Của chư Phật mười phương:
Ðường niết-bàn duy nhất. [11]
Về phần thực hành, Phật bảo 25 vị Bồ-tát nói rõ pháp môn tu của mình và cách thực hành như thế nào mà chứng được quả thánh. Kế đó Phật bảo ngài Văn-Thù phê bình các pháp môn đó và chọn lựa một pháp môn thù thắng nhứt, thích hợp với căn tánh của chúng sanh ở cõi ta-bà này. Ngài Văn-Thù đã chọn pháp môn tu “Nhĩ Căn Viên Thông”[12] của Bồ-tát Quán-Thế-Âm.
Kế đến, Phật giảng về ba vô lậu học: 1- Nhiếp tâm thành Giới, 2-Do Giới sanh Ðịnh, 3- Do Ðịnh phát Huệ. Muốn nhiếp tâm trước hết phải giữ bốn đại giới: Dâm, Sát, Ðạo[13], Vọng[14]. Chúng sanh nào nặng nghiệp, khó giữ bốn đại giới được thanh tịnh, thì nên nhứt tâm chí thành thọ trì tâm chú Thủ-Lăng-Nghiêm. Phật nói:
– Này Ananda, như việc của thầy với nàng matangi không phải là mới xảy ra ở kiếp này đâu. Thầy với nàng matangi bị trần duyên oan trái, có tập khí ân ái với nhau, đã trải qua nhiều kiếp. Khi Như Lai tuyên dương Phật đảnh mật chú thì tức khắc tâm ái dục của nàng tiêu mất, nàng trở nên thanh tịnh thành bậc A-na-hàm (Anagami), được giải thoát luân hồi sanh tử ở nhân gian, và nếu định lực tinh tấn thì chẳng bao lâu sẽ lên bậc vô học A-la-hán (Arhat).
Này các thầy, nàng matangi là một phụ nữ chưa phát tâm tu hành mà nhờ oai lực thiêng liêng của Phật đảnh mật chú còn tiến đến bậc vô học, huống chi các thầy. Các thầy đã phát tâm cầu Tối Thượng Thừa, nếu chí thành trì Phật chú này thì quyết định thành Phật, ví như rải bụi bay theo luồng gió thổi xuôi thì không có chi khó khăn.
Người tu chơn chánh phải tinh tấn thực hành ba tiệm thứ sau đây:
1- Tiệm thứ tu-hành dứt trợ nhân: Ðoạn tuyệt, không ăn ngũ vị tân (hành, hẹ, tỏi, nén, kiệu), không uống rượu, không dùng chất ma túy.
2- Tiệm thứ tu hành dứt giới tánh: Hoàn toàn kiêng cử Dâm và Sát.
3- Tiệm thứ tu hành dứt hiện nghiệp: Sáu căn thanh tịnh, không đắm nhiễm sáu trần.
Phật nói:
– Này Ananda, người phát bồ-đề tâm, tu phép Chánh Ðịnh, thọ đủ quy giới, nhứt định không ăn ngũ vị tân. Vì sao? Vì năm món ấy, ăn chín thì vọng dâm, ăn sống thì vọng sân. Nếu còn ăn ngũ vị tân thì dù miệng nói thông suốt 12 bộ chơn kinh bí điển cũng khó đạt hiệu quả. Chư thiên không chịu nổi mùi ngũ vị tân từ miệng bay ra, nên thường xa lánh những người ăn năm món ấy. Các loài ngạ quỷ, ác ma ưa thích ngũ vị tân, hay thừa dịp người ăn, xúm lại ngửi hơi, liếm môi liếm mép. Thành thử người ăn ngũ vị tân, hằng ngày sống chung với ma quỷ, bị tinh thần của chúng chi phối, tổn phước tổn đức, thường gặp nhiều truân chuyên khổ sở.
Này Ananda, nếu tu hành mà không đoạn tuyệt dâm và sát thì chẳng bao giờ giải thoát được khỏi tam giới phàm phu thống khổ. Người tu phải xem dâm và sát như loài rắn độc, như kẻ giặc.
Này Ananda, khi người tu tập được căn viên thông thì tâm không biến chuyển theo sáu trần, và tự quay về Bản-thể Chơn-như Viên-giác. Trần không có sở duyên, tâm không có sở đối, thì tác dụng của căn không gây ra những hành động sai lầm (ác nghiệp) được. Như vậy thập phương quốc độ (cùng khắp thế giới) thuần một nét thanh tịnh, thân được nhẹ nhàng, tâm được thanh thoát, an vui vô tận, mặc nhiên đắc vô sanh pháp nhẫn, thành tựu quả Càn-Huệ-Ðịa[15] (Sukla-vidarasana-bhumi). Rồi tuần tự tiến tu, tùy theo đạo hạnh sở phát mà an lập thánh quả.
Tiếp theo, Phật chỉ rõ sau quả Càn-huệ-địa còn có 54 quả vị tu chứng từ thấp lên cao, gồm có Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi-Hướng, Tứ Gia Hạnh và Thập Ðịa[16], rồi đến quả vị Ðẳng Giác, Diệu Giác và Viên Giác tức là quả vị Phật.
Thượng tọa Ananda và thánh chúng nghe Phật giảng xong, vô cùng mừng rỡ được Phật khai thị pháp môn tu theo Bồ-tát-thừa, từ sơ phát tâm cho đến Phật quả. Thật là một bài pháp hy hữu, chưa từng có ở thế gian. Tất cả đồng đảnh lễ Phật rồi y giáo phụng hành.
9- Hạ thứ 29 tại Jetavana (năm -561)
Lòng từ bi của Phật đối với các khất sĩ còn non kém[17]
Ðức Phật đặt rất nhiều tin tưởng nơi các vị khất sĩ tài đức để tiếp tục công trình hoằng pháp lợi sinh mà ngài đã đề xướng. Tuy nhiên ngài cũng rất kiên nhẫn và bao dung cho những vị khất sĩ tối dạ hoặc còn non kém. Có thầy tu không thành công, trở ra đời tới sáu lần rồi mà khi xin xuất gia trở lại vẫn được Phật chấp thuận cho nhập chúng. Có vị tối dạ đến nỗi học hoài mà cũng không thuộc được 16 phép quán niệm hơi thở, vậy mà Phật vẫn tiếp tục vỗ về và khuyến khích.
Lúc bấy giờ, ở tinh xá Jetavana có một thầy tên Bhaddali có những khuyết điểm mà Phật lờ đi để thầy có cơ hội chuyển hóa. Thầy không cố ý nhưng thường vi phạm những quy luật của tu viện. Ví dụ trong tu viện có điều khoản “Nhất tọa thực”, nghĩa là khi ngồi xuống ăn, người khất sĩ không được đứng dậy lấy thêm thức ăn hoặc làm những việc khác, đến khi ăn xong mới được đứng lên. Vậy mà thầy Bhaddali không làm được. Sống trong đại chúng, thầy thường gây ra những phiền nhiễu cho người khác. Phật có quở thầy nhiều lần và dạy thầy phải thường xuyên tự đặt câu hỏi “Tôi phải làm gì để cho đại chúng được hoan hỷ?”. Vậy mà đến mấy tháng sau thầy vẫn chưa thành công. Trong đại chúng có những thầy không đủ kiên nhẫn và có khi nói nặng thầy. Biết vậy, một hôm Phật dạy:
– Này các thầy, một cá nhân trong tăng đoàn dù có những khuyết điểm trầm trọng, nhưng thế nào trong tâm người ấy vẫn còn lại một ít hạt giống của niềm tin Chánh Pháp và tình thương nhân loại. Chúng ta nên cư xử thế nào với vị ấy để cho những hạt giống lành còn lại đó có đủ cơ duyên nẩy nở, không nên để cho những hạt giống ấy hoàn toàn bị tiêu diệt. Ví dụ như có người kia vì bất hạnh mà bị mù một con mắt. Bà con thân thuộc của người ấy cố nhiên sẽ tìm cách giúp đỡ và bảo vệ con mắt còn lại kia. Họ biết rằng nếu con mắt kia mù nữa thì người ấy sẽ rất khốn khổ. Vậy, này các thầy, các thầy hãy giúp bảo vệ những hạt giống lành còn lại nơi người đồng đạo của mình bằng cách đối xử tử tế và dễ thương với người ấy.
Ðức Phật lúc nào cũng từ bi, dịu hòa, nhưng có lúc ngài cũng rất nghiêm khắc và cũng từng quở trách nặng nề, quyết liệt. Người nào mà Phật không độ được hoặc chưa độ được quả thật là người không có tương lai.
Một hôm đức Phật nói chuyện với một người huấn luyện ngựa. Phật hỏi:
– Ông điều phục ngựa như thế nào, xin nói cho chúng tôi nghe đi?
– Bạch Thế Tôn, có nhiều loại ngựa. Có loại rất dễ dạy, chỉ cần dùng biện pháp ngọt ngào. Có loại khó trị hơn, phải dùng vừa biện pháp ngọt ngào vừa biện pháp mạnh. Có loại rất khó dạy, chỉ có thể dùng biện pháp mạnh.
– Vậy khi gặp loại ngựa chứng mà cả ba biện pháp đều vô hiệu thì ông làm thế nào?
– Bạch Thế Tôn, trong trường hợp ấy thì con buộc lòng phải hạ sát nó, vì để nó sống chung trong bầy sẽ làm hư hỏng những con ngựa khác. Bạch Thế Tôn, còn ngài dạy các đệ tử như thế nào? Xin cho con biết với.
– Thì tôi cũng làm tương tự như ông. Có những người chỉ cần ngọt ngào. Có những người vừa cần biện pháp ngọt ngào, vừa cần biện pháp mạnh. Có người chỉ có thể dùng biện pháp mạnh mới trị nổi.
– Vậy trong trường hợp cả ba biện pháp đều vô hiệu thì đức Thế Tôn làm thế nào?
– Thì tôi cũng phải làm như ông vậy.
– Ủa! Ðức Thế Tôn giết họ à?
– Không, tôi chỉ từ chối không chấp nhận họ vào giáo đoàn khất sĩ, không chấp nhận họ làm đệ tử, thế thôi. Nhưng những trường hợp đó thật hy hữu và thật đáng thương tâm.
Hiệp sĩ Rohitassa hỏi cách ra khỏi thế giới sinh tử[18]
Hiệp sĩ Rohitassa cột ngựa ngoài cổng tinh xá Jetavana, rồi với dáng điệu hiên ngang, oai vệ, ông bước theo Thượng tọa Ananda đến am Phật. Thầy Ananda rót trà mời Phật và khách. Hiệp sĩ Rohitassa xá Phật rồi mở lời:
– Bạch đức Thế Tôn, có một cõi nào không có sinh, già, bệnh, chết không? Có một cõi nào mà muôn loài đều không chịu luật sinh diệt không? Ta có thể di chuyển bằng cách nào để ra khỏi thế giới sinh diệt này và để đi tới thế giới không sinh diệt kia không?
– Này Rohitassa, không thể nào ra khỏi thế giới sinh diệt này bằng cách di chuyển, dù ta có đi nhanh hơn tia chớp cũng vậy.
– Kính lạy đức Thế Tôn, ngài dạy rất chí lý. Quả thật ta không thể đi ra khỏi biên giới của thế giới sinh diệt này bằng cách di chuyển, dù bằng tốc độ nào. Con nhớ trong một kiếp trước, con đã từng có thần thông, con có thể bay trong hư không nhanh như một mũi tên. Con chỉ cần phóng mình đi trong chốc lát là đã có thể từ bờ biển phía đông sang tới bờ biển phía tây. Con đã nhất quyết vượt biên giới của thế giới sinh, già, bệnh, chết để đi sang một thế giới khác. Con đã bay đi suốt ngày này sang ngày khác, không hề dừng lại để ăn uống hoặc nghỉ ngơi. Con đã bay đi trên một trăm năm với tốc độ ấy nhưng cũng chưa thấy biên giới đâu cả, rốt cuộc con đã chết ở dọc đường. Thế Tôn nói thật đúng, chúng ta không thể nào vượt được biên giới của cõi sinh tử bằng cách di chuyển, dù là di chuyển với tốc độ của ánh sáng.
– Này Rohitassa, Như Lai không nói rằng ông không thể vượt ra khỏi cõi sinh tử này. Nếu ông muốn, Như Lai sẽ chỉ cho ông cách vượt ra khỏi thế giới sinh tử. Này Rohitassa, chính từ nơi thân tâm ông mà thế giới sinh tử được sinh khởi, cũng chính từ nơi thân tâm ông mà ông có thể tìm thấy được sự chấm dứt của thế giới sinh tử. Ông hãy quán chiếu thân tâm ông. Hãy quán chiếu thế giới sinh diệt ngay trong thân tâm ông. Quán chiếu sắc, thọ, tưởng, hành, thức nơi ông để thấy được thực tướng của vạn pháp trong vũ trụ. Ðến khi quán chiếu thành công, ông sẽ thấy thế giới sinh diệt tan biến mất và thế giới bất sinh bất diệt hiển lộ. Chừng đó ông sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau trong thế giới sinh diệt, và sẽ được hoàn toàn thong dong, tự tại, an lành trong thế giới chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh.
Này Rohitassa, để vượt khỏi thế giới sinh diệt khổ đau, ông không cần di chuyển đi đâu hết, ông chỉ cần ngồi im lặng, nhìn sâu vào tự tánh của thân tâm ông để chứng nghiệm và sống với cái thực thể bất sanh bất diệt của vạn vật. Cái thực thể đó không có hình tướng nên khó nhận ra, nhưng nó ở khắp mọi nơi, không cần đi tìm kiếm nơi đâu cả.
Hiệp sĩ Rohitassa sụp xuống đảnh lễ dưới chân Phật, rất vui mừng và cảm động, ông nói:
– Bạch Thế Tôn, con như người đi lạc trong rừng sâu vừa được chỉ lối ra, như người đang mò mẫm trong nhà tối vừa được ngọn đèn sáng. Con như người mù đi tìm kiếm ánh sáng, dù trải qua bao nhiêu kiếp như thế cũng không thể tìm thấy được. Hôm nay con may mắn được đức Từ Bi chữa bệnh mù cho con, con mới được thấy ánh sáng lúc nào cũng ở ngay trước mắt, không cần phải đi tìm kiếm đâu xa. Con xin đức Thế Tôn hoan hỷ nhận con làm đệ tử.
10- Hạ thứ 30 tại Jetavana (năm -560)
Những câu hỏi không được Phật trả lời[19]
Một hôm, trời đang mưa tầm tã, có một vị du sĩ tới viếng. Thượng tọa Ananda tiến dẫn du sĩ Uttiya vào gặp Phật. Thầy giới thiệu vị du sĩ với Phật, lấy khăn cho ông ta lau khô đầu tóc rồi mời ông ta ngồi. Sau khi chào hỏi xã giao, Uttiya vào đề ngay:
– Thưa sa-môn Gotama, thế giới chúng ta đang ở còn mãi hay sẽ có lúc bị hoại diệt?
– Này ông bạn Uttiya, tôi xin phép không trả lời câu hỏi đó.
– Vậy, xin sa-môn cho biết thế giới chúng ta đang ở có biên giới hay không có biên giới?
Ðức Phật ngồi im lặng. Du sĩ Uttiya nói:
– Thưa sa-môn Gotama, tôi xin nêu tất cả những thắc mắc của tôi ra đây và xin sa-môn cứ tùy nghi giải đáp:
·Thân thể và linh hồn là một hay là hai?
·Sau khi chết, sa-môn Gotama còn hay mất?
·Sau khi chết, sa-môn Gotama vừa còn vừa mất?
·Sau khi chết, sa-môn Gotama không còn cũng không mất?
Ðức Phật tiếp tục ngồi im lặng. Uttiya cảm thấy khó chịu, lại hỏi:
– Câu nào tôi hỏi, sa-môn cũng không trả lời. Tại sao thế?
Ðức Phật đáp:
– Vì những câu hỏi của ông nêu ra không có ích lợi gì cho sự tu tập để đạt đến giác ngộ và giải thoát.
Sau đó mấy hôm lại có một vị du sĩ khác tên là Vacchagota[20] tới viếng Phật. Ông ta cũng nêu những câu hỏi tương tợ như những câu hỏi của du sĩ Uttiya. Ðức Phật cũng ngồi im lặng, không đáp. Vacchagota gượng nêu câu hỏi cuối cùng:
– Sa-môn Gotama, xin ngài cho biết là có ngã hay không có ngã?
Ðức Phật vẫn ngồi im lặng. Vacchagota đứng dậy bỏ đi.
Sau khi Vacchagota đi khuất, Thượng tọa Ananda hỏi Phật:
– Bạch Thế Tôn, trong các buổi thuyết pháp Thế Tôn đã từng giảng dạy về đạo lý vô ngã. Sao hôm nay Thế Tôn không trả lời câu hỏi về ngã của du sĩ Vacchagota?
– Này Ananda, đạo lý vô ngã mà Như Lai giảng dạy cho các vị khất sĩ là một pháp môn hướng dẫn thiền quán để phá chấp ngã, chứ không phải là chủ thuyết “vô ngã”. Câu hỏi của Vacchagota chỉ có mục đích muốn biết lập trường của Như Lai về ngã nên Như Lai không thể trả lời, vì trả lời là rơi vào biên kiến, hoặc chấp có, hoặc chấp không. Này Ananda, muốn giác ngộ và giải thoát cần diệt trừ tất cả mọi kiến chấp. Thà rằng họ cho là mình không biết còn hơn là đưa họ vào kiến chấp “có / không”.
Như-Lai không từ đâu tới và cũng không đi về đâu cả[21]
Một hôm, Thượng tọa Anuruddha trên đường đi khất thực bị một nhóm du sĩ chận lại cật vấn. Họ bắt thầy phải trả lời câu hỏi của họ rồi họ mới cho đi. Họ hỏi:
– Chúng tôi nghe nói sa-môn Gotama là bậc giác ngộ vẹn toàn và giáo pháp của người rất cao siêu mầu nhiệm. Thầy là đệ tử của sa-môn Gotama. Vậy xin thầy cho chúng tôi biết sau khi chết sa-môn Gotama có còn hiện hữu hay không?
Rồi các du sĩ buộc Thượng tọa Anuruddha chọn một trong bốn câu trả lời sau đây:
a) Sau khi chết, sa-môn Gotama còn.
b) Sau khi chết, sa-môn Gotama mất.
c) Sau khi chết, sa-môn Gotama vừa còn vừa mất.
d) Sau khi chết, sa-môn Gotama vừa không còn vừa không mất.
Thầy Anuruddha biết rằng trong bốn câu trả lời đó không có câu trả lời nào phù hợp với giáo pháp của Phật. Thầy im lặng. Nhưng các vị du sĩ không bằng lòng sự im lặng đó. Họ buộc thầy phải nói một cái gì. Cuối cùng Thượng tọa nói:
– Này các bạn, theo sự hiểu biết của tôi thì trong bốn câu trả lời đó không có câu nào diễn tả được sự thật về sa-môn Gotama cả.
Các vị du sĩ cười bảo nhau:
– Coi bộ vị sa-môn này là người mới tu cho nên ông ta không thể trả lời được câu hỏi của mình đâu. Thôi, chúng ta nên để cho ông ta đi cho rồi.
Nói xong, họ bỏ đi.
Cách đó mấy hôm, sau giờ thuyết pháp của Phật, Thượng tọa Anuruddha đem việc xảy ra trình lên Phật. Thầy nói:
– Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn soi sáng cho chúng con, để chúng con được học hỏi thêm và có thể trả lời được mỗi khi bị hỏi những câu tương tợ.
– Này Anuruddha, theo thầy thì sa-môn Gotama hiện đang ở đâu? Có thể tìm sa-môn Gotama nơi sắc thân này không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm sa-môn Gotama nơi cảm giác (thọ) không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm sa-môn Gotama nơi tư tưởng, nơi hành động và lời nói, hay nơi tri thức không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Vậy, này Anuruddha, có thể tìm sa-môn Gotama ngoài sắc thân này không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm sa-môn Gotama ngoài cảm giác không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Có thể tìm sa-môn Gotama ngoài tư tưởng, ngoài hành động và lời nói, hay ngoài tri thức không?
– Bạch Thế Tôn, không.
– Ðúng thế, này Anuruddha, sa-môn Gotama không ở nơi ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; sa-môn Gotama cũng không ở ngoài ngũ uẩn; sa-môn Gotama không ở nơi thất đại là địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến và thức; sa-môn Gotama cũng không ở ngoài thất đại. Nói sa-môn Gotama ở nơi nào, có hay không, còn hay mất đều không đúng sự thật. Này Anuruddha, sa-môn Gotama còn đang ngồi đây mà thầy còn không thể khẳng định được có hay không thì sau khi sa-môn Gotama diệt độ rồi làm sao thầy có thể nói còn hay mất?
Này Anuruddha, thầy nên biết tự thể, tự tánh của vạn pháp là Chân Như (Tathagata) mầu nhiệm, bất biến, bất sanh, bất diệt, trong cái tổng thể đó vạn vật luân chuyển, biến đổi như trò ảo thuật, không thể nói có hay không, còn hay mất. Thế nên Như Lai (Tathagata) không từ đâu tới và cũng không đi về đâu cả.
Ðức Phật đã dứt lời từ lâu mà các vị khất sĩ vẫn ngồi yên, im lặng, trầm ngâm, không nói một lời nào.
11- Hạ thứ 31 tại Jetavana (năm -559)
Phật nói kinh Sư Tử Hống[22]
Trong một buổi thuyết pháp vào mùa an cư năm nay, đức Phật nói Kinh Sư Tử Hống để tóm lược những điểm chính yếu trong giáo pháp giác ngộ và giải thoát, và cũng để gián tiếp trả lời những thắc mắc về có ngã hay không có ngã, sau khi nhập diệt sa-môn Gotama còn hay mất. Ðức Phật nói:
– Này quý vị, đạo lý giác ngộ và giải thoát có năng lực công phá những thành trì kiên cố nhất của vô minh, cũng như ánh sáng có năng lực làm tiêu tan bóng tối. Những giáo lý như Bốn Sự Thật, Vô Thường, Vô Ngã, Duyên Sinh, Bốn Niệm Xứ, Bảy Giác Chi, Ba Cánh Cửa Giải Thoát[23] và Con Ðường của Tám Hành Ðộng Chân Chánh đã được tuyên thuyết trong nhân gian như những tiếng gầm của con sư tử chúa, làm cho hàng trăm hàng ngàn tà thuyết và hý luận phải hoảng sợ bỏ chạy, hoặc lặng im thinh thích.
Này quý vị, sư tử là vua của các loài thú. Khi bước ra khỏi hang, con sư tử uốn mình, vươn vai. Sau khi uốn mình và vươn vai, nó đưa cặp mắt sáng quắc nhìn ra bốn phía. Rồi nó gầm lên ba tiếng lớn làm rung chuyển cả rừng núi. Sau đó nó mới đi tìm mồi.
Này quý vị, bất cứ loài thú nào nghe tiếng gầm của sư tử đều lấy làm sợ hãi, có con trốn kín, có con bỏ chạy, có con run rẩy, rã rời cả tứ chi không còn biết làm gì nữa. Loài chim bay bổng lên cao. Loài thuồng luồng, cá sấu hấp tấp lội xuống nước. Chồn cáo chui vào hang sâu. Những con voi trong các xóm làng lân cận, dù là voi của vua có trang sức dây nịt và lọng vàng, đều hoảng sợ bỏ chạy, có khi văng cả phân và nước tiểu. Con sư tử có uy lực lớn như thế.
Này quý vị, pháp âm của đạo giác ngộ và giải thoát cũng giống như tiếng gầm của con sư tử chúa. Khi pháp âm giác ngộ cất lên thì tất cả các tà thuyết đều run sợ. Khi được nghe tuyên thuyết các đạo lý vô thường, vô ngã, duyên sinh … thì tất cả những ai lâu nay an trú trong vô minh và buông thả đều phải giật mình. Loài người cũng vậy mà loài trời cũng vậy. Khi bừng tỉnh giấc mơ, mọi người thấy được sự thật chói lòa: “Thì ra lâu nay chúng ta đang ở nơi nguy hiểm mà cứ tưởng là an ổn; chúng ta đã nhận cái vô thường làm cái thường, cái vô ngã làm ngã, cái khổ làm vui, cái tạm bợ làm vĩnh cửu, cái giả làm thật”. Ðã đến lúc chúng ta phải vất bỏ tất cả các lập trường, thành kiến, cố chấp để tiếp nhận chân lý.
Này quý vị, các học thuyết của nhân gian đều bị ràng buộc vào ý niệm có/không. Ðạo lý giác ngộ vượt ra ngoài ý niệm có/không. Nhân gian thường bị vướng mắc trong bốn cạm bẫy lớn của cuộc sống. Cạm bẫy thứ nhất là dục lạc. Cạm bẫy thứ hai là kiến thức. Cạm bẫy thứ ba là nghi lễ. Cạm bẫy thứ tư là ý niệm về ngã. Con người bị lúng túng, ràng buộc trong bốn cạm bẫy ấy, không còn biết đâu là chân lý. Pháp âm giác ngộ đưa con người thoát ra khỏi bốn cạm bẫy lớn này.
Này quý vị, muốn thoát ra khỏi các thành kiến, cố chấp, cạm bẫy để thấu triệt chân lý, quý vị phải thường xuyên quán sát “tự tánh duyên khởi[24]” trong đời sống hằng ngày của quý vị, nơi thân thể, nơi cảm giác, nơi tư tưởng, nơi hành động và lời nói, nơi muôn vật.
Này quý vị, một khi đã thành tựu phép quán “tự tánh duyên khởi” quý vị sẽ hiểu rõ vì sao Như Lai nói “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Như Lai thường trụ không biến đổi”. Ðó là chân lý, đó là tiếng gầm của con sư tử chúa.
12- Hạ thứ 32 tại Jetavana (năm -558)
Phật nói kinh Kim-cang Bát-nhã Ba-la-mật[25]
Một hôm, gần đến giờ thọ trai, đức Phật đắp y mang bát vào thành Sravasti, đi theo thứ lớp từ nhà này đến nhà khác khất thực. Khi đã có vừa đủ thức ăn, ngài trở về tinh xá Jetavana, cùng với các khất sĩ thọ trai. Thọ trai xong, ngài thu xếp y bát, rửa chân, rồi trải tọa cụ ngồi. Khi ấy Thượng tọa Subhuti[26] (Tu-Bồ-Ðề) ở trong đại chúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên mặt, quì gối mặt xuống đất, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn, trong pháp hội hôm nay có nhiều thiện nam, tín nữ tuy đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, nhưng tâm còn vọng động, phiền não chưa dứt trừ. Chúng con xin Thế Tôn từ bi chỉ dạy phương pháp làm sao an trụ tâm[27]? và làm sao hàng phục tâm[28]?
– Lành thay! Này Subhuti, thầy khéo vì thính chúng còn sơ cơ mà thưa hỏi đúng lúc. Như Lai sẽ giảng cách an trụ tâm và cách hàng phục tâm. Các vị đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác nên lắng nghe cho kỹ để biết cách thực hành.
Người đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác muốn an trụ tâm phải biết nên an trụ vào chỗ nào, an trụ vào vật gì. Không nên an trụ tâm vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà phải an trụ tâm vào nơi không có chỗ trụ và không có gì để trụ[29]. Muốn được như vậy phải độ tất cả chúng sanh vào vô-dư-y niết-bàn mà không thấy có người độ và có chúng sanh được độ. Này Subhuti, thầy nên biết:
Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ, diệc như điện
Ưng tác như thị quán.[30]
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp đều là vọng tưởng, vô thường, biến chuyển luôn, không phải là nơi tốt để an trụ tâm. Phải an trụ tâm vào nơi thường trụ, vào vật gì không bao giờ biến đổi. Còn thấy có chúng sanh là còn vọng tưởng. Còn thấy có người độ và người được độ là còn phân biệt ngã/nhơn. Ý thức phân biệt là nhân sanh ra động niệm làm cho tâm động. Phải dứt trừ ý thức phân biệt bằng cách quán Vô Thường và Vô Ngã thì tâm mới thật sự được an trụ vào Chơn-Như, Phật tánh.
– Lại nữa, này Subhuti, người đã phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác muốn hàng phục tâm, tức là muốn dứt trừ phiền-não và vọng tưởng, thì trước hết phải bố thí mà không trụ tướng, tức không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vì bố thí mà không trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.
– Bạch Thế Tôn, đúng vậy. Vì chúng sanh vô minh nên mới nảy sanh vọng tưởng; rồi từ vọng-tưởng chấp có chấp không sanh ra phiền não là lòng tham lam, ích kỷ, thương, ghét, sân hận, sợ sệt… Muốn diệt trừ lòng tham lam ích kỷ phải thật hành hạnh bố thí. Bố thí ba-la-mật là không còn thấy có vật gì là của mình nữa; cả thân mình và tâm mình cũng không phải là của mình. Một khi đã trừ được ngã chấp và pháp chấp thì phiền-não và vọng-tưởng nhất định không còn.
– Này Subhuti, thầy nghĩ sao? Có thể do thân tướng mà thấy Như Lai chăng?
– Bạch Thế Tôn, không thể do thân tướng mà thấy được Như Lai. Vì thân tướng là vô thường, mà Như Lai là thường trụ.
– Ðúng vậy, phàm chỗ có tướng đều hư vọng. Nếu thấy các tướng chẳng phải tướng tức thấy Như Lai.
Rồi đức Phật nói bài kệ:
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.[31]
– Bạch Thế Tôn, không biết khi chúng sanh nghe lời dạy như thế có sanh lòng tin chân thật chăng?
– Này Subhuti, có nhiều chúng sanh đã trồng căn lành từ nhiều đời, khi nghe lời dạy như thế sẽ sanh lòng tin chắc chắn. Vì họ biết rằng “độ chúng sanh mà không thấy có chúng sanh được độ” và “bố thí không trụ tướng” là phương pháp diệt trừ các chấp ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả để đạt đến niết-bàn an lạc thanh tịnh vậy.
13- Hạ thứ 33, 34, 35 tại Jetavana (năm -557/ -555)
Theo chúng tôi nghĩ thì trong khoảng 4 năm, từ hạ thứ 33 đến hạ thứ 36, đức Phật chú trọng đến việc thuyết giảng kinh Ðại Bát-Nhã Ba-La-Mật (Maha Prajna-paramita-sutra) nói về Tánh Không của các pháp và pháp môn Quán Bát-Nhã. Tất cả nội dung kinh Ðại Bát-Nhã gồm 16 hội, tức 16 thời pháp của đức Phật, tại 4 nơi là núi Griddhakuta (Linh-thứu), tinh xá Jetavana (vườn Cấp-Cô-Ðộc), cung trời Paranimmitavasavatti (Tha-hóa-tự-tại) và tinh xá Venuvana (Trúc-lâm).
Từ hội thứ nhất đến hội thứ 6, đức Phật chỉ dạy cách tu tập pháp Quán Bát-nhã.
Từ hội thứ 7 đến hội thứ 10, đức Phật nói về những công đức thù thắng, trang nghiêm, không thể nghĩ bàn của pháp tu Quán Bát-nhã, vì đây là pháp môn Nhất-Thiết Pháp Thậm-Thâm Vi-Diệu Lý-Thú Bát-Nhã Thanh-Tịnh đưa người tu đến Nhất Thiết Chủng Trí và Thanh Tịnh Giải Thoát.
Từ hội thứ 11 đến hội thứ 16, đức Phật giảng về 6 pháp Ba-la-mật của Bồ-tát là Bố-thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí huệ bát-nhã.
Toàn thể nội dung kinh Ðại Bát-Nhã Ba-La-Mật (Maha Prajna-paramita-sutra) được đúc kết một cách hết sức ngắn gọn và trong sáng thành kinh Bát-Nhã Ba-La-Mật-Ða Tâm Kinh (Prajna-paramita-hrdaya-sutra).
Phật nói kinh Ðại Bát-nhã Ba-la-mật
Sau nhiều thời pháp về Ðại Bát-nhã, một hôm, trong mùa an cư, đức Phật tóm lược như sau:
– Này các thầy, pháp môn tu Quán Bát-nhã rất thậm thâm vi diệu, công đức không thể nghĩ bàn. Chính nhờ thực hành thâm sâu pháp môn này mà Bồ-tát Quán-Tự-Tại (Quán-Thế-Âm, Avalokitesvara) chứng thực được 5 uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức đều là không, nhờ đó Bồ-tát đã vượt qua tất cả mọi khổ nạn.
Này Sariputta (Xá-Lợi-Phất), các vị khất sĩ cũng nên thực hành pháp Quán Bát-nhã như thế. Các thầy nên quán sắc thân là không vì sắc thân là vô thường, các thầy cũng nên quán cảm giác (thọ), suy tư nghĩ tưởng (tưởng), biến chuyển của thân tâm (hành), tri giác (thức) do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và bộ óc đều là không, vì đều là vô thường, duyên hợp, không tự tánh.
Này Sariputta, một khi chứng được thật tướng của 5 uẩn đều là không, là các thầy đã chứng được vô ngã, do đó trở nên hoàn toàn thanh tịnh giải thoát, không còn sanh tử luân hồi nữa. Ðó quả thật là một pháp môn vi diệu không thể nghĩ bàn. Tất cả chư Phật trong ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai, đều nhờ tu pháp môn này mà chứng được vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Trong một thời pháp khác của đức Phật tại giảng đường Lộc-Mẫu (Migara-matas) trong tinh xá Ðông-Viên (Pubbarama), Thượng tọa Ananda nêu thắc mắc:
– Bạch Thế Tôn, theo con hiểu, Quán Bát-nhã là quán 5 uẩn đều không, mà hể 5 uẩn đều không thì 18 giới cũng không và tất cả muôn sự muôn vật đều không.
Quán Bát-nhã có nghĩa là quán tánh không của các pháp. Ví dụ như quán sắc uẩn là không, có nghĩa là suy nghĩ để biết rõ sắc thân là vô thường, do duyên hợp nên không có tự tánh.
Bạch Thế Tôn, nhưng con còn chưa hiểu chứng được thật tướng của 5 uẩn là khôngỂ là như thế nào? Xin Thế Tôn từ bi chỉ dạy.
Ðức Phật đáp:
– Lành thay, này Ananda, Như Lai sẽ vì ông mà giảng rõ cho cả pháp hội cùng nghe để hiểu thế nào là Quán và An-trú (chứng) Tánh Không[32].
Ví như trong giảng đường Lộc-Mẫu này không có voi, bò, ngựa, vàng bạc như trong xóm làng, thời phải quán những vật ấy là không. Nhưng có cái không phải không, là sự hiện diện của chúng tăng ni, vậy phải quán chúng tăng ni là có. Nói cho rõ hơn thì ý tưởng về xóm làng thì không, nhưng ý tưởng về người thì có. Ðó là an trú tánh không một cách chân thật, không điên đảo.
Tiến lên một bậc, vị nào muốn an trú nhiều trong tánh không, vị ấy không nên suy niệm đến ý tưởng về xóm làng, cũng không nên suy niệm đến ý tưởng về người, mà nên thường suy niệm đến ý tưởng thuần nhất về rừng vắng. Vị ấy quán trong tâm thức mình, thấy ý tưởng về xóm làng, về người là không, nhưng có cái không phải không, đó là ý tưởng về rừng vắng. Vị ấy biết rằng các phiền não do ý tưởng về xóm làng và người hiện không có trong tâm mình, nhưng các phiền não do ý tưởng về rừng vắng thì hiện có. Cái gì hiện có, vị ấy quán là có; cái gì hiện không có, vị ấy quán là không. Ðó là an trú tánh không một cách chân thật, không điên đảo.
Tiếp tục tiến thêm một bậc nữa, vị nào muốn an trú nhiều hơn trong tánh không, vị ấy không nên suy niệm đến ý tưởng về xóm làng, về người, về rừng vắng, mà nên thường suy niệm đến ý tưởng thuần nhất về đất. Vị ấy quán trong tâm thức mình, biết rằng các phiền não do ý tưởng về xóm làng, về người, về rừng vắng thì không, nhưng các phiền não do ý tưởng về đất thì có; nếu không có các phiền não do ý tưởng về đất thì vị ấy biết là không. Ðó là an trú tánh không một cách chân thật, không điên đảo.
Cứ như thế, thiền giã sẽ lần lượt vượt qua các thiền chứng về sắc giới từ sơ thiền đến tứ thiền, và các thiền chứng về vô sắc giới từ không vô biên xứ đến phi tưởng phi phi tưởng. Thực chứng đến đâu, thiền giã tự quán tâm mình liền biết. Ðến khi trong tâm thiền giã hoàn toàn thanh tịnh, không còn một mảy may phiền não vi tế nào về 5 uẩn, không còn bao giờ khởi suy niệm đến ý tưởng về sắc thân, về cảm giác, về tư tưởng, về biến chuyển, về ý thức là thiền giã đã thực chứng 5 uẩn là không, tức chứng vô ngã.
Nghe đến đây toàn thể thính chúng rất hoan hỷ, phấn khởi, biết rằng Quán Bát-Nhã tức Quán Tánh Không. Quán sắc uẩn là không, không phải là tuy thấy mình có thân mà cứ tự cho mình không thân bằng cách tự kỷ ám thị. Quán sắc uẩn là không, là suy nghiệm để biết thân vô thường, duyên hợp tạm có, không có tự tánh. Chứng sắc uẩn là không, là không còn khởi suy niệm đến ý tưởng về sắc thân nữa, do đó không còn phiền não do ý tưởng về sắc thân gây ra nữa.
14- Hạ thứ 36 tại Jetavana (năm -554)
Bà Visakha than khóc với Phật về một đứa cháu vừa mới chết[33]
Một hôm, lúc Phật sắp sửa đi khất thực thì có nữ thí chủ Visakha tới, đảnh lễ Phật rồi ngồi xuống một bên, thúc thích khóc. Phật hỏi:
– Này Visakha, sao hôm nay bà có vẻ buồn rầu quá vậy? Bà đang than khóc chuyện gì vậy?
– Bạch Thế Tôn, đứa cháu nội gái của con là Datta vừa mới mất. Con thương nó nhất nhà. Nó mới được năm tuổi thôi mà nó rất thích đi theo con để tiếp con mang đồ đạt cúng dường các vị khất sĩ. Bây giờ nó mất rồi, con đi đâu phải đi một mình. Con thương nhớ nó, còn buồn quá.
– Cháu đau bệnh gì mà mất?
– Bạch Thế Tôn, cháu bị bệnh thương hàn.
– Tội nghiệp quá! Này Visakha, bà có tất cả bao nhiêu con cháu?
– Bạch Thế Tôn, con được 12 đứa con và 5 đứa cháu vừa nội vừa ngoại. Bây giờ con chỉ còn 4 đứa.
– Bà muốn có nhiều con cháu lắm phải không?
– Thưa vâng. Bạch Thế Tôn, nhà càng đông con cháu càng vui.
– Nếu bà có con cháu nhiều bằng dân số ở thủ đô Sravasti này chắc bà vui lắm?
– Vâng, nếu được như vậy thì còn gì bằng.
– Bà có biết mỗi ngày ở thủ đô này có bao nhiêu người chết không?
– Bạch Thế Tôn, có ngày thì chín mười người, có ngày thì sáu bảy người. Ít nhất cũng có một hai người. Thưa Thế Tôn, ở Sravasti không có ngày nào mà không có người chết.
– Này Visakha, nếu con cháu bà đông như dân chúng ở Sravasti này thì chắc ngày nào bà cũng phải khóc than không dứt. Vậy thì vui ở chỗ nào?
– Bạch Thế Tôn, con hiểu rồi.
– Tốt lắm, vậy bà đừng buồn khổ nữa. Tình thương thế tục thường làm phát sanh đau khổ và lo sợ. Chỉ có lòng Từ Bi Hỷ Xả là mang đến niềm vui và hạnh phúc chân thật cho tất cả mọi người mà thôi.
Rồi đức Phật nói kệ:
Trìu mến sanh đau khổ,
Trìu mến sanh lo sợ,
An vui không triều mến
Không đau khổ lo sợ. (Kinh Pháp Cú, bài 213)
Người tu phải biết lượng sức mình[34]
Sau mùa an cư năm nay, Phật lên đường về miền nam. Ngài ghé thăm Vườn Nai (Migadava) ở làng Isipatana, phía bắc thành phố Benares (Varanasi), nơi ngài đã thuyết pháp lần đầu tiên và đã thành lập Giáo Ðoàn Khất Sĩ với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo. Quang cảnh ở đây đã đổi khác. Một cái tháp lớn đã được dân chúng địa phương dựng lên để kỷ niệm nơi Phật bắt đầu chuyển bánh xe pháp. Tháp này được đặt tên là tháp Dhamekh, do hai chữ Dhamma mukkha họp lại, có nghĩa là Chánh Pháp. Tại Vườn Nai có giảng đường Kittoe đã được kiến tạo, có rất đông khất sĩ cất am cốc xung quanh giảng đường làm thành một tinh xá tu học. Mới đó mà đã 36 năm qua. Bánh xe Chánh Pháp đã luân chuyển liên tục trên khắp lưu vực sông Ganga. Sau khi ở lại Vườn Nai vài hôm để thuyết pháp và khích lệ đại chúng, Phật lên đường đi Gaya, đến làng Uruvela thăm cây Bồ-đề năm xưa. Cây Bồ-đề càng ngày càng tươi tốt, cành lá sum sê. Nhiều tịnh thất đã được dựng lên trong vùng. Vua Bimbisara đang chuẩn bị cho xây một ngôi tháp kỷ niệm nơi Phật thành đạo, gọi là Tháp Ðại Giác (Mahabodhi Mahavihara).
Ðức Phật hướng dẫn các vị khất sĩ thăm viếng các nơi mà ngài đã tinh tấn tu khổ hạnh trong sáu năm trường cho đến lúc ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh, lập ra pháp tu trung đạo, và 49 ngày sau đó ngài đã thành đạo dưới cội cây pippala. Ðức Phật kể lại cho các vị khất sĩ nghe những kinh nghiệm sống động mà ngài đã trải qua, những pháp môn ngài đã thực hành, những khó khăn ngài đã vượt qua, những chứng nghiệm ngài đã đạt được trước và sau khi thành đạo. Ðây là cây Ajapala, nơi ngài nhận bát cháo sữa của hai chị em cô Sujata trước đêm thành đạo, và cũng là nơi ngài ngồi nhập định suốt tuần lễ thứ năm để suy nghiệm về giáo pháp giải thoát. Ðây là cây Bồ-đề, nơi ngài đã ngồi nhập đại định, chiến thắng ma quân, chứng lục thông[35] và tam minh[36], rồi tiếp tục ngồi suốt một tuần để chứng nghiệm hạnh phúc giải thoát. Ðây là nơi ngài đã đứng nhìn cây Bồ-đề suốt tuần lễ thứ hai không nháy mắt. Ðây là con đường kinh hành bằng ngọc mà ngài đã đi tới đi lui suốt tuần lễ thứ ba sau khi thành đạo. Ðây là “bảo cung”, nơi ngài ngồi suốt tuần lễ thứ tư để suy niệm về những giáo lý cao siêu (Abhidhamma). Ðây là cây Mucalinda, nơi ngài ngồi nhập định suốt tuần lễ thứ sáu dưới cơn mưa to gió lớn và đã được rắn thần Mucalinda che chở. Ðây là cây Rajayatana, nơi ngài ngồi nhập định suốt tuần lễ thứ bảy. Quý vị khất sĩ hôm nay rất hoan hỷ được nghe một thời pháp vô cùng quý giá, vô cùng sống động, với những chứng tích lịch sử trước mắt, và do chính đức Phật nói lại những kinh nghiệm và những chứng nghiệm của chính ngài khi thành đạo.
Ðại đức Svastika là người xúc động nhiều nhất. Thầy nhớ lại lúc thầy gặp Phật lần đầu tiên nơi đây, thầy mới được tám chín tuổi. Bây giờ thầy đã 44 tuổi. Không biết mấy đứa em của thầy, hai chị Sujata và mấy đứa bạn chăn trâu của thầy khi xưa bây giờ ở đâu? làm nghề gì? đã có gia đình con cái gì chưa? và hiện sinh sống ra sao? Rồi thầy nghĩ lại thầy thật có phước được xuất gia theo Phật, sống một đời sống an nhàn để thực tập những đức hạnh thanh cao, vạch ra một tương lai rực rỡ …
Từ Gaya, Phật đi lần về phía đông bắc, đến Rajagriha (Vương Xá), thủ đô xứ Magadha, rồi thẳng đường về tinh xá Venuvana (Trúc Lâm). Các vị khất sĩ nơi đây vui mừng đón tiếp Phật. Nơi đây Phật gặp lại Thượng tọa Punna Mantaniputta. Thầy kể lại cho Phật nghe công trình hoằng hóa của thầy tại xứ Thâu-lô-na trong mười năm qua. Chỉ trong năm đầu tiên, thầy đã độ được 500 cư sĩ quy y Tam Bảo và 500 vị xin xuất gia làm khất sĩ. Thầy cũng đã lập được một tinh xá, mỗi năm đều có tổ chức nhập hạ tại đó. Thầy xin Phật cho phép thầy được trụ tại xứ Thâu-lô-na vì dân chúng nơi đây rất cần sự có mặt của thầy. Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận.
Trên đường lên Griddhakuta (Linh Thứu), Phật đến viếng trung tâm tu học Rừng Mát. Nơi đây Phật gặp lại đại đức Sona Kolivisa[37] (Sona Kutikanna). Ðại đức Sona xuất gia và tu học với Thượng tọa Maha Kaccana trên núi Pavatta, gần thành phố Kuraraghara thuộc xứ Avanti. Thầy là một thanh niên con nhà giàu, phong lưu, nho nhã, thông minh, nhưng thể chất yếu đuối, không kham nổi đời sống xuất gia không nhà cửa, ăn mỗi ngày một bữa, ngủ dưới gốc cây. Mặc dù thầy rất siêng năng tu tập, thầy thường đau yếu luôn, nên sau sáu tháng cố gắng thầy cảm thấy mệt mỏi, chán nản, và có ý từ bỏ công trình tu tập, trở về đời sống cư sĩ tại gia, thọ hưởng tài sản sự nghiệp để làm việc phước thiện, tạo nghiệp lành. Thượng tọa Maha Kaccana biết ý, gởi thầy về tinh xá Jetavana ở cạnh Phật vài tháng để học tập, rồi thầy lại trở xuống miền nam, đến tinh xá Venuvana, rồi đến tinh xá Rừng Mát. Thấy đại đức Sona có vẻ yếu đuối, bệnh hoạn, chán nản, Phật gọi đến hỏi:
– Này Sona, thầy có được khỏe không? Việc tu học và khất thực có khó khăn lắm không?
– Bạch Thế Tôn, sức khỏe con vẫn được bình thường. Việc tu học và khất thực không có gì khó khăn lắm.
– Thầy xuất gia được bao lâu rồi?
– Bạch Thế Tôn, con chỉ mới được một tuổi hạ.
– Trước khi xuất gia thầy thường làm gì?
– Bạch Thế Tôn, con thường thích đánh đàn tranh. Con đã học đàn tranh từ lúc mới tám tuổi.
– Này Sona, trong lúc đánh đàn thầy làm sao cho tiếng nhạc được êm tai, thánh thót?
– Bạch Thế Tôn, muốn cho tiếng nhạc được êm tai, thánh thót, thì trước khi đàn phải lên dây cho đúng độ căng. Nếu dây dùng quá thì tiếng nhạc mềm nhủn, điếc câm; nếu dây căng quá thì dễ bị đứt.
– Này Sona, việc tu tập cũng thế. Nếu giải đãi, lười biếng thì đạo nghiệp không thể thành tựu được. Nếu cố gắng quá sức chịu đựng của mình thì sanh ra mệt mỏi, bệnh hoạn, thối chí ngã lòng. Này Sona, thầy phải biết tự lượng sức mình, phát tâm dũng mãnh tu tập nhưng đừng gò ép thân tâm quá mức. Như vậy thầy mới mong thành tựu được đạo nghiệp.
Ngừng một lát, đức Phật nói tiếp[38]:
– Này Sona, muốn tu tập có kết quả, người tu phải biết chọn pháp môn tu thích hợp với căn tánh, năng khiếu và trình độ của mình, như người quen làm thợ kim-hoàn nên tập quán sổ tức, người quen làm thợ giặt nên tập quán bạch cốt; và phải biết rành thời gian nào nên tu Chỉ (Ðịnh), thời gian nào nên tu Quán (Huệ), thời gian nào nên tu Xả.
Này Sona, khi người tu sanh lòng kiêu mạn vì tự thấy mình hiểu rành giào lý, thuyết pháp hay, vấn đáp giỏi, được nhiều người cung kính … thì không nên tu tập trí huệ (prajna) mà phải tu tập chánh định (samadhi).
Khi người tu thối chí ngã lòng vì tự thấy mình kém cỏi, không chế ngự được phiền não, không điều phục được 6 căn, nghi ngờ giới luật không đúng … thì không nên tu chỉ (samatha) mà phải tu quán (vipassana).
Khi người tu thấy hai hạnh định và huệ của mình chưa bình đẳng, lòng chưa tự tin, tâm chưa an, thì không nên tu hạnh xả. Lúc định huệ bình đẳng thì nên tu hạnh xả (upekkha,upeksa), tức là bỏ cái chấp có mình đang tu và có pháp để tu. Tâm xả tức là tâm vắng lặng, không định, không quán.
Này Sona, thầy nên học hỏi và thực hành theo Bảy Pháp Giác Chi[39] (saptabojjhanga, saptabodhyanga) là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả, để được kết quả tốt đẹp.
– Bạch Thế Tôn, con xin vâng lời ngài chỉ dạy.
Thầy Sona Kolivisa hoan hỷ đảnh lễ tạ ơn Phật. Sau đó, thầy lên núi Linh-Thứu tịnh tu và đắc quả A-la-hán.
[1] Xem kinh Lăng Nghiêm (Suramgama sutta).
[2] Nipata sutta, 135.
[3] Matanga là người nam thuộc giai cấp chandala. Matangi là người nữ thuộc giai cấp chandala.
[4] Dhammapada, kinh Pháp Cú, bài 150.
[5] Dhammapada, kinh Pháp Cú, bài 213.
[6] Tiếng Pali: “Ehi tvam bhikkhuni, cara brahma cariyam”.
[7] Samatha, dịch là Chỉ, là Thiền Vắng-lặng, nhằm tập trung tư tưởng vào một nơi, không cho phiền-não và vọng-tưởng xen vào tâm. Trái lại Vipassana, dịch là Quán, là Thiền Minh-sát, nhằm tập trung tư tưởng vào một đề tài, quán chiếu, sáng suốt suy xét, để tìm ra chân-lý (vô thường, vô ngã) hầu dứt trừ phiền não và vọng tưởng. Tu tập Samatha (Chỉ) để được Samadhi (Ðịnh). Tu tập Vipassana (Quán) để được Prajna (Huệ).
[8] Samadhi, dịch là Chánh Ðịnh, còn gọi là Tam-muội. Trái lại Prajna (Panna) là Huệ hay Trí-tuệ. Người tu phải luôn luôn giữ cho Ðịnh và Huệ được cân bằng.
[9] Dhyana (Sanscrit) hay Jhana (Pali), dịch là Tĩnh-lự, là Thiền-na hay Thiền, là Zen (tiếng Nhật), là nói chung hai pháp tu Chỉ (Samatha) và Quán (Vipassana), nhằm giữ tâm luôn luôn vắng-lặng sáng suốt, tịch-tịch giác-giác, biết mà không khởi tâm suy-nghỉ.
[10] Ðức Phật lấy thí dụ buộc mở gút một cái khăn để chỉ cách tu giải thoát. Buộc gút là tự ràng buộc mình vào sanh tử luân hồi; mở gút là cách tự giải thoát ra khỏi sanh tử luân hồi. Chính 6 thức buộc chúng sanh vào sanh tử luân hồi. Nếu biết 6 thức không có thực tánh, là vọng, là giả dối, không chấp theo chúng, là được giải thoát. Tu căn viên thông tức là cách trừ 6 thức.
[11] Trích kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, quyển 5.
[12] Pháp tu Nhĩ Căn Viên Thông: Lúc ban đầu, trong khi nghe liền biết mình có Tánh Giác, không để tâm chạy theo tiếng. Ðến khi quen thì hai tướng động và tịnh không còn ảnh hưởng gì đến tâm mình nữa. Cứ thế tiến dần đến khi trong tâm không còn ý-thức về người nghe và tiếng bị nghe, thành ra tuy nghe mà như hoàn toàn không nghe. Tiến lên một bậc nữa thì thấy chủ thể và đối tượng của tánh giác đều không, lúc bấy giờ cái biết về chơn không mới tròn đầy. Cho đến khi cái biết không và cái không đều dứt sạch, thì cảnh sanh diệt không còn nữa, và chơn cảnh niết-bàn thanh-tịnh an-lạc liền hiển hiện.
[13] Ðạo là tham lam, trộm cắp, cướp giựt.
[14] Vọng ngữ là nói dối, nói láo, lường gạt, bóp méo sự thật, nói lời thô ác, nói gây chia rẻ.
[15] Càn-huệ-địa: Thế trí khô cạn, ái dục không còn, căn và cảnh không còn phối hiệp, nhưng chưa được thánh quả vì đạo hạnh và trí huệ bát nhã chưa phát sáng.
[16] Người bố thí thuần thục thì được quả vị Thập Tín, trì giới thì được Thập Trụ, nhẫn nhục thì được Thập Hạnh, tinh tấn thì được Thập Hòi Hướng, thiền định thì được Tứ Gia Hạnh, trí huệ thì được Thập Ðịa.
[17] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 472-475; Majjhima-nikaya 65: Bhaddali-sutta; Trung A-Hàm 194.
[18] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 475-476.
[19] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 478-480; Anguttara-nikaya X.95.
[20] Xem Samyutta-nikaya XIV.10.
[21] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 480-483; Majjhima-nikaya 22, 63 và 72; Itivuttaka IV.13; Anguttara-nikaya 23; Samyutta-nikaya XLIV.2.
[22] Xem Majjhima-nikaya 11 và 12; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 835; Kinh Ðại Bát Niết Bàn phẩm XXIII: Sư Tử Hống Bồ-Tát.
[23] Ba cánh cửa giải thoát là Giới, Ðịnh và Huệ; cũng có nghĩa là Tam Pháp Ấn (vô thường, vô ngã, niết-bàn).
[24] QuánTự tánh duyên khởi là tìm hiểu vì sao từ nơi Chơn Tâm thanh tịnh lại vọng sanh ra thế giới và vạn vật.
[25] Vajra Prajna Paramita sutra.
[26] Subhuti là đại đệ tử thứ tư của Phật, nổi tiếng là giải không đệ nhất.
[27] An trụ tâm là tu Chỉ (Samatha) tập-trung tinh-thần vào một nơi. Ðó là pháp môn tu để được Ðịnh (Samadhi, Tam-ma-đề, Tam-muội, Chánh đînh).
[28] Hàng phục tâm là tu Quán (Vipassana) tập trung tư tưởng vào một đề tài để tìm Chân lý. Khi tu Chỉ mà bị phiền nảo hay vọng tưởng quấy rầy thì phải dùng Quán để trừ. Ví dụ như khi tu Chỉ mà bị tưởng dâm dục quấy rầy thì nên dùng Quán Thân Bất Tịnh (Cửu Tưởng Quán) để trừ.
[29] Nguyên văn chữ Hán: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâmỂ.
[30] Dịch nghĩa: Tất cả pháp hữu vi, Như mộng, huyễn, bọt, bóng, Như sương, cũng như điện. Nên khởi quán như thế.
[31] Dịch nghĩa: Nếu do sắc thấy ta, Dùng âm thanh cầu ta, Kẻ ấy theo đạo tà, Không thể thấy Như-Lai.
[32] Xem Majjhima-Nikaya 121 và 122: Culla- và Maha-Sunnata-sutta; Trung A-hàm: kinh 190.
[33] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 84-85; Udana VIII.8: 91-92.
[34] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 484-486.
[35] Lục thông (abhinna): Thiên nhãn thông (dibba-cakkhu), thiên nhĩ thông (dibba-sota), tha tâm thông (paracittavijanana), thần túc thông (iddhividha), túc mạng thông (pubbe-nivasanussatinana), lậu tận thông (asavakkhaya).
[36] Tam minh (tri-vidya): Túc mạng minh (pubbe-nivasanussati-nana), thiên nhãn minh (cutupapata-nana), lậu tận minh (asavakkhaya-nana).
[37] Xem Anguttara-nikaya VI.55; Theragatha; Vinaya pitaka II.1; Phật Giáo Nhìn Toàn Diện, trang 426. Theo Buddhist Legends, quyển III, trang 254-259, thì tên ông là Sona Kutikanna xin xuất gia với Thượng tọa Kaccana tại một ngọn núi gần thành phố Kuraraghara thuộc xứ Avanti.
[38] Xem kinh Ðại Bát Niết Bàn, tập 2, phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát, trang 287.
[39] Xem kinh Tạp A-Hàm 26; Luận Ðại Tỳ-bà-sa 96; Ðại Thừa Nghĩa Chương 16, phần cuối.
15- Hạ thứ 37 tại Venuvana (năm -553)
Devadatta xin thay Phật lãnh đạo giáo đoàn[1]
Một buổi chiều, y sĩ Jivaka lên núi Griddhakuta (Linh Thứu) thăm Phật. Tới chân núi, ông gặp Phật mới từ tinh xá Venuvana (Trúc Lâm) về. Ông chào Phật và xin phép được theo ngài lên núi. Jivaka nhìn Phật leo các bậc thang bằng đá để lên núi mà trong bụng khen thầm: Năm nay Phật đã 71 tuổi rồi mà còn cứng cát khỏe mạnh quá. Phật leo núi một cách thong thả và ung dung, một tay cầm bát, một tay cầm chéo áo sanghati. Thượng tọa Ananda đi bên cạnh Phật cũng không thể cầm bát thay cho Phật được, vì một tay thầy cũng phải cầm bát của thầy và tay kia cầm chéo áo như Phật vậy. Ông Jivaka tiến lên xin cầm bát thay Phật. Phật trao bình bát cho ông và mỉm cười, nói :
– Như Lai đã leo núi này cả ngàn lần, lần nào cũng tự tay cầm bát thì đã có sao đâu.
Các bậc thang bằng đá được xây lên đến tận thềm am của Phật trên đỉnh đồi. Chính vua Bimbisara đã ra lệnh xây mấy trăm bậc thang này để cúng dường. Ðến nơi, Phật và ông cùng ngồi xếp bằng trên một nền đá rộng rãi. Sau khi hỏi thăm Phật về tình hình sức khỏe và công việc hoằng pháp của ngài ở các nơi, Jivaka nói :
– Bạch Thế Tôn, con xin phép nói sơ lược về tình trạng giáo đoàn ở đây. Con thấy tình trạng giáo đoàn có liên hệ trực tiếp đến tình trạng chính trị. Con nghĩ Thế Tôn cần được thông báo rõ ràng.
Rồi y sĩ Jivaka cho Phật biết Thượng tọa Devadatta hiện có tham vọng lãnh đạo giáo đoàn thay Phật. Thượng tọa Devadatta có vây cánh khá mạnh mẽ và đông đảo trong giới khất sĩ cũng như trong giới chính trị. Cánh tay phải của Devadatta là Thượng tọa Kokalika thường bày nhiều mưu lược, ngoài ra còn có Thượng tọa Kotamoraka Tissa, Thượng tọa Khandadeviputta và Thượng tọa Samuddadatta, vị nào cũng có đông đảo đệ tử ủng hộ.
Thượng tọa Devadatta rất thông minh và hùng biện cho nên được rất đông người nghe theo, trong giới khất sĩ cũng như trong giới cư sĩ. Thượng tọa không chính thức ra mặt chống Phật, nhưng đã nhiều lần đưa ra nhận xét là Phật đã lớn tuổi, không còn đủ sức lãnh đạo giáo đoàn càng ngày càng đông, và cách thức điều hành của Phật đã xưa, không còn thích hợp với giới trẻ và thời đại mới.
Ðứng về phương diện xã hội, Thượng tọa Devadatta được nhiều người giàu có, nhiều người dòng Sakya và giai cấp thượng lưu ủng hộ. Họ không đồng ý Phật thâu nhận những người thuộc giai cấp hạ tiện vào giáo đoàn. Người ủng hộ Thượng tọa tận tình nhất là thái tử Ajatasattu (A-Xà-Thế). Vua Bimbisara tin kính Phật như thế nào thì thái tử Ajatasattu tin kính Thượng tọa Devadatta như thế ấy. Thái tử đã xây cất cho Thượng tọa một tinh xá lớn trên núi Gayasisa (núi Tượng Ðầu), nơi xưa kia Phật đã nói kinh Lửa cho ba anh em Thượng tọa Uruvela Kassapa và một ngàn đệ tử của ba vị ấy. Thái tử Ajatasattu thường xuyên cho chở các thức cúng dường đến núi Gayasisa. Nhiều thương gia và chính trị gia muốn được lòng thái tử cũng bắt chước đến tinh xá đó cúng dường và nghe pháp. Với sự ủng hộ đó, uy tín của Thượng tọa Devadatta càng ngày càng lên. Số các vị khất sĩ theo về với Thượng tọa hiện nay có đến gần 500 vị, phần lớn là các khất sĩ trẻ từ xứ Vajji.
Nói đến đây, y sĩ Jivaka nhìn Phật rồi xuống giọng nói thật khẽ :
– Bạch Thế Tôn, những điều con vừa nói cũng chưa có gì quan trọng. Nhưng theo tin tức con được biết, hình như thái tử Ajatasattu và Thượng tọa Devadatta, vì nóng lòng muốn lên ngôi và lãnh đạo giáo đoàn, đang cùng nhau âm mưu hãm hại hoàng thượng và Thế Tôn, là hai người con yêu kính nhứt trên đời. Con xin Thế Tôn hãy thận trọng và đặc biệt lưu tâm đến việc này.
– Jivaka, cám ơn ông đã cho Như Lai biết tình hình bất ổn hiện nay. Nhưng ông đừng quá lo lắng. Như Lai sẽ biết tùy thời lo liệu.
Y sĩ Jivaka cáo từ ra về. Phật dặn thầy Ananda không nên tiết lộ chuyện này cho ai biết.
Ðộ mươi hôm sau, trong buổi thuyết pháp hằng tháng tại tinh xá Venuvana, đức Phật giảng về Ngũ Lực (Panca-balani) tức năm sức mạnh tinh thần cần thiết để nuôi dưỡng hoa trái giác ngộ. Phật nói :
– Người đã tin hiểu Chánh Pháp, muốn mang ra thực hành, cần biết 37 phẩm trợ đạo. Những gì là 37 phẩm trợ đạo ? Ðó là: Tứ niệm xứ[2], Tứ chánh cần[3], Tứ như ý túc[4], Ngũ căn[5], Ngũ lực[6], Thất bồ-đề phần[7] và Bát chánh đạo[8].
Quý vị đã biết Ngũ Căn là năm cội gốc phát sanh ra các pháp lành, có tác dụng làm tăng trưởng các pháp lành và dẹp trừ phiền não để đưa người tu hành vào Thánh đạo. Ngũ Căn (Pancendriyani) gồm có: Tín căn (Sraddhendriya) là đức tin nơi lý tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo), tin nơi tam bảo (Phật, pháp, tăng); Tấn căn (Viryendriya) là chí dũng mãnh tu tập các pháp lành; Niệm căn (Smirtindriya) là tâm luôn luôn nghĩ đến chánh pháp; Ðịnh căn (Samadhindriya) là trụ tâm trong chánh pháp; Huệ căn (Prajnendriya) là ở trong định khởi trí quán, rõ biết các pháp như thật tánh (rõ biết chân lý).
Một khi Ngũ Căn được phát triển đến độ thuần thục thì Ngũ Căn sẽ trở thành Ngũ Lực (Panca-balani) tức là năm sức mạnh, năm động cơ chuyên chở người tu trên con đường giải thoát, có công năng phát triển mạnh các điều lành và diệt trừ tận gốc rễ các điều ác. Ngũ Lực gồm có: Tín lực (Sraddha-bala) tức là lòng thành kính đối với tam bảo; Tấn lực (Virya-bala) siêng tu các pháp lành, siêng trừ các pháp ác; Niệm lực (Smirti-bala) tức là luôn luôn nhớ thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã, thọ là khổ; Ðịnh lực (Samadhi-bala) tức là chuyên tu thiền định để đoạn trừ phiền não do sáu căn (giác quan) gây ra; Huệ lực (Prajna-bala) tức là nhờ công năng thiền quán mà phát sanh ra trí huệ, thấy rõ năm uẩn đều không, mười tám giới chẳng có, ngã chấp tiêu tan, được hoàn toàn giải thoát.
Buổi thuyết pháp hôm nay có trên ba ngàn người tham dự, trong đó có cả vua Bimbisara. Khi Phật vừa chấm dứt, mọi người chưa kịp có cơ hội để hỏi những điểm họ chưa được thấu triệt thì Thượng tọa Devadatta đã đứng dậy, đến trước mặt Phật, chấp tay cung kính đảnh lễ rồi nói :
– Bạch Thế Tôn, năm nay tuổi thọ của Thế Tôn đã cao, sức khỏe Thế Tôn đã kém. Thế Tôn cần được nghỉ ngơi an tĩnh để bớt đi sự khó nhọc trong những năm cuối cùng của cuộc đời. Thế Tôn đã tốn nhiều công sức thành lập giáo đoàn khất sĩ và phát triển không ngừng cho đến ngày nay. Giáo đoàn đã trở nên quá đông đảo và ở rải rác trong nhiều quốc gia xa cách nhau, công việc lãnh đạo giáo đoàn đã trở nên quá nặng nhọc đối với Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy rút về một nơi an nghỉ. Con sẽ xin thay mặt Thế Tôn lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.
Ðức Phật nhìn Devadatta, đáp :
– Thượng tọa Devadatta, cám ơn thầy đã lo lắng cho sức khỏe của Như Lai. Nhưng hiện nay Như Lai vẫn còn đủ sức để lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ.
Thượng tọa Devadatta quay lại nhìn đại chúng. Có khoảng 300 vị khất sĩ đứng dậy chấp tay. Thượng tọa nhìn lên Phật, nói :
– Bạch Thế Tôn, đó không phải là ý riêng của con. Nhiều vị đại đức ở đây cũng nhận thấy như con. Xin Thế Tôn đừng e ngại. Con nhận thấy có đủ khả năng lãnh đạo giáo đoàn để cho Thế Tôn được an dưỡng trong lúc tuổi già.
– Thôi đi, Devadatta, đừng nên nói nữa. Trong số các đệ tử lớn của Như Lai có nhiều vị xuất sắc và xứng đáng hơn thầy nhiều mà Như Lai còn chưa giao cho họ trách nhiệm lãnh đạo giáo đoàn khất sĩ, vì đó là đại nguyện của Như Lai, Như Lai phải làm cho trọn. Chừng nào đến lúc, Như Lai sẽ có quyết định hợp thời.
Bị Phật chê giữa đám đông, trong đó có cả vua Bimbisara, Devadatta lấy làm xấu hổ. Mặt thầy đỏ lên. Thầy đi trở về chỗ ngồi, không nói thêm một lời nào nữa.
Ngày hôm sau, trên núi Griddhakuta (Linh Thứu), thầy Ananda tâm tình với Phật :
– Thưa Thế Tôn, sư huynh Devadatta là người háo danh, lại bị Thế Tôn chê trước đám đông, chắc sư huynh sẽ tìm mọi cách để trả thù. Con nghĩ là sẽ có chia rẽ trầm trọng trong giáo đoàn. Nếu Thế Tôn thấy con có thể đi nói chuyện riêng với sư huynh Devadatta để khuyên nhủ thì con xin đi.
– Ananda, sở dĩ Như Lai phải chê Devadatta ngay giữa đám đông và trước mặt quốc vương là vì Như Lai có ý muốn cho mọi người thấy rằng Devadatta không phải là nhân vật quan trọng trong giáo đoàn, và những hành vi và lời nói của Devadatta sau này chỉ có một mình Devadatta chịu trách nhiệm, chúng ta không phải gánh chịu trách nhiệm ấy. Ananda, nếu thầy thấy có thể khuyên Devadatta hồi tâm thì thầy cứ đi thử.
Vài hôm sau, y sĩ Jivaka lại lên núi Griddhakuta thăm Phật. Ông trình với Phật rằng, theo tin ông được biết, hình như Devadatta đang chuẩn bị kế hoạch tách rời khỏi giáo đoàn với sự yểm trợ của thái tử Ajatasattu.
Devadatta lập giáo đoàn riêng tại Gayasisa[9]
Thấm thoát mà đã đến ngày Phật thuyết pháp hằng tháng tại tinh xá Venuvana. Kỳ nào quần chúng đến nghe cũng thật đông. Kỳ này cũng có mặt vua Bimbisara và cả thái tử Ajatasattu nữa. Thượng tọa Ananda để ý thấy các vị khất sĩ ở các vùng lân cận tựu về đông gắp đôi kỳ trước. Thượng tọa Devadatta cũng có mặt ở hàng đầu các vị khất sĩ, giữa hai Thượng tọa Sariputta và Mahakassapa.
Cũng như lần trước, sau khi Phật thuyết pháp xong, Thượng tọa Devadatta đứng dậy, đến trước mặt Phật, chấp tay đảnh lễ, rồi nói :
– Bạch Thế Tôn, người đã từng dạy các vị khất sĩ nên sống theo các nguyên tắc thiểu dục và tri túc, bỏ dần các ham muốn, sống thật đơn giản với những điều kiện vật chất tối thiểu. Hôm nay con xin đề nghị một quy chế năm điểm để thực hiện các nguyên tắc ít ham muốn và biết đủ đó :
Ðiểm thứ nhất, các vị khất sĩ phải ở suốt đời trong rừng hoặc trong vườn cây, không được ngủ trong thành phố hay trong thôn xóm.
Ðiểm thứ hai, các vị khất sĩ phải đi khất thực suốt đời, không được đáp lời mời của giới cư sĩ tới thọ trai ở nhà họ.
Ðiểm thứ ba, các vị khất sĩ chỉ có quyền lượm giẻ rách hoặc vải vụn để kết lại thành y chứ không được nhận y do giới cư sĩ cúng dường.
Ðiểm thứ tư, các vị khất sĩ chỉ được ngủ dưới gốc cây, không được ngủ trong phòng ốc, am, thất.
Ðiểm thứ năm, các vị khất sĩ chỉ được phép ăn chay, không được động tới thịt, cá.
Thưa Thế Tôn, nếu giáo đoàn khất sĩ theo đúng năm điểm này thì chắc chắn các nguyên tắc thiểu dục và tri túc mới được thực hiện nghiêm chỉnh.
– Này Devadatta, Như Lai không chấp nhận sự bắt buộc phải làm theo năm điểm ấy, vì năm điểm đó giới hạn những dịp dân chúng có thể tiếp xúc với khất sĩ để được học hỏi về chánh pháp. Những vị khất sĩ nào muốn theo năm điểm đó thì cứ theo, nhưng những vị khác không bị bắt buộc phải theo. Cũng như về việc ăn chay, các vị khất sĩ có thể tạm thọ nhận thức cúng dường mà người đàn việt đã làm sẵn, trong đó có ngũ tịnh nhục[10], nghĩa là không phải vì các vị khất sĩ mà người đàn việt sát sanh. Devadatta, theo pháp chế hiện thời, các vị khất sĩ có đủ cơ hội để tiếp xúc và hướng dẫn người cư sĩ, nhất là những người mới có duyên tiếp xúc lần đầu với đạo giác ngộ.
– Như vậy là Thế Tôn không chấp nhận pháp chế năm điểm của tôi à ?
– Không, Devadatta, Như Lai không chấp nhận pháp chế năm điểm của thầy đề nghị.
Devadatta cúi chào Phật rồi trở về chỗ ngồi, miệng mỉm cười, không có vẻ gì thất vọng.
Sau đó, mọi người nhận thấy trong lễ bố-tát tụng giới mỗi nửa tháng tại tinh xá Venuvana vắng mặt khoảng 300 vị khất sĩ. Ai cũng biết các vị này dự lễ bố-tát tại tinh xá Gayasisa do Thượng tọa Devadatta tổ chức. Sau lễ bố-tát, một số khất sĩ xin gặp Phật và bạch rằng :
– Bạch Thế Tôn, các sư huynh theo Thượng tọa Devadatta nói với chúng con nên theo về giáo đoàn của Thượng tọa Devadatta lãnh đạo ở tinh xá Gayasisa, vì bên ấy pháp chế nghiêm chỉnh hơn pháp chế của Thế Tôn nhiều, nhờ áp dụng triệt để pháp chế năm điểm do Thượng tọa Devadatta đề nghị vừa rồi. Họ nói tu như bên Venuvana (Trúc Lâm) thì sướng quá, có khác gì người không tu đâu. Các vị khất sĩ trẻ, nhất là những vị xuất gia với Thượng tọa Devadatta ở xứ Vajji đều theo về tinh xá Gayasisa. Xin Thế Tôn dạy chúng con nên đối xử với các sư huynh bên ấy như thế nào ?
– Này các thầy, Phật bảo, các thầy đừng bận tâm quá về vụ này. Mỗi người đều có quyền tự do theo vị đạo sư mà họ tin tưởng và kính trọng. Ðiều quan trọng là quý thầy phải hiểu rõ giáo pháp của Như Lai. Có điều gì nghi ngờ hoặc chưa hiểu rõ thì nên học hỏi cho tường tận, rồi tự mình phải tinh tấn tu tập thiền quán và sống đời phạm hạnh cho xứng đáng tùy theo khả năng mình.
Vài ngày sau, y sĩ Jivaka lên thăm Phật trên núi Griddhakuta (Linh Thứu). Ông cho biết là hiện có trên 500 vị khất sĩ đã theo về với Thượng tọa Devadatta ở núi Gayasisa (Tượng Ðầu). Ðồng thời Thượng tọa Devadatta và thái tử Ajatasattu còn đang âm thầm vận động một diễn biến quan trọng trong lãnh vực chính trị để đưa thái tử lên ngôi quốc vương. Theo ý ông, đức Phật nên cẩn thận và có những biện pháp cần thiết để tránh tai tiếng về âm mưu bất chính của Devadatta và Ajatasattu.
Tin Thượng tọa Devadatta lập giáo đoàn riêng tại Gayasisa làm chấn động dư luận tại thủ đô Rajagriha (Vương Xá) và cả các xứ lân cận. Các vị khất sĩ đi khất thực thường bị dân chúng hỏi các thầy thuộc giáo đoàn nào. Thượng tọa Sariputta dặn các thầy chỉ nên trả lời vắng tắt như sau: ” Ai gieo nhân xấu sẽ gặt quả xấu. Chia rẽ giáo đoàn là một trọng tội đối với đạo pháp.” Một hôm, sau giờ thuyết pháp của Phật, có vị khất sĩ hỏi :
– Bạch Thế Tôn, hằng ngày chúng con đi khất thực thường bị thí chủ hỏi về các hành động và những lời tuyên bố của Thượng tọa Devadatta chỉ trích Thế Tôn, chúng con không biết phải trả lời thế nào cho hợp lẽ, khỏi mang tội chia rẽ giáo đoàn. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy.
– Các thầy nên nói là Devadatta đã tự ý tách ra khỏi giáo đoàn, hiện không còn giữ một chức vụ gì trong giáo đoàn của Như Lai. Devadatta hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời tuyên bố và hành động của ông ta. Các thầy nên thông báo cho dân chúng biết như thế.
– Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta hỏi, ngày xưa con đã từng tán thán tài đức của sư huynh Devadatta trước mặt mọi người, bây giờ khi có người hỏi về những hành động và lời tuyên bố của sư huynh, không lẽ con lại vạch ra những điểm không tốt.
– Sariputta, ngày xưa thầy tán thán tài đức của Devadatta, thầy có nói sự thật không ?
– Bạch Thế Tôn, con đã nói sự thật.
– Bây giờ, nếu thầy vạch ra những điểm không tốt của Devadatta, thầy có nói sự thật không ?
– Bạch Thế Tôn, con cũng chỉ nói sự thật mà thôi.
– Như vậy thì đâu có gì là chướng ngại.
Những ngày sau đó, trong dịp tiếp xúc với quần chúng, các vị khất sĩ báo tin cho mọi người biết là Thượng tọa Devadatta đã ra khỏi giáo đoàn, và từ nay Phật và giáo đoàn không còn chịu trách nhiệm gì về những hành động và lời tuyên bố của Thượng tọa Devadatta nữa. Trong khi đó hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana vẫn luôn luôn giữ im lặng. Thấy vậy Thượng tọa Ananda hỏi :
– Các sư huynh không nói gì hết, chắc các sư huynh đã có chủ ý ?
– Ðúng vậy, Ananda, chúng tôi đã có chủ ý phụng sự đức Thế Tôn và giáo đoàn bằng những phương tiện khác.
Thái-tử Ajatasattu soán ngôi vua[11]
Một buổi sáng, trong cơn mưa gió ảm đạm, dân chúng thủ đô Rajagriha (Vương Xá) được tin quốc vương Bimbisara thoái vị, nhường ngôi cho con là thái tử Ajatasattu (Thiện-Kiến, A-Xà-Thế). Lễ đăng quang của thái tử sẽ được tổ chức trong vòng mười hôm, vào ngày trăng tròn sắp tới. Nguồn tin đột ngột này làm cho mọi người bàng hoàng không biết đã có chuyện gì xảy ra trong hoàng cung.
Vài hôm sau, Jivaka lên núi Griddhakuta thăm Phật. Ông xin phép được nói chuyện riêng với ngài. Jivaka kể cho Phật nghe là cách đây độ một tuần, ngự lâm quân thấy thái tử đột nhập vào cung vua giữa đêm khuya. Thấy dáng điệu khả nghi, họ chận xét và tìm thấy một thanh gươm dấu trong áo của thái tử. Họ đưa thái tử vào gặp vua, trình lên vua thanh gươm và kể lại tự sự. Vua hỏi :
– Ajatasattu, ban đêm con mang gươm vào cung để làm gì ?
– Tâu phụ vương, con muốn hành thích phụ vương.
– Tại sao con muốn giết ta ?
– Tâu phụ vương, con muốn làm vua.
– Nếu con muốn làm vua, chỉ cần nói với ta một tiếng ta sẽ nhường ngôi cho. Tại sao lại phải giết cha cho mang tội ?
– Tâu phụ vương, con không biết như vậy. Con đã lỡ lầm, xin phụ vương tha tội cho con.
– Ðược rồi. Nhưng ai xúi giục con làm chuyện này ? Chẳng lẽ con tự ý làm một mình ?
Thái tử Ajatasattu im lặng. Vua gạn hỏi một hồi, thái tử tiết lộ là có sự hợp tác của Thượng tọa Devadatta.
Vua cho gọi hai vị đại thần thân tín của vua vào cung, ngay lúc nửa đêm. Vua thuật hết cho họ nghe và hỏi ý kiến của họ. Một vị đề nghị nên xử trảm Ajatasattu, Devadatta và tất cả những người liên hệ trong vụ này để trừ hậu hoạn. Một vị đề nghị nên hỏi ý kiến đức Phật là vị sáng suốt giác ngộ, hơn nữa trong vụ này còn có Devadatta, con vua Suppabuddha (Thiện-Giác vương) xứ Koliya, vừa là em cô cậu vừa là đệ tử của Phật. Vua Bimbisara suy nghĩ một hồi rồi nói :
– Từ lâu trẫm đã muốn thoái vị để xuất gia theo Phật. Bây giờ chắc đã đến lúc. Thôi được. Ngày mai trẫm sẽ ban chiếu truyền ngôi cho thái tử Ajatasattu. Mười hôm sau, vào ngày trăng tròn, sẽ làm lễ đăng quang cho thái tử.
– Tâu bệ hạ, còn tội mưu sát ?
– Trẫm tha thứ cho con trẫm và cho Thượng tọa Devadatta. Mong rằng hai người ấy, khi đã được toại nguyện, sẽ thấy được tấm lòng bao dung của trẫm, và sẽ có đức độ hiền hòa đối với thần dân.
Rồi vua cho vời thái tử vào để thông báo ngay quyết định của vua, đồng thời căn dặn mọi người không nên tiết lộ vụ ám sát này cho người ngoài biết.
Nhưng ba ngày sau, thái tử Ajatasattu ra lệnh nhốt vua Bimbisara trong cung cấm, không ai được ra vào thăm viếng, trừ hoàng hậu Videhi. Hai vị đại thần thân tín của vua cũng bị bắt giam. Gia đình hai vị này được thông báo là hai vị được lưu lại ăn ngủ trong cung để luận bàn chính sự trong vòng bảy hôm.
Y sĩ Jivaka cho Phật biết là những chuyện trên hoàn toàn được giữ bí mật. Sở dĩ ông được biết là vì ông được gọi tới chữa bệnh cho hoàng hậu Videhi. Hoàng hậu đã thuật lại cho ông nghe và bảo ông lên núi bạch lại với Phật tất cả sự thật. Y sĩ Jivaka nói tiếp :
– Bạch Thế Tôn, con mong là sau lễ đăng quang, Ajatasattu sẽ trả tự do lại cho thượng hoàng và hai vị đại thần.
Trình xong mọi việc, Jivaka lạy Phật rồi xuống núi.
Ðức Phật cho gọi Thượng tọa Sariputta đến, bảo :
– Này Sariputta, Như Lai sẽ không đến dự lễ đăng quang của vua Ajatasattu, và Như Lai mong rằng tất cả các vị khất sĩ của giáo đoàn cũng không nên đến dự lễ. Chúng ta không nên can dự vào việc ác đức này.
– Bạch Thế Tôn, con hiểu rồi. Con sẽ thông báo với đại chúng là Thế Tôn sẽ không về dự lễ đăng quang và Thế Tôn muốn các vị khất sĩ trong giáo đoàn cũng không về dự lễ này.
Ngày lễ đăng quang đã tới. Không thấy Phật và các vị khất sĩ trong giáo đoàn do người lãnh đạo đến dự lễ, dân chúng bắt đầu tự đặt câu hỏi. Rồi từ đó tìm ra sự thật, biết rằng thượng hoàng và hai vị đại thần hiện còn đang bị biệt giam và bỏ đói. Dân chúng cũng nhận thấy sự có mặt đầy đủ của giáo đoàn do Thượng tọa Devadatta lãnh đạo. Họ nhận thấy sự khác biệt giữa hai giáo đoàn. Một phong trào âm thầm chống đối trong dân chúng đối với vị vua mới và giáo đoàn độc lập lần hồi được phát hiện.
Vua Ajatasattu được báo cáo về phong trào chống đối âm thầm trong dân chúng, liền triệu Thượng tọa Devadatta vào cung để vấn kế.
Ajatasattu và Devadatta âm mưu ám sát Phật[12]
Một hôm, vào giữa đêm khuya, trong lúc đức Phật đang ngồi thiền trên núi Griddhakuta, chợt nghe một tiếng động nhẹ sau một tảng đá lớn, Phật lên tiếng :
– Ai đó ? Ðến đây làm gì vào giờ này ? Có việc gì cần cứ đến đây nói.
Một thanh niên vạm vỡ, tay cầm gươm nhưng có vẻ rụt rè run sợ, ngập ngừng bước đến trước Phật rồi vội quỳ mọp xuống đảnh lễ và thưa rằng :
– Thưa đạo sư, con được lệnh đến đây để giết ngài. Nhưng con không dám. Xin đạo sư tha tội cho con. Nhưng nếu con không giết được ngài thì con cũng không dám trở về vì con sẽ bị chủ tướng giết. Thưa đạo sư, con sợ lắm, con phải làm sao bây giờ ?
– Ai đã sai anh đến giết Như Lai ?
– Dạ, chủ tướng của con. Nhưng con không dám nói tên chủ tướng của con ra đâu.
– Anh không nói cũng được. Nhưng chủ tướng của anh nói với anh thế nào ?
– Thưa đạo sư, chủ tướng của con chỉ cho con đường lên núi để giết đạo sư trong lúc ngài đang ngồi thiền giữa đêm. Xong rồi con phải đi một con đường khác để trở về báo cáo với chủ tướng.
– Anh có vợ con gì không ?
– Dạ không, con chỉ có một bà mẹ già.
– Anh hãy nghe đây. Nghe cho kỹ và làm đúng theo lời Như Lai bảo thì sẽ tránh khỏi chết. Anh hãy về nhà ngay, đem mẹ anh vượt biên giới trốn sang nước Kosala ngay lập tức. Nhưng anh không được xuống núi bằng con đường mà chủ tướng của anh đã chỉ định, nếu không anh sẽ bị mai phục giết chết. Anh phải xuống núi bằng một con đường khác cách xa con đường đó. Thôi, anh đi đi.
Người thanh niên lạy tạ rồi vội vã đứng dậy đi, để lại thanh gươm trên nền đá.
Sau lần thất bại đó, Devadatta lại thuê 31 tên hung thủ phục kích bắn lén Phật. Nhưng khi thấy Phật đi ngang qua với vẻ thanh thản, điềm đạm, oai nghi thì họ đều sanh lòng cảm phục, bước ra thú tội và xin được xuất gia.[13]
Thượng hoàng Bimbisara bị bỏ đói trong nhà giam
Sáng sớm hôm sau, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana đến bạch Phật :
– Bạch Thế Tôn, chúng con nghĩ là đã đến lúc chúng con phải đến Gayasisa để dìu dắt các sư huynh bên ấy khỏi lầm đường lạc lối. Chúng con xin phép Thế Tôn cho chúng con vắng mặt một thời gian.
– Các thầy muốn đi thì cứ đi. Nhưng hãy cẩn thận để bảo toàn sanh mạng.
Thượng tọa Moggallana chợt nhìn thấy thanh gươm trên nền đá, vội hỏi :
– Bạch Thế Tôn, có chuyện gì đã xảy ra nơi đây ?
– Có người định ám sát Như Lai, nhưng Như Lai đã độ cho ông ta rồi.
– Devadatta đã quyết tâm gia hại Thế Tôn, chúng con xin Thế Tôn hãy cẩn trọng.
– Không sao đâu, các thầy cứ an tâm đi. Như Lai biết xử sự theo thời.
Hai vị đại đệ tử đảnh lễ Phật rồi xuống núi.
Qua hôm sau, đức Phật và Thượng tọa Ananda được y sĩ Jivaka mời đến nhà riêng của ông trong vườn xoài để thọ trai. Ðến trưa, lúc Phật và Thượng tọa Ananda vừa thọ trai xong, y sĩ Jivaka thông báo có hoàng thái hậu Videhi đến viếng. Ðức Phật biết ngay chính Jivaka xếp đặt cho thái hậu gặp Phật. Thái hậu đến nơi đảnh lễ Phật xong, ngồi khóc nức nở. Mọi người đều im lặng. Một lúc sau, Phật hỏi :
– Có chuyện gì xin thái hậu cứ nói.
– Bạch Thế Tôn, tình trạng của thượng hoàng rất nguy ngập. Ajatasattu quyết định bỏ đói thượng hoàng cho đến chết. Nó không cho con đem thức ăn vào nhà giam cho thượng hoàng nữa.
Rồi bà kể rằng mấy ngày đầu bà còn được mang thức ăn vào cho thượng hoàng. Nhưng sau lễ đăng quang, lính canh bảo được lịnh vua không cho bất cứ ai mang thức ăn vào, kể cả thái hậu. Từ đó mỗi lần vào thăm, bà lén giấu vài vắt cơm trong tóc cho thượng hoàng ăn đỡ dạ. Nhưng được một tuần thì lính canh khám xét thật kỹ, bắt gặp mấy vắt cơm giấu trong tóc. Chúng nó xin lỗi bà vì vừa được lịnh vua phải khám bà thật kỹ; vua bảo đã nhịn ăn một tuần rồi sao không thấy thượng hoàng mất sức. Túng thế quá, bà mới nghĩ cách: trước khi vào thăm thượng hoàng, bà tắm rửa sạch sẻ, rồi trát một lớp cám rang trộn mật ong vào mình trước khi mặc áo. Nhưng chỉ được vài ngày cơ mưu bị bại lộ, và bà bị cấm hẳn không được vào thăm thượng hoàng nữa. Kể tới đây, bà khóc nức nở một hồi rồi nói :
– Bạch Thế Tôn, con khổ quá. Chắc thượng hoàng không còn sống được mấy ngày nữa. Ở trong phòng giam, ngày nào thượng hoàng cũng đứng nhìn lên núi Griddhakuta qua một khung cửa sổ nhỏ có song sắt, mong được nhìn thấy bóng dáng đức Thế Tôn. Sau khi thoái vị, thượng hoàng rất mong được xuất gia theo Thế Tôn sống đời phạm hạnh. Tuy bị giam cầm, nét mặt thượng hoàng lúc nào cũng bình thản, đầy tha thứ đối với đứa con ngỗ nghịch. Con đã khóc nhiều với thượng hoàng. Con nói với thượng hoàng là con quyết tâm cầu nguyện cho kiếp sau con và thượng hoàng được sanh về nơi nào không có những đứa con ngỗ nghịch …. Con khổ quá, xin Thế Tôn giúp con.
– Thưa thái hậu, xin bà chớ quá đau khổ. Việc gì cũng có nguyên nhân và hậu quả. Sự việc xảy ra như thế là vì trước kia, trong khi cầu tự mong được có con nối dõi, thượng hoàng có lên núi gặp một đạo sĩ chuyên tu thiền định để cầu xin đạo sĩ giúp dùm. Vị đạo sĩ kia bảo phải chờ hai mươi năm nữa, khi đạo sĩ mãn phần sẽ thọ sanh làm con thượng hoàng. Thượng hoàng có bảo vị đạo sĩ phải cam kết giữ đúng lời hứa sẽ thọ sanh làm con ngài sau khi mạng chung. Nhưng sau đó thượng hoàng nóng lòng mong có con sớm mới sai người lên núi giết vị đạo sĩ trong lúc đang ngồi thiền định. Vị đạo sĩ đó đã tái sanh làm Ajatasattu như đã cam kết và đòi món nợ máu.
– Bạch Thế Tôn, đúng rồi. Hèn chi lúc con mang thai Ajatasattu con rất thèm cắn vào bàn tay của thượng hoàng để hút máu. Con phải tự cố gắng chống lại sự thèm khát ghê tởm đó. Một hôm, thượng hoàng cầm dao gọt trái cây bị đứt tay, con liền cầm tay thượng hoàng đưa vào miệng, hút máu một cách say sưa. Con tự cảm thấy xấu hổ và ghê tởm lấy con. Con buông tay thượng hoàng ra, khóc nức nở. Thượng hoàng hỏi tại sao con khóc. Con nói thiệt. Thượng hoàng lấy làm lạ, an ủi con, rồi gọi chiêm tinh gia đến hỏi. Chiêm tinh gia nói đứa con trong bụng sau này sẽ làm hại vua. Con buồn quá, có lần con tự lấy tay chà xát bụng con thật mạnh để phá thai , nhưng rốt cuộc không có kết quả gì. Lúc Ajatasattu được ba tuổi, có lần nó chơi cầm dao chạy tới đòi giết thượng hoàng. Thượng hoàng kinh hãi bồng nó ném xuống lầu nhưng nó chỉ bị gãy một ngón tay. Bạch Thế Tôn, nhưng quả thật con không chịu nổi cảnh một đứa con đối xử với cha mẹ một cách ác độc như thế. Xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ cho con nơi nào không có con cái ngỗ nghịch để con cầu xin tái sanh về nơi đó.
Ðức Phật ngồi nghiêm chỉnh, phóng quang đến khắp các cõi thế giới để quan sát, rồi nói rằng[14]:
– Ở phương tây có cõi Tịnh-độ của đức Phật A-di-đà (Amitabha), nơi đó chúng sanh đều từ hoa sen hóa sanh ra, tâm tánh đều thuần thục hiền hòa. Ai muốn cầu sanh về cõi đó phải giữ giới đức cho thân tâm thanh tịnh rồi chí thành niệm danh hiệu của đức Phật A-di-đà, đến khi lâm chung sẽ được ngài tiếp độ. Nhưng nơi cõi đó tất cả chúng sanh đều thuộc phái nam, không có nữ giới. Nếu thái hậu đã quyết tâm cầu sanh về cõi Tịnh-độ thì nên ăn trường chay, mỗi ngày nên tắm gội sạch sẽ rồi trì niệm danh hiệu đức Phật A-di-đà và chí thành cầu nguyện, nhất là lúc hấp hối phải chí tâm nhớ tưởng đến ngài.
Thái hậu Videhi nghe lời Phật chỉ dạy xong, lãnh thọ phụng hành, đảnh lễ Phật rồi trở về cung. Ðức Phật và Thượng tọa Ananda cũng từ giã Jivaka, trở lên núi Griddhakuta.
Sariputta và Moggallana đến Gayasisa[15]
Sau khi từ giã Phật trên núi Griddhakuta, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana trở về tinh xá Venuvana thu xếp vài việc rồi âm thầm đi đến núi Gayasisa. Hai vị đến nơi lúc Thượng tọa Devadatta đang thuyết pháp. Thượng tọa Devadatta thấy Thượng tọa Sariputta và Thượng tọa Moggallana đến thì vô cùng mừng rỡ, mời hai vị cùng ngồi chung trên pháp tòa. Nhưng hai vị từ chối, chỉ xin được ngồi chung với các đại đức khác trong hàng thính chúng. Sau khi kết thúc pháp thoại, Thượng tọa Devadata nói :
– Hôm nay có hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana đến với chúng ta. Ðây là một tin vui lớn cho giáo hội Gayasisa. Hai Thượng tọa đã từng là hai người bạn rất thân của ta và là những khất sĩ có biện tài lỗi lạc. Vậy tôi xin nhường lời lại hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana tiếp tục buổi thuyết pháp hôm nay.
Nói xong, Devadatta đứng lên chỉ tay về chỗ Sariputta và Moggallana đang ngồi. Hai Thượng tọa đứng dậy. Một tràng pháo tay nổ dòn tán thưởng. Thượng tọa Sariputta lên pháp tòa nói về Tứ Diệu Ðế, thầy nói thật hay và thật hấp dẫn về các đau khổ ở đời, về các nguyên nhân sâu xa của đau khổ, về hạnh phúc chân thật của đời sống thánh thiện, và về cách tận diệt đau khổ tận gốc rễ. Thầy nhấn mạnh về các phương pháp thật hành giới, định, huệ để tránh khổ đau. Ða số thính chúng hoan hỷ lắng nghe và lãnh thọ. Riêng Devadatta thì có vẻ mỏi mệt, ngồi ngủ gật.
Hai thầy Sariputta và Moggallana ở lại Gayasisa hơn một tháng, tham dự vào tất cả những sinh hoạt của giáo đoàn. Cứ ba hôm, Thượng tọa Sariputta lại thuyết pháp và giảng dạy chung cho các khất sĩ. Mỗi ngày Thượng tọa Moggallana giải thích thêm về phần thực hành và những chỗ khó hiểu trong giáo lý. Các khất sĩ nơi đây đã xem hai thầy là bậc đàn anh đáng kính và đáng tin cẩn. Nhưng thầy Kokalika, người phụ tá thân tín của Devadatta, khuyên Devadatta không nên quá tin tưởng hai thầy. Devadatta không đồng ý, trái lại rất thích thú khi thấy có người phụ trách dạy dỗ các khất sĩ thay cho mình.
Một hôm, sau buổi thuyết pháp về Tứ Niệm Xứ, Thượng tọa Sariputta nói với các vị khất sĩ :
– Này các huynh đệ, chiều hôm nay tôi và sư huynh Moggallana sẽ từ giã các huynh đệ. Chúng tôi phải trở về với Phật và giáo đoàn do ngài lãnh đạo. Thưa các huynh đệ, chúng ta chỉ có một đấng thánh nhân giác ngộ hoàn toàn trên đời này mà thôi. Vị đó là đấng Thế Tôn Sakyamuni. Chính ngài đã thành đạo dưới cội bồ-đề cách nay 37 năm. Chính ngài đã sáng lập giáo đoàn khất sĩ với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo tại Isipatana, gần Benares. Này các huynh đệ, chia rẽ giáo đoàn là một trọng tội[16]. Các huynh đệ nên trở về sám hối với đức Thế Tôn. Chúng tôi tin rằng với lòng từ bi cao cả của ngài, chúng ta sẽ được thu nhận lại như cũ. Ðối với tôi, chỉ có đấng Thế Tôn Sakyamuni là vị đạo sư chân chánh của tất cả chúng ta mà thôi. Hai anh em tôi xin chào các huynh đệ. Nếu các huynh đệ muốn trở về với đức Thế Tôn thì các huynh đệ hãy đến tinh xá Venuvana, chúng tôi sẽ đưa các huynh đệ lên Griddhakuta để phát lồ sám hối.
Nói xong, hai Thượng tọa từ giã đại chúng rồi im lặng trở về Venuvana. Hôm đó Devadatta bận việc phải về kinh đô Rajagriha. Kokalika đứng dậy phản đối, nhưng không ai có phản ứng gì cả.
Hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana về đến Venuvana được năm hôm thì có 385 vị khất sĩ từ Gayasisa tìm về. Theo lời chỉ dạy của đức Phật, hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana chỉ dẫn nghi thức cho họ làm lễ phát lồ sám hối trước đại chúng, rồi hướng dẫn họ lên núi Griddhakuta đảnh lễ Phật. Phật dạy các vị khất sĩ về Lục Hòa và khuyên các vị nên triệt để tôn trọng và thực hành Lục Hòa trong giáo đoàn khất sĩ, và tinh tấn tu học theo sự hướng dẫn của các vị Thượng tọa.
Ðộ một tuần sau có thêm 35 vị khất sĩ nữa từ Gayasisa trở về Venuvana. Thượng tọa Sariputta cũng cho họ làm lễ phát lồ sám hối trước đại chúng, rồi đưa họ lên núi Linh Thứu trình diện với Phật. Thượng tọa Ananda hỏi thăm 35 vị Khất sĩ về tình hình tại Gayasisa. Một vị khất sĩ đáp :
– Khi Thượng tọa Devadatta từ Rajagriha trở về Gayasisa, thấy gần bốn trăm sư huynh đã theo hai Thượng tọa Sariputta và Moggallana trở về Venuvana thì giận lắm. Nhưng thầy chỉ trách sơ qua là mấy người bỏ đi đã vong ơn thầy và không biết phân biệt nơi nào tu chính chắn hơn, rồi thầy làm thinh. Hai ngày sau thầy lại trở về thủ đô để gặp vua Ajatasattu. Trong lúc đó Thượng tọa Kokalika cứ tới lui nguyền rủa những người đã bỏ đi, làm cho những người còn ở lại cũng cảm thấy khó chịu.
– Không biết hai sư huynh Sariputta và Moggallana đã nói gì với các huynh đệ mà các huynh đệ bỏ Devadatta trở về với Phật đông như thế ?
– Hai sư huynh đó không hề nói gì động tới Devadatta cả. Hai thầy chỉ lo thuyết pháp và dạy dỗ chúng tôi rất chí tình. Phần đông anh em chỉ mới được hai ba hạ nên còn non nớt về giáo lý cũng như về thực hành. Ðược hai thầy hết lòng chỉ dạy trong vòng một tháng mà anh em cảm thấy tiến bộ rất nhiều và hiểu được phần nào giáo lý cao thượng của đức Thế Tôn, và biết được chính đức Thế Tôn mới là bậc Ðại Giác Ngộ duy nhất hiện nay ở thế gian này, và cũng chính ngài đã thành lập giáo đoàn khất sĩ đầu tiên tại Isipatana với đầy đủ ba ngôi Tam Bảo. Vì vậy nhiều anh em đã quyết định trở về với Phật.
– Vậy còn Thượng tọa Kokalika thì sao ?
– Thượng tọa Kokalika thấy anh em bỏ đi thì giận lắm, nguyền rủa hai sư huynh thậm tệ[17] và trách Thượng tọa Devadatta không thấy xa, quá tin cậy hai sư huynh nên bị gạt.
Devadatta lăn đá hại Phật[18]
Một buổi chiều, trong khi đức Phật đang đi bách bộ xuống núi, từ đông sang tây, trên con đường Bimbisara, trên sườn núi Griddhakuta, đến chỗ đường hẹp hai bên có dốc đá cao thì Devadatta đứng trên dốc cao phía nam lăn xuống một tảng đá lớn. Ðức Phật đang đi trên con đường hẹp giữa hai dốc đá, không tài nào tránh khỏi tảng đá tròn, lớn, từ trên cao lăn xuống. Nhưng khi tảng đá kia lăn xuống đến lưng chừng dốc thì chạm vào giữa hai tảng đá khác làm văng ra nhiều mảnh nhỏ. Chỉ có một mảnh văng trúng vào chân của Phật làm chảy máu ướt cả vạt áo sanghati. Các vị khất sĩ phải khiêng Phật xuống chân núi Linh-Thứu, để ngài nằm nghỉ tại đền Mardakukshi[19] (Pali: Maddakuchchi). Ðức Phật bảo các vị khất sĩ hãy khiên ngài đến vườn xoài của ông Jivaka ở gần đó. Ðến nơi, y sĩ Jivaka liền tẩy trùng, đắp thuốc cầm máu, rồi băng bó vết thương cho Phật. Xong xuôi, ông nói :
– Bạch Thế Tôn, con có một bệnh nhân đang chờ con trong thành Rajagriha. Sau khi thăm bệnh nhân này, con sẽ trở về ngay. Trong khi chờ đợi, xin Thế Tôn cứ nằm nghỉ và đừng động gì đến vết thương cả.
Nhưng sau khi thăm bệnh nhân trở về thì cổng thành đã đống. Ông Jivaka than:
– Nếu ta không về kịp để tháo băng ra thì đêm nay vết thương sẽ làm Thế Tôn đau đớn lắm !
Trong lúc đó đức Phật bảo Thượng Tọa Ananda :
– Này Ananda, Jivaka về trể, cổng thành đã đóng, không thể qua được. Ông ta nghĩ rằng đã đến lúc tháo băng ra. Vậy thầy hãy tháo băng ra đi.
Thượng Tọa Ananda tháo băng ra thì thấy vết thương đã lành. Thượng tọa hỏi :
– Bạch Thế Tôn, sư huynh Devadatta làm chuyện ác nghiệt như thế sẽ phải chịu nghiệp báo như thế nào ?
– Này Ananda, có năm tội (ngũ nghịch) sau khi mạng chung phải sa vào địa ngục vô gián. Ðó là: Giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hiệp tăng và làm thân Phật ra máu. Ðó là năm nghiệp ác đưa đến sự đau khổ liên tục không ngừng ở địa ngục A-tỳ (Avici) cho đến khi hết nghiệp mới ra khỏi.
Sáng sớm hôm sau, Jivaka vừa về vội đến bên giường hỏi Phật :
– Bạch Thế Tôn, đêm qua vết thương có làm Thế Tôn đau đớn lắm không ?
– Này Jivaka, mọi đau khổ đã hoàn toàn chấm dứt đối với Như Lai.
Rồi đức Phật nói kệ :
Người đã sống đầy đủ, không còn biết buồn rầu.
Người đã tự giải thoát, khỏi ràng buộc thế gian,
Không còn gì vướng mắc, có gì là đau khổ. (Kinh Pháp-Cú, bài 90)
Hoàng tử Abhaya chất vấn Phật[20]
Một hôm hoàng tử Abhaya nghe theo lời ngoại đạo sư Nigantha Nataputta, thỉnh Phật đến tư gia cúng dường, rồi nhân đó nêu một câu hỏi khó trả lời như sau : Sa môn Gotama có bao giờ nói lời khó chịu làm buồn khổ người khác không ? Nếu đức Phật trả lời Có thì đức Phật chẳng khác gì người thường; nếu đức Phật trả lời Không thì là nói dối vì đức Phật đã nói Devadatta sẽ bị trừng phạt tại địa ngục A-tỳ trong một kiếp, không thể nào tránh khỏi ?
Ngày hôm sau, đức Phật đến thọ trai xong, hoàng tử Abhaya hỏi :
– Thưa Sa-môn Gotama, có bao giờ ngài thốt ra lời nói khó chịu làm cho người khác buồn khổ không ?
– Tùy trường hợp. Nhưng sao hoàng tử hỏi Như Lai câu đó ?
– Thưa Sa-môn Gotama, thật ra đó là câu hỏi của đạo sư Nataputta. Nếu ngài đáp có thì ngài chẳng khác gì người thường; nếu ngài đáp không thì ngài nói dối vì ngài đã bảo Devadatta sẽ bị đọa địa ngục A-tỳ.
– Này Abhaya, nếu đứa bé đang ngồi trong lòng hoàng tử hiện giờ nuốt phải một miếng gỗ hay một hòn sỏi mắc cổ, thì hoàng tử sẽ làm gì ?
– Tôi sẽ lấy vật đó ra. Nếu gặp khó khăn thì tay trái tôi sẽ đè ngửa đầu nó ra, rồi dùng ngón tay mặt móc vật đó ra dù có thể làm cho nó đau và chảy máu. Vì sao? Chính vì tôi thương nó, muốn cứu nó.
– Cũng thế, này Abhaya, Như Lai không bao giờ nói sai sự thật, nói lời vô ích, nói lời khó chịu làm thương tổn người khác; cũng không bao giờ nói đúng sự thật một cách vô ích, gây khó chịu, thương tổn người khác; cũng không bao giờ nói sai sự thật, nói lời vô ích để làm vui lòng người khác; cũng không bao giờ nói đúng sự thật một cách vô ích để làm vui lòng người khác; Như Lai chỉ nói những lời đúng sự thật và có ích lợi cho người nghe, dù có làm vui lóng người khác hay không.
Devadatta thả voi say hại Phật[21]
Một hôm, đức Phật và một số các vị khất sĩ, từ tốn trang nghiêm, đi từ tinh xá Venuvana (Trúc Lâm) vào thành Rajagriha (Vương Xá) để khất thực. Khi vừa đến cổng thành phía bắc, bỗng nghe tiếng dân chúng la hoảng, chạy tán loạn. Một con voi to lớn từ chuồng voi hoàng gia phóng ra, đưa vòi lên cao, đuôi và hai tai thẳng đứng, miệng rống thật to, chạy thẳng về phía cổng thành. Ðó chính là con voi Nalagiri, nổi tiếng hung dữ nhất của nhà vua. Nó vừa chạy vừa la, bọt mép trào ra, hai mắt đỏ ngầu như điên như dại. Thấy tình trạng quá nguy hiểm, một số khất sĩ vội chạy tìm chỗ núp hai bên đường, một số núp sau lưng đức Phật. Thượng tọa Ananda nắm tay Phật kéo sang một bên, nhưng đức Phật vẫn đứng yên tại chỗ. Ananda vừa bước lên định đứng chận trước mặt Phật, bỗng nghe Phật hú lên một tiếng lớn và dài. Tiếng hú vang dội, trang nghiêm, oai vệ. Ðây là tiếng hú của con voi chúa trong rừng Rakkhita ở gần thành phố Parileyyaka. Phật đã an cư một mình nơi đây vào hạ thứ 10, và ngài đã học được tiếng hú của con voi chúa gọi đàn voi đến tập họp bên bờ suối. Voi Nalagiri xông tới chỉ còn cách Phật chừng mươi bước, bỗng nghe tiếng hú vang dội, nó khựng lại đứng nghe, nét mặt từ hung dữ đổi sang hiền hòa, rồi ngoan ngoãn nằm mọp xuống đất. Ðức Phật tiến tới, đưa tay sờ lên đầu voi với tất cả lòng từ bi cao cả của ngài. Rồi ngài nắm lấy vòi voi, thong thả dắt voi trở về chuồng trong tiếng hoan hô tán thán của dân chúng hai bên đường. Miệng voi còn tỏa ra mùi rượu nồng nặc.
Khi vào tới chuồng voi, đức Phật nghiêm nghị nhìn vị quản voi, rồi với giọng ôn tồn ngài bảo :
– Con voi Nalagiri này tâm tánh hung dữ bất thường, ông phải cẩn thận đừng bao giờ để nó sổng chuồng ra đường có hại đến sinh mạng của dân chúng.
– Bạch đức Thế Tôn, vị quản voi cung kính đảnh lễ và thưa, con không dám sơ sót như vậy. Vốn hồi sáng sớm có ngài Devadatta đến bảo con vào triều gặp vua có việc cần, ngài sẽ tạm giữ voi cho con đến lúc con trở về. Không dè lúc con vừa về tới nơi thì thấy xảy ra vụ này. Xin Thế Tôn tha tội cho con.
Chỉ trong vài hôm, tin Phật bị mưu sát ba bốn lần trong vòng hai tuần lễ được truyền đi khắp thủ đô. Quần chúng càng ngẩn ngơ, kinh hoàng, xôn xao khi hay tin thượng hoàng Bimbisara băng hà. Có người được biết ngài đã chết thê thảm trong ngục thất. Thượng hoàng Bimbisara thọ 66 tuổi, ngài nhỏ hơn Phật 5 tuổi. Năm quy y làm đệ tử tại gia của Phật, ngài mới có 31 tuổi. Lên ngôi từ năm 15 tuổi, ngài đã trị vì trong 51 năm. Suốt 51 năm đó nước Magadha (Ma-kiệt-đà) luôn luôn được hòa bình, dân chúng an cư lạc nghiệp. Chỉ trừ có một lần lâm chiến với vương quốc Anga. Trong cuộc chiến tranh đó vua Brahmadatta của xứ Anga đã thua trận, và xứ Anga bị lệ thuộc xứ Magadha. Khi vua Taxila Pukkusati lên cầm quyền ở Anga, vua Bimbisara đã thiết lập liên lạc thân hữu với vị vua này và đưa vua này đến với đạo Phật. Ðể có hòa bình lâu dài, ngài đã kết thân với các nước láng giềng, cưới em ruột của vua Pasenadi xứ Kosala là Videhi làm chánh hậu, lập thứ hậu từ các hoàng tộc Madra và Licchavi. Chị ruột của vua Bimbisara là Mallika cũng đã được gả cho vua Pasenadi làm hoàng hậu xứ Kosala.
Vua Bimbisara từng tỏ lòng thương kính Phật bằng cách làm một con đường đi từ chân đến đỉnh núi Griddhakuta để Phật đi được dễ dàng, và xây một tháp đựng tóc và móng tay của Phật trong vườn thượng uyển, đặt người thường xuyên đốt hương trầm và thấp đèn nến quanh tháp để cúng dường.
Ðến ngày làm lễ trà tỳ thượng hoàng Bimbisara, Phật tự thân hành tới dự lễ, và bảo tất cả các vị khất sĩ trong giáo đoàn cùng đi. Lễ trà tỳ được tổ chức rất long trọng. Quần chúng tiếc thương vị vua đạo đức của họ đã đến tham dự rất đông đảo.
Trên đường dự lễ về, Phật ghé vườn xoài của y sĩ Jivaka. Vị này cho Phật biết là sau khi thái hậu Videhi bị cấm không được vào thăm thượng hoàng thì ngài đã lìa đời trong nhà giam, bên cạnh không có một người thân thích. Lúc nào ngài cũng nhìn lên đỉnh núi Linh-Thứu (Griddhakuta) mong được trong thấy bóng dáng đức Thế Tôn.
Một hôm y sĩ Jivaka dắt hoàng đệ Abhaya, con của vua Bimbisara và thứ hậu Padumavati, lên núi Griddhakuta trình diện với Phật. Abhaya xin được xuất gia. Ông không còn tha thiết gì đến nếp sống phù hoa danh lợi. Ðã từng nghe Phật thuyết pháp nhiều lần, ông rất hâm mộ đạo lý giải thoát và ước mong được sống nếp sống thảnh thơi, vô ưu của người khất sĩ. Phật chấp nhận cho Abhaya xuất gia.
[1] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 486-490; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[2] Tứ niệm xứ là 4 đề tài thiền quán: thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã.
[3] Tứ chánh cần là 4 điều phải siêng năng thực hành: đoạn trừ những tư tưởng và hành động bất thiện đã sanh, ngăn ngừa những tư tưởng và hành động bất thiện chưa sanh, nuôi dưỡng những tư tưởng và hành động thiện đã sanh, làm nẩy nở những tư tưởng và hành động thiện chưa sanh.
[4] Tứ như ý túc là 4 điều phải làm đến nơi đến chốn: 1- Dục như ý túc là có tâm muốn làm các việc lành thì phải làm cho đến nơi đế chốn; 2- Niệm như ý túc là ghi nhớ các pháp lành một cách đày đủ và rành rẽ; 3- Tinh tấn như ý túc là siêng năng tu tập đến nơi đến chốn pháp môn đã chọn; 4- Tư duy như ý túc là suy nghĩ điều gì thì phải suy nghĩ chính chắn đến nơi đến chốn.
[5] Ngũ căn là 5 căn tánh cần thiết để tu tập có kết quả: Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Ðịnh căn và Huệ căn.
[6] Ngũ lực là 5 sức mạnh giúp cho việc tu tập chóng thành tựu: Tín lực, Tinh tấn lực, Niệm lực, Ðịnh lực và Huệ lực.
[7] Thất bồ-đề phần hay Thất giác chi là 7 điều cần biết rõ cách thực hành để việc tu tập có kết quả: 1- Niệm giác chi là biết ghi nhớ đầy đủ rõ ràng Chánh pháp và các Pháp môn tu; 2- Trạch pháp giác chi là biết lựa chọn pháp môn tu đúng Chánh Pháp và hợp với khả năng mình; 3- Tinh tấn giác chi là biết phát tâm dõng mãnh tu tập pháp môn đã chọn, không gián đoạn; 4- Hỷ giác chi là biết khởi tâm vui mừng khi tu tập có tiến bộ để nuôi dưỡng lòng hăng hái; 5- Khinh an giác chi là biết cách đoạn trừ phiền não và ngã mạn cho thân tâm nhẹ nhàng thư thới; 6- Ðịnh giác chi là biết cách chú tâm thực hành pháp môn mình đã chọn để trừ vọng tưởng và an trụ tâm; 7- Xả giác chi là biết lìa bỏ tất cả vọng chấp (chấp ngã, chấp pháp), lià bỏ chỉ và quán, để tâm được rỗng-rang, bình-đẳng, thanh-tịnh.
[8] Bát chánh đạo là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðã giảng nghĩa ở phần trước.
[9] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 491-495.
[10] Ngũ tịnh nhục: 1- Loại thịt không thấy vì ta mà giết; 2- Loại thịt nghe người đáng tin nói chẳng phải vì ta mà giết; 3- Loại thịt không nghi vì ta mà giết; 4- Loại thịt thú do thọ mạng hết mà chết tự nhiên; 5- Loại thịt do thú dữ ăn còn dư.
[11] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Kinh A-Xà-Thế vương; Trường A-hàm 2, 17; Tăng-nhất A-hàm 12; Ðại Bát Niết-bàn 19, 20; Luật Ngũ Phần 3; Ðại Ðường Tây Vực Ký 9; Huệ Lâm Âm Nghĩa 25.
[12] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[13] Xem Buddha and the Gospel of Buddhism, trang 59.
[14] Kinh Vô Lượng Thọ, còn gọi là kinh Vô Lượng Quang.
[15] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428.
[16] Tội ngũ ngịch gồm có : Tội giết mẹ, tội giết cha, tội giết A-la-hán, tội làm thân Phật ra máu, tội phá hòa hợp tăng. Ai phạm vào tội ngũ ngịch sẽ bị đọa vào “địa ngục vô gián” (avici), chịu khổ liên tục không gián đoạn cho đến khi đền xong tội mới ra khỏi ngục.
[17] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 247-249.
[18] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 197-198; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Kinh Xuất Diệu 14, 15, 16, 25; Luận Ðại Tỳ-bà-sa 83; Vinaya, Maha Vagga, viii.1: i.268-281.
[19] Ðền Maddakuchchi chính là nơi hoàng hậu Videhi đã chà xát bụng định phá thai, ở ngay dưới chân núi Griddhakuta.
[20] Xem Majjhima-nikaya 58: Abhaya-rajakumara sutta; The Life of Buddha as Legend and History, trang 136.
[21] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Tạp A-hàm 16, 18, 38, 48; Tăng Nhất A-hàm 5, 9, 11, 12, 23, 38, 48, 49; Kinh Hiền Ngu 6, 9, 13.
16- Hạ thứ 38 tại Jetavana (năm -552)
Mười hôm sau, đức Phật cùng với các Thượng tọa Sariputta, Moggallana, Ananda và độ 300 khất sĩ rời thành Rajagriha, đi lên miền bắc, vượt sông Ganga, tới thăm chúng khất sĩ ở tinh xá Mahavana, thuộc thủ đô Vesali của xứ Vajji. Rồi Phật lại lên đường hướng về thủ đô Sravasti của xứ Kosala. Mùa mưa sắp tới, ngài cần về Jetavana để kịp thời chuẩn bị cho khóa an cư.
Tới Sravasti, Phật đi thẳng về tinh xá Jetavana. Các thầy chờ Phật ở đây đông lắm. Năm nay các vị khất sĩ và nữ khất sĩ về đây an cư rất đông. Nghe tin đồn về những cuộc biến động ở thủ đô của xứ Magadha, mọi người đều mong gặp Phật để vấn an và biết thêm tin tức chính xác. Ni sư Khema lãnh đạo một đoàn nữ khất sĩ đến thăm viếng Phật. Bà được ni chúng bầu lên thay thế ni sư Pajapati nay đã 113 tuổi.
Quốc vương Pasenadi nghe Phật trở về cũng lập tức đến thăm. Phật kể lại cho vua nghe về các biến cố ở Rajagriha. Phật cho biết thái hậu Videhi, em ruột của vua, vẫn được bình yên nhưng mang trong lòng nhiều sầu khổ. Vua Pasenadi cũng cho Phật biết cách nay hơn một tháng vua đã cử sứ giả đến Rajagriha yêu cầu vua Ajatasattu giải thích tại sao có chuyện giam giữ quốc vương Bimbisara và hai vị đại thần. Ðến nay vẫn chưa thấy đoàn sứ giả trở về. Vua cũng cho Phật biết là để phản kháng hành động của Ajatasattu vua đã lấy lại các ấp thuộc địa phận xứ Kasi mà trước kia, lúc gả công chúa Videhi về làm chánh hậu của vua Bimbisara, vua Maha Kosala đã nhường lại cho xứ Magadha làm của hồi môn.
Mùa an cư đến. Các tinh xá xung quanh thủ đô Sravasti đều có rất đông khất sĩ từ các nơi tập họp về. Cứ hai tuần Phật lại thuyết pháp một lần tại Jetavana. Các khất sĩ ở các tinh xá lân cận, sau giờ ngọ trai, đều tập họp về đây nghe pháp. Các vị đại thí chủ như Sudatta Anathapindika và Visakha đều sốt sắng lo chu toàn về thực phẩm và nhu yếu phẩm cho các khất sĩ.
Phật thuyết kinh A-Di-Ðà
Sau lễ khai mạc mùa an cư kiết hạ năm nay, trước đông đảo thính chúng cư sĩ, khất sĩ, chư thiên và chư đại Bồ-tát đang ngồi im lặng chờ nghe Phật thuyết pháp, Thượng tọa Sariputta từ chỗ ngồi đứng lên, trịch vai áo bên phải xuống, quỳ gối bên phải sát đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn, vừa rồi tại Griddhakuta (Linh Thứu) Thế Tôn có chỉ cho hoàng hậu Videhi cách cầu vãng sanh về cõi Cực Lạc (Sukhavati) của đức Phật A-Di-Ðà (Amita buddha), chúng con nhận thấy đó cũng là một pháp môn tu thật hay, có thể thích hợp với căn tánh và sự mong ước của nhiều người ở cõi Ta-bà (Saha) này. Vậy, trước đông đảo thính chúng hôm nay, xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ dạy rõ ràng về pháp môn vi diệu này.
– Lành thay! lành thay! Này Sariputta, thầy vì lợi ích của chúng sinh mà thưa hỏi đúng lúc. Như Lai sẽ giảng nói về cõi Cực Lạc (Sukhavati) của đức Phật A-Di-Ðà (Amita) và pháp môn tu để được sanh về cõi thanh tịnh ấy. Quí vị hãy chăm chỉ lắng nghe.
– Bạch Thế Tôn, chúng con xin chăm chỉ lắng nghe.
– Này Sariputta, ở phương tây, cách đây trên một trăm tỷ cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc, nơi đó có đức Phật hiệu là A-Di-Ðà đang thuyết pháp. Sở dĩ thế giới đó tên Cực Lạc là vì nơi đó chúng sanh không hề bị khổ não mà thường được an lạc.
Này Sariputta, ở cõi Cực Lạc đầy dẫy những vật quí giá, cây cối, đất đai, đồi núi, sông rạch, nhà cửa đều bằng vàng bạc châu báu. Hoa sen to bằng bánh xe, đủ màu xanh vàng đỏ trắng, phát ra hào quang sáng rỡ và mùi hương thơm ngát. Thường có các loài chim quí hót ca hòa với tiếng gió động cành cây phát ra những điệu nhạc vi diệu làm cho chúng sanh nơi đó được tinh thần sảng khoái, phát bồ-đề tâm, thâm nhập chánh pháp, luôn luôn nghĩ đến Phật, Pháp, Tăng. Do đó, ở cõi Cực Lạc, chúng sanh không hề có ý niệm về ba ác đạo[1], trái lại có đầy đủ môi trường thuận lợi để thành tựu các công đức trang nghiêm. Hơn nữa, chúng sanh nơi cõi Cực Lạc đều do hoa sen hóa sanh, nên thân tâm đều thanh tịnh, không có nam nữ, không có ái dục.
Này Sariputta, sở dĩ đức Phật cõi Cực Lạc có hiệu là A-Di-Ðà (Amita = Vô Lượng) là vì đức Phật đó phát ra vô số hào quang chiếu khắp mười phương không hề bị chướng ngại, do đó nên có hiệu là Amitabha (Vô Lượng Quang). Ðức Phật A-Di-Ðà lại có hiệu là Amitayus (Vô Lượng Thọ) vì thọ mạng của ngài, cũng như của nhân dân nơi đó, dài vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp[2].
Này Sariputta, như có thiện nam tín nữ nào nghe nói đến đức Phật A-Di-Ðà liền phát tín tâm kiên cố, một lòng chí thành chấp trì danh hiệu một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, đến lúc sắp mạng chung vẫn thành kính niệm danh hiệu ngài, thì đức Phật A-Di-Ðà và thánh chúng nhất định sẽ có mặt để tiếp rước người đó về cõi Cực Lạc.
Này Sariputta, những điều ta vừa nói thật vô cùng khó tin đối với chúng sanh ở cõi Ta-bà này, nhưng đó là những lời nói chân thật. Mười phương chư Phật cũng đều nói như thế và các ngài đều phát nguyện tiếp sức hộ niệm cho những ai thực hành pháp môn Tịnh-Ðộ này.
Phật vừa nói xong, các đại đệ tử liền chắp tay cung kính thưa:
– Bạch Thế Tôn, thật khó tin, thật hy hữu, thật vi diệu, chúng con xin tín thọ, phụng hành và truyền bá pháp môn Tịnh-Ðộ này.
Nhờ Ðức Tin có thể chứng Vô Sanh hay không?[3]
Một hôm có 30 tu sĩ sống trong rừng đến tinh xá Jetavana gặp đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên chờ nghe pháp. Ðức Phật quán biết các tu sĩ này có đủ khả năng đạt được quả vị A-la-hán, bèn xoay qua hỏi Thượng tọa Sariputta về sự ích lợi của Ðức Tin như sau:
– Này Sariputta, thầy có nghĩ rằng Ðức Tin, khi đã được phát triển đầy đủ, có thể đưa đến quả vị Vô Sanh hay không?
– Bạch Thế Tôn, con không tu tiến hoàn toàn do Ðức Tin nơi Thế Tôn, không do phát triển đầy đủ Ðức Tin nơi Thế Tôn để đạt đến quả vị Vô Sanh. Nhưng dĩ nhiên, đối với những người không biết, không thấy, không nhận thức được, không nắm vững được bằng lý trí, bằng tuệ giác, thế nào là Vô Sanh, thì những người đó phải phát triển đầy đủ Ðức Tin nơi Tam Bảo mới có thể chứng được Vô Sanh.
Nhiều vị khất sĩ nghe rồi, cho rằng Thượng tọa Sariputta vẫn chưa dứt hết tà kiến, vì Thượng tọa vẫn chưa đặt hết tin tưởng vào đức Phật. Ðức Phật bảo:
– Này các thầy, Sariputta đã từng nói không ai không phát triển đầy đủ ngũ căn (Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ) mà có thể thành đạo được. Nhưng Sariputta không tiến tu nhờ đức tin nơi người khác, mà chính nhờ tự mình tinh tấn thực hành Thiền Ðịnh theo Chánh Pháp để đạt đến Trí Huệ cao siêu.
Rồi đức Phật nói kệ:
Người không tin mù quáng,
Người không còn tạo tác,
Người đã đạt vô sanh,
Không còn nghĩ thiện ác,
Không ham muốn lợi danh,
Là người cao thượng nhất. (Kinh Pháp Cú, bài 97)
Phật dạy cách xây dựng hạnh-phúc[4]
Ðề tài bài pháp thứ hai trong mùa an cư năm nay là cách xây dựng hạnh phúc ngay trong đời này. Phật nói đại ý như sau:
” Khi Như Lai nói cuộc đời dẫy đầy đau khổ, nào là sanh già bệnh chết, nào là ái ly, oán hội, cầu bất đắc …là để nhắc nhở những người đang đam mê, mong tìm hạnh phúc trong dục lạc, quên mất cuộc đời vô thường, thân vô thường, tâm vô thường, mà vô thường là sanh diệt, là khổ đau. Cũng như một người bị bệnh hủi, bị bắt buộc vào sống biệt lập ở trong rừng. Mỗi khi cảm thấy ngứa ngáy, xốn xang, khó chịu, ông ta đào một cái hố, đốt củi khô cháy đỏ, rồi đứng bên miệng hố mà hơ mình mẩy tay chân. Trong khi làm như thế ông ta cảm thấy rất đã ngứa và rất sung sướng. Ðến khi ông hết bệnh, trở về đời sống bình thường. Một hôm ông trở vào rừng để thăm những người bạn còn đang bệnh. Khi đến bên cạnh hố than hồng, chỗ họ đang đứng hơ mình, thì ông cảm thấy nóng quá, chịu không nổi, phải tránh ra xa. Dục lạc như hố than hồng đối với người mắc bệnh hủi, chỉ có người bệnh mới thấy dục lạc là vui. Người lành mạnh đều tránh xa.
” Một khi đã nhận thức được đời là đau khổ, những ai muốn tìm hạnh phúc trước hết phải tìm cách diệt trừ đau khổ. Muốn diệt trừ đau khổ phải biết gốc của nó là mê lầm (vô minh), ham muốn (tham ái) và cố chấp (kiến thủ). Mê lầm là thân vô thường mà cho là thường; tâm vô thường mà cho là thường; ái dục là đau khổ mà cho là vui; không biết luật nhân quả. Ham muốn là ham danh, ham lợi, ham giàu sang, ham sắc đẹp, ham âm thanh êm ái dịu dàng, ham hương thơm, ham được người khen, ham rồi muốn được, được rồi muốn giữ, nhưng tất cả đều vô thường làm sao giữ mãi được. Cố chấp là cho ý mình là đúng là hay, con người vô ngã mà chấp là có ngã, chấp ngã là thường, chấp ngã là đoạn, chấp có, chấp không, chấp đúng, chấp sai, chấp phải, chấp quấy …; do cố chấp nên có bất đồng ý kiến, cãi lẫy và chiến tranh.
” Một khi đã biết được nguyên nhân của khổ thì phải biết cách diệt trừ nó. Diệt trừ hết mê lầm, hết ham muốn, hết cố chấp là hết khổ, là được hạnh phúc chân thật vĩnh cửu, là được giải thoát khỏi sanh tử luân hồi. Mà muốn diệt trừ hết mê lầm, hết ham muốn, hết cố chấp thì phải biết Chánh pháp, thực tập thiền quán, giữ giới thanh tịnh, tập quen sống đời phạm hạnh, thiểu dục, tri túc. Người sống theo Chánh Pháp sẽ thực chứng được hạnh phúc chân thật ngay trong hiện tại, và tiến dần lên các thánh quả từ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, đến A-la-hán và quả vị Phật.Ể
Phật thăm cư-sĩ Sudatta trên giường bệnh[5]
Sau buổi thuyết pháp, bà Punnalakkhana, vợ của cư sĩ Sudatta Anathapindika, đến đảnh lễ Phật và báo tin cho Phật biết cư sĩ Sudatta đã bị bệnh gần mười hôm nay. Ông rất tiếc không dự được buổi thuyết pháp này. Bệnh ông càng ngày càng nặng, sợ không được nhìn thấy mặt Phật trước khi qua đời.
Ngày hôm sau, đức Phật cùng với hai Thượng tọa Sariputta và Ananda đến thăm ông Sudatta. Ông Sudatta ngồi trên một chiếc ghế dựa, nét mặt xanh xao. Phật bảo:
– Này Sudatta, ông đã sống một đời đầy ý nghĩa và hạnh phúc. Với công đức bố thí rộng lớn, ông đã làm vơi nổi khổ của biết bao nhiêu người. Biệt danh Cấp-cô-độc mà người ta xưng tặng ông thật xứng đáng. Ngoài ra ông còn trải vàng mua đất, thành lập tinh xá Jetavana cho tăng chúng có nơi tu học dễ dàng, thuận lợi, cho dân chúng Sravasti có nhiều cơ hội học hỏi Chánh Pháp. Công đức hộ trì Chánh Pháp của ông thật to lớn. Ông đã tinh tấn sống theo Chánh Pháp, tạo dựng hạnh phúc cho bản thân, cho gia đình và cho nhiều người trong xã hội. Bây giờ ông nên an nghỉ và tịnh dưỡng. Như Lai sẽ nhờ Thượng tọa Sariputta thỉnh thoảng tới thăm ông và hướng dẫn sự tu học cho ông. Ông không nên cố gắng đến tinh xá trong lúc này, vì sự di chuyển sẽ làm cho ông mất nhiều sức lực.
– Kính lạy đức Thế Tôn, con xin vâng lời ngài dạy.
Phật dạy Singala cách sống đạo-đức để có hạnh phúc
Hai tuần sau, trong buổi thuyết pháp, Phật kể cho đại chúng nghe câu chuyện Phật gặp ông Singala[6] (Thiện-Sinh). Một buổi sáng nọ, ở thành Rajagriha, trong khi đi khất thực, Phật gặp một thanh niên tên Singala đang đứng giữa sân trước nhà cúi lạy sáu phương đông, tây, nam, bắc, trên, dưới một cách cung kính. Phật tới gần hỏi chàng lạy như thế để làm gì. Singala thưa là từ hồi còn bé, chàng đã được thân phụ dạy mỗi buổi sáng phải ra sân lạy sáu phương. Chàng chỉ biết vâng lời cha, sáng nào cũng lạy như thế, nhưng không biết để làm gì.
Phật nói: Lạy như thế là để thực tập một lối sống có hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Lạy phương đông là để quán chiếu[7] cách đối xử với công ơn cha mẹ. Lạy phương nam là để quán chiếu cách đối xử với công ơn thầy tổ. Lạy phương tây là để quán chiếu cách đối xử với tình nghĩa vợ con. Lạy phương bắc là để quán chiếu cách đối xử với tình nghĩa bạn bè. Lạy phương dưới là để quán chiếu cách đối xử với người cộng sự. Lạy phương trên là để quán chiếu cách đối xử với bậc hiền nhân. Nhưng phải biết điều kiện căn bản trong các cách đối xử là phải giữ gìn năm giới (không giết hại, không tham lam trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không say rượu), không nên hành động vì tham lam, vì giận hờn, vì sợ hãi, hay vì mê lầm trong lúc chưa có đủ yếu tố quyết định. Ngoài ra phải tránh xa sáu loại hành động có thể đưa đến tán gia bại sản: uống rượu say sưa, đi lang thang trong thành phố vào giờ khuya khoắt, lui tới những nơi cờ bạc, lui tới những nơi ăn chơi trác táng, la cà với những người bạn xấu, và lười biếng ỷ lại. Này Singala, ông phải lạy sáu phương với sự quán chiếu như thế mới thật sự có ý nghĩa và lợi ích, vì hành động đó có thể mang đến cho ông hạnh phúc thiết thực trong cuộc sống.
Ðức Phật nói tiếp: Hạnh phúc chân thật là điều có thể thực hiện được ngay trong đời này, nếu chúng ta biết:
1- Chọn một nghề sinh sống có ích lợi cho nhiều người.
2- Thân cận với những người hiền đức, với những thiện tri thức.
3- Phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc vợ chồng con cái.
4- Chia xẻ thì giờ, tài vật, hạnh phúc với kẻ khác.
5- Biết ơn, khiêm nhượng, ít ham muốn, biết đủ.
6- Chọn môi trường sinh sống thuận tiện cho sự tu học, và sự làm lành.
7- Sống một cuộc đời trong sạch và cao thượng.
8- Chuyên cần học hỏi giáo pháp giác ngộ[8] và giải thoát[9].
9- Cách thiền quán để diệt trừ mê lầm[10] và phiền não[11].
Sau cùng, Phật nêu gương sáng của ông Sudatta Anathapindika, một cư sĩ biết sống theo Chánh pháp đã mang lại hạnh phúc cho chính mình, cho gia đình và cho nhiều người trong xã hội trong đời hiện tại. Hành động tốt đẹp này còn là những nhân lành sẽ mang đến những hoa trái xinh tươi trong các đời vị lai.
Bà Punnalakkhana, vợ của cư sĩ Sudatta, cảm động đến rơi nước mắt. Bà đứng lên bạch Phật:
– Bạch đức Thế Tôn, cuộc sống của người cư sĩ nhiều khi thật bận rộn, nhất là khi mình được thừa hưởng một gia sản lớn. Con nghĩ nếu mình có một cơ nghiệp bình thường có lẽ việc tu học sẽ được dễ dàng hơn. Nhiều khi nhìn những vị khất sĩ không nhà, không cửa, không vợ, không con, tay ôm bình bát đi thong dong trên các nẻo đường khất thực, thật nhàn hạ, chúng con ước mong được sống như thế. Nhưng chúng con có nhiều trách nhiệm quá, nhiều sự ràng buộc quá, không biết làm sao?
– Này Punnalakkhana, người khất sĩ cũng có nhiều trách nhiệm: phải học hỏi giáo pháp, phải thực tập thiền quán, phải tôn trọng giới luật, phải sống đời phạm hạnh trong sạch, phải an trú ngày đêm trong chánh niệm, phải hoằng pháp lợi sinh. Như có vị cư sĩ nào muốn làm quen với đời sống xuất gia của các khất sĩ thì có thể xin thọ Bát Quan Trai giới.
Phật dạy Bát Quan Trai giới[12]
Hoặc nửa tháng một lần, hoặc mỗi tháng một lần, hoặc ba tháng một lần, các vị cư sĩ nào muốn tập sống như người xuất gia có thể đến chùa xin thọ Bát Quan Trai giới với vị sư trưởng. Người thọ Bát Quan Trai giới phải sống trọn một ngày một đêm trong chùa, thọ ngọ trai, thực tập thiền tọa, thiền hành, sống trong phạm hạnh[13], tỉnh thức[14], tinh cần, thong dong và an lạc giống hệt như các vị tu sĩ. Sau thời gian sống một ngày một đêm như thế, các vị lại xả giới và trở về đời sống thế gian, chỉ giữ lại tam quy, ngũ giới.
Trường hợp không thể đến chùa, người cư sĩ có thể thỉnh ít nhất hai vị tỳ-kheo đến nhà mình để tuyên giới, hướng dẫn và chỉ dạy trong các ngày tu Bát Quan Trai.
Bát Quan Trai gồm có tám giới:
1- Không sát hại sinh mạng.
2- Không trộm cướp.
3- Không dâm dục.
4- Không nói dối.
5- Không uống rượu.
6- Không trang sức.
7- Không nằm và ngồi trên giường ghế sang trọng.
8- Không sử dụng tiền bạc.
Tám giới ấy là để phòng ngừa vọng niệm[15] và tạp niệm[16] phát sanh trong thời gian tu tập. “Quan” có nghĩa là phòng ngừa. Còn “trai” có nghĩa là chỉ ăn một bữa chay trước hoặc trong giờ ngọ, để có thì giờ tu tập.
Ðược Phật chỉ dạy phép Bát Quan Trai, giới cư sĩ hôm ấy rất lấy làm sung sướng.
Sariputta dạy Sudatta cách quán tưởng lúc hấp hối[17]
Mười ngày sau, được tin bệnh của ông Sudatta trở nặng, Thượng tọa Sariputta và Thượng tọa Ananda liền đến thăm. Ông Sudatta nằm trên giường bệnh. Sariputta và Ananda ngồi trên ghế bên cạnh giường. Biết ông Sudatta không còn sống được bao lâu nữa, Thượng tọa Sariputta khai thị:
– Ông Cấp-cô-độc Sudatta, ông đã sống một cuộc đời cao thượng và hữu ích cho gia đình, cho xã hội và cho giáo pháp. Trong buổi thuyết pháp vừa qua tại Jetavana, đức Thế Tôn đã tán thán công đức của ông như thế. Mọi việc đáng làm ông đã làm trong suốt cuộc đời. Giờ đây ông nên bình tỉnh lắng nghe tôi nói và làm theo. Này ông Sudatta, ông nên quán tưởng như sau: mắt không phải là tôi, tai không phải là tôi, mũi, lưỡi, thân cũng không phải là tôi.
Ðợi cư sĩ quán tưởng xong, Thượng tọa nói tiếp:
– Bây giờ ông nên tiếp tục quán tưởng như sau: những gì tôi thấy không phải là tôi, những gì tôi nghe không phải là tôi, những gì tôi ngửi, nếm, xúc chạm cũng không phải là tôi.
Ngưng một lúc, Thượng tọa Sariputta chẫm rãi nói tiếp:
– Ông nên quán tưởng rõ ràng như thế này: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không phải là tôi; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không phải là tôi; thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc giác, suy nghĩ, cũng không phải là tôi. Vì nếu mất một hay tất cả 18 thứ đó thì tôi vẫn là tôi, không bị sứt mẻ gì. Tôi không bị ràng buộc và giới hạn trong những yếu tố ấy.
Ngưng một lúc, Thượng tọa Sariputta nói tiếp:
– Bây giờ ông nên quán tưởng như thế này: thân xác này không phải là tôi, cảm giác đau đớn này không phải là tôi, sự suy nghĩ này không phải là tôi, sự biến đổi của thân xác và tư tưởng không can hệ gì đến tôi. Sinh tử không chạm được tới tôi. Sinh không làm cho tôi có, tử không làm cho tôi mất. Tôi mỉm cười biết rằng cái tôi chân thật chưa hề sinh nên cũng không bao giờ diệt.
Thực tập tới đây, cư sĩ Sudatta mỉm miệng cười. Rồi bỗng nhiên nước mắt chảy ràng rụa trên hai má ông. Thượng tọa Ananda hỏi:
– Ông Sudatta, sao ông lại khóc? Ông có nuối tiếc gì không? Ông quán chiếu không thành công hả?
– Thưa Thượng tọa, tôi không nuối tiếc gì. Nhờ đã nhiều lần được nghe đức Thế Tôn thuyết pháp nên hôm nay tôi quán chiếu rất thành công. Nhưng tôi cảm động quá vì suốt 35 năm được phụng sự đức Thế Tôn và gần gũi các vị Thượng tọa mà chưa bao giờ tôi được nếm mùi vị giáo lý thậm thâm vi diệu như hôm nay.
– Ông Sudatta, pháp môn Quán 18 Giới Phân Biệt và Quán Bát Nhã này các vị khất sĩ và nữ khất sĩ thường được nghe đức Thế Tôn giảng dạy luôn.
– Thưa Thượng tọa, xin Thượng tọa bạch với Phật cho phép giới cư sĩ cũng được nghe để hiểu và thực hành giáo lý thâm diệu này.
Cư sĩ Sudatta Anathapindika từ trần ngay buổi chiều hôm đó. Hai Thượng tọa Sariputta và Ananda đã ở lại hộ niệm rất lâu cho cư sĩ. Theo kinh sách, sau khi trút hơi thở cuối cùng, ông Sudatta liền tái sanh vào cung trời Tusita (Ðâu-suất) và tối hôm đó trở về tinh xá Jetavana với một thân thể nhẹ nhàng, linh hoạt, chiếu sáng, đảnh lể Phật. Ông Sudatta có ba người con gái là Maha Subhadda, Culla Subhadda và Sumana, và một người con trai duy nhất là Kala. Tất cả đều đắc quả Tu-đà-hoàn, riêng Sumana đắc quả Tư-đà-hàm.
Chiến tranh giữa hai xứ Magadha và Kosala[18]
Mùa an cư thứ 38 vừa chấm dứt, các vị khất sĩ chưa kịp lên đường đi hoằng pháp thì nghe chiến tranh bùng nổ giữa hai nước Magadha và Kosala. Ðại binh của nước Magadha, do vua Ajatasattu đích thân lãnh đạo, đã vượt sông Ganga gần thị trấn Benares đi vào lãnh thổ Kosala. Bên xứ Kosala, sau khi được quân đội biên phòng thông báo, vua Pasenadi cũng thân hành điều động binh mã đến Kasi. Việc binh quá cấp bách, vua không kịp đến thông báo và từ giã Phật. Vua nhờ thái tử Jeta đến gặp Phật để trình bày mọi việc.
Phật đã từng được thông báo rằng sau khi nghe tin Ajatasattu mưu sát cha để lên ngôi, vua Pasenadi đã tỏ ý phản kháng bằng cách lấy lại một ấp thuộc làng Kasika mà ngày xưa vua Maha Kosala đã tặng cho vua Bimbisara như vật hồi môn của công chúa Videhi. Ấp này đã đem lại cho xứ Magadha mỗi năm một số tiền thuế trị giá một trăm ngàn đồng vàng. Vua Ajatasattu vừa lên ngôi, muốn củng cố uy thế của mình trong xứ cũng như đối với các nước ngoài, liền cất binh sang đánh để lấy lại.
Thượng tọa Sariputta thông báo cho các vị nam nữ khất sĩ ở đâu thì nên hành đạo ngay tại đó, đừng di chuyển nhiều trong thời buổi chiến tranh. Thượng tọa cũng xin Phật ở lại Sravasti cho đến khi tình hình yên tĩnh.
Hai tháng sau, dân chúng kinh hoàng nghe tin binh tướng Kosala đã thất trận ba lần tại Kasika[19]. Vua Pasenadi và các tướng phải rút tàn binh chạy về thủ đô Sravasti. Tình hình rất khẩn trương, may nhờ hệ thống phòng thủ tại Sravasti rất là kiên cố. Binh tướng của vua Ajatasattu đã đuổi theo và công kích ngày đêm mà cũng không hạ được thành. Sau đó, nhờ kế hoạch của tướng Bandhula, vua Pasenadi phối hợp được quân trong thành và quân từ các địa phương kéo về tiếp ứng kịp thời, mở một cuộc tổng phản công toàn thắng. Vua Ajatasattu cùng các tướng soái dưới quyền đều bị bắt sống với trên một vạn tù binh. Số binh lính còn lại, hoặc chết hoặc bỏ chạy tán loạn. Ngoài ra, quân đội Kosala còn chiếm được rất nhiều voi, ngựa, xe của bên địch.
Chiến tranh kéo dài hơn sáu tháng. Dân chúng Sravasti được lệnh tổ chức ăn mừng thắng trận. Sau khi thu xếp công việc binh đội và triều chính, vua Pasenadi đến thăm Phật tại tinh xá Jetavana. Vua kể cho Phật nghe những gian nan của cuộc chiến. Vua nói rằng chính Ajatasattu đã gây ra chiến tranh nên ngài phải chiến đấu tự vệ. Vua nói tiếp:
– Bạch Thế Tôn, Ajatasattu dù sao cũng là cháu gọi trẫm bằng cậu ruột. Trẫm không nỡ giết, cũng không nỡ bỏ nó vào chốn lao tù. Xin Thế Tôn chỉ dạy cho trẫm nên xử trí như thế nào?
– Thưa đại vương, xung quanh đại vương có rất nhiều quan tướng và bạn hữu trung thành, nên đại vương thắng trận này không có gì là lạ. Nhưng xung quanh Ajatasattu có rất nhiều phần tử xấu, vì vậy Ajatasattu đã đi lầm đường lạc nẻo, triều đình rối ren, quan quân và dân chúng mất lòng tin, nên phải thất bại. Như Lai đề nghị đại vương nên lấy lễ tiếp đãi quốc vương Magadha theo đúng cung cách của một ông vua đối xử với một ông vua. Nhưng đại vương cũng phải có thì giờ dạy dỗ Ajatasattu như dạy một người cháu ruột. Ðại vương hãy nhấn mạnh đến sự cần thiết có những người bạn hữu tốt và những phần tử trung kiên. Cuối cùng đại vương có thể đặt tiệc tiễn đưa vua xứ Magadha về nước. Sự bình an của trăm họ tùy thuộc nơi sự khéo léo của đại vương.
Rồi Phật cho gọi một vị khất sĩ trẻ tuổi tên Silavat đến và giới thiệu vị này với vua Pasenadi. Khất sĩ Silavat là em cùng cha khác mẹ với Ajatasattu, tư chất rất thông minh. Lúc 16 tuổi ông đã theo học với Thượng tọa Moggallana, đến 20 tuổi ông xin xuất gia với Thượng tọa và đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Sau biến cố tại thủ đô Rajagriha, Silavat được Thượng tọa Moggallana gởi về tinh xá Jetavana tu học.
Vua Pasenadi hỏi thăm đại đức Silavat về tình trạng hoàng gia ở Rajagriha. Ðại đức đã cung kính nói cho vua nghe những gì thầy đã tai nghe mắt thấy. Ðại đức cho biết là năm ngoái đã có một người từ thủ đô xứ Magadha tới đây với sứ mạng ám sát đại đức, nhưng đại đức đã cải hóa được người ấy và độ cho người ấy được xuất gia. Hiện vị khất sĩ kia đang tu học ở một trung tâm không xa thành phố.
Vua Pasenadi lạy tạ Phật rồi trở về cung. Vua Ajatasattu sau đó được trả tự do và đưa về nước, lại được vua Pasenadi gả công chúa Vajira cho, và hứa sẽ trả lại ấp ở làng Kasika mà ngày xưa vua Maha Kosala, cha của vua Pasenadi, đã tặng cho xứ Magadha. Lấy tình thương xóa bỏ hận thù, vua Pasenadi đã làm theo lời Phật dạy. Vua Ajatasattu bây giờ vừa là cháu ruột vừa là con rể của ngài.
17- Hạ 39 tại Jetavana (năm -551)
Chiến tranh vừa kết thúc nhưng những tàn tích đau thương do chiến tranh gây ra còn ảnh hưởng sâu đậm trong lòng các chiến sĩ và dân chúng cả hai xứ Magadha và Kosala. Các vị khất sĩ bắt đầu lên đường hoằng pháp ở các vùng lân cận trú xứ của mình để an ủi, khuyên nhủ và khuyến khích dân chúng làm việc thiện, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, xoa diệu các tàn tích chiến tranh. Sau một thiên tai hay một thảm nạn, người ta càng thấy rõ cuộc đời tạm bợ, mạng sống vô thường, danh lợi, tài sản nay còn mai mất; người ta dễ dàng trở về đời sống nội tâm, nêu cao các giá trị tinh thần, hướng về đạo pháp. Ðây là lúc thuận lợi nhất cho việc hoằng pháp của các vị khất sĩ.
18- Hạ 40 tại Jetavana (năm -550)
Vua Pasenadi truyền xây dựng một tinh xá mới cho giáo đoàn khất sĩ tại ven thủ đô Sravasti. Tinh xá mới này lấy tên là Rajakarama. Ðức Phật ở tại Kosala liên tiếp trong hai năm, đi giáo hóa các nơi trong xứ và nhập hạ tại Jetavana.
Trong thời gian này, tại Rajagriha, thủ đô của Magadha, Thượng tọa Devadatta không còn được vua Ajatasattu kính nể nữa. Trong số hơn một trăm vị khất sĩ còn ở lại với Thượng tọa, 80 vị đã bỏ Thượng tọa để trở về giáo đoàn của Phật ở tinh xá Venuvana. Devadatta càng ngày càng bị cô lập. Thầy bị bệnh nằm liệt trên núi Gayasisa suốt chín tháng, không đi đâu được cả.
Từ ngày chấm dứt chiến tranh giữa hai nước Kosala và Magadha, vua Ajatasattu cũng không còn gặp gỡ Thượng tọa Devadatta, và cũng không có liên lạc nào với giáo đoàn khất sĩ của Phật ở Venuvana. Vua chỉ thân cận với những vị lãnh đạo của các giáo phái khác. Tuy vậy các khất sĩ vẫn được hành đạo một cách yên ổn. Dân chúng cũng như các vị khất sĩ ở Griddhakuta (Linh Thứu) và Venuvana (Trúc Lâm) rất mong Phật trở về. Y sĩ Jivaka cũng rất tha thiết mong Phật trở về.
Phật chỉ cách chấn chỉnh tư-pháp và kinh-tế[20]
Sau mùa an cư năm -550, hoàng hậu Mallika xứ Kosala từ trần. Vua Pasenadi buồn quá, đến thăm Phật để tìm nguồn an ủi. Hoàng hậu Mallika là chị ruột của vua Bimbisara và là người bạn đời rất xứng đáng của vua Pasenadi, rất được vua thương yêu hết lòng. Hoàng hậu là người thuần kính theo Phật, thông minh, sáng suốt, thông hiểu giáo pháp một cách sâu xa. Chính bà đã can gián vua bỏ lệ sát hại thú vật để cúng thần linh, và hướng dẫn vua theo đạo giác ngộ của Phật.
Ðau khổ vì bị mất người bạn đời yêu quí đã từng chia xẻ vui buồn với mình trên 50 năm, vua Pasenadi tìm đến Phật. Ngồi im lặng thật lâu bên Phật, vua cảm thấy tâm hồn an tịnh trở lại. Sau khi an ủi vua bằng cách nhắc nhở cuộc đời là vô thường, sầu khổ là có hại, Phật khuyên vua nên dành thêm thì giờ vào việc tu tập thiền quán, lúc tuổi già nên cố gắng sống đúng theo Chánh Pháp để làm nhân lành cho kiếp sau. Phật khuyên vua nên tìm cách cải tổ guồng máy tư pháp và kinh tế để mang đến an vui và hạnh phúc cho dân. Phật nói những hình phạt như đánh đập, tra tấn, giam cầm, tử hình, không phải là những biện pháp hữu hiệu nhất để ngăn ngừa trộm cướp. Gặp thời đói kém và loạn lạc, trộm cướp và bạo động tự nhiên gia tăng. Nhà cầm quyền cần có chính sách kinh tế hợp thời để an dân như giảm thuế, giúp thực phẩm, lúa giống, phân bón cho nông dân nghèo, cấp vốn cho nhà buôn, tăng lương cho công tư chức vân vân … Chính sách kinh tế muốn được kết quả tốt phải là một chính sách nhằm khuyến khích và giúp đỡ những người tự nguyện có khả năng chứ không thể căn cứ vào sự bắt buộc và đe dọa.
Vua Pasenadi nghe Phật nói xong, lòng thấy nguôi ngoai, nguyện dành thêm nhiều thì giờ để tu học và chấn chỉnh kinh tế cho dân chúng được an vui.
Thượng tọa Ananda cũng đã chăm chỉ ngồi nghe. Về sau ngài trùng tuyên lại ý này trong kinh Kutadanta.
19- Hạ 41 tại Jetavana (năm -549)
Một buổi chiều, sau mùa an cư, Thượng tọa Ananda thấy Phật ngồi xoay lưng về phía mặt trời. Thượng tọa lấy làm lạ, hỏi:
– Bạch Thế Tôn, con thường thấy Thế Tôn hay nhìn cảnh mặt trời khuất bóng. Sao hôm nay Thế Tôn lại ngồi xoay lưng về phía mặt trời?
– Này Ananda, hôm nay Như Lai cảm thấy hơi lạnh nên ngồi như thế để sưởi ấm lưng.
Thượng tọa Ananda lấy tay xoa lưng Phật một hồi lâu cho ấm. Rồi thầy ngồi xuống, vừa xoa bóp hai chân cho Phật, vừa nói:
– Bạch Thế Tôn, con đã được làm thị giả cho Thế Tôn 20 năm nay. Con nhớ mấy năm trước màu da của Thế Tôn vàng óng ánh. Nay da đã nhăn, và những bắp thịt nơi chân Thế Tôn đã teo lại rất nhiều. Các ống xương lộ ra thấy rõ.
– Sống lâu thì phải già, ai cũng thế. Năm nay Như Lai đã 75 tuổi rồi. Mắt và tai của Như Lai cũng không còn được tinh nhuệ như trước. Này Ananda, Như Lai muốn trở về núi Griddhakuta để tịnh dưỡng một thời gian. Nơi đó có nắng ấm và không khí trong lành. Thầy có thích trở lại núi Linh Thứu ngắm cảnh mặt trời lên và cảnh mặt trời lặn không?
– Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn về Griddhakuta, con rất sung sướng được theo hầu Thế Tôn.
20- Hạ 42 tại Venuvana (năm -548)
Ðầu mùa xuân năm -548, Phật lên đường trở về thủ đô xứ Magadha. Ngài đi thong thả. Lộ trình được chia ra nhiều chặng để Phật có thể nghỉ ngơi một hai ngày tại các tinh xá dọc đường, và nhân tiện có thể chỉ dạy và sách tấn các vị khất sĩ và cư sĩ tại những nơi ấy. Phật lần lượt đi qua các xứ Sakya, Malla, Videha, Vajji và cuối cùng vượt sông Ganga đến Magadha. Phật ghé thăm tinh xá Nalanda và Ambalatthika trước khi đến Venuvana.
Lúc gần đến Venuvana thì thấy có đông đảo thợ thuyền và dân chúng đang xúm nhau xây cất tường thành và nhà cửa. Thượng tọa Ananda hỏi thăm, được biết vua Ajatasattu đang dời thành Vương xá cũ ở trong thung lũng giữa các núi Vaibhara, Vipula, Ratna và Sona, đến thành Vương xá mới đang xây cất phía bắc tinh xá Venuvana, vì lý do kinh tế, chính trị và quân sự. Vương xá cũ nằm giữa các núi nên đất đai chật hẹp, lại bất tiện cho việc giao thông và phòng thủ. Dường như kế hoạch này cũng đã được vua Bimbisara dự trù từ trước. Ðến bây giờ vua Ajatasattu cũng đang muốn có sự đổi mới, nên đem ra thực hiện.
Sau khi ghé thăm và ở lại Venuvana hai ngày để khuyến khích và chỉ dạy thêm cho tăng chúng, Phật và Thượng tọa Ananda đi lên núi Griddhakuta (Linh-Thứu). Qua hôm sau y sĩ Jivaka đến thăm Phật. Ông kể cho Phật nghe những chuyện đã xảy ra tại Rajagriha. Ông nói hiện nay thái hậu Videhi đã tìm lại được nếp sống an bình. Bà ăn chay trường, siêng năng niệm Phật A-Di-Ðà, thực tập thiền quán, và thường lui tới tinh xá Venuvana để cúng dường tam bảo và học hỏi giáo pháp. Vua Ajatasattu bị ám ảnh bởi cái chết của thượng hoàng, bị lương tâm cắn rứt ngày đêm, tinh thần trở nên suy nhược, hay giựt mình, mất bình tĩnh và thường nằm mơ thấy những cơn ác mộng, lúc tỉnh dậy mồ hôi ra đầm đìa. Y sĩ thường đến chữa trị cho vua, tới nay phần suy nhược đã giảm, nhưng phần tâm bệnh vẫn chưa an. Vua không còn tiếp xúc với Thượng tọa Devadatta nữa, nhưng cũng không liên lạc với Trúc Lâm. Vua mời các đạo sĩ nổi tiếng của các giáo phái Makkhali Gosaleiputta, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nataputta, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccana và Purana Kassapa đến để tham vấn và chữa trị tâm bệnh. Vị nào cũng muốn làm vừa lòng vua để được hưởng ân huệ, nhưng không vị nào thành công.
Gần đây, vua mời thái hậu vào ăn cơm chung với hoàng hậu Vajira và thái tử Udayibhadda. Thái tử Udayibhadda chưa đầy ba tuổi, hôm đó nhất định đòi đem con chó vào phòng ăn. Ajatasattu chìu con. Nhưng trong bữa ăn, con chó chạy lung tung, chồm cả lên mình thái hậu. Vua hơi ngượng với thái hậu, nói:
– Ðem chó vào phòng ăn thật khó chịu. Nhưng không cho thì thằng bé này khóc chịu không nổi.
Thái hậu nói:
– Con thương con của con nên để cho nó đem chó vào phòng ăn, đâu có gì là lạ. Con có nhớ ngày xưa, cha con vì thương con mà kê miệng hút máu mủ trong ngón tay của con không?
– Con không nhớ, xin thái hậu kể lại cho con nghe.
– Một hôm, ngón tay trỏ của con bị đau và sưng vù lên. Một mụt nhọt đã mọc ngay dưới móng tay, làm nhức nhối khiến con khóc suốt ngày đêm trong ba bốn hôm liền. Cha con sốt ruột, ngày nào cũng ẵm con đặt lên bắp đùi, ngậm ngón tay đau của con trong miệng để truyền hơi ấm qua, hy vọng làm con bớt đau và làm cho mụt nhọt mau mùi, sớm vỡ mủ ra. Ðến khi mụt nhọt chín mùi, cha con dùng miệng hút mủ ra từ từ. Ðến khi hết mủ máu độc rồi, cha con vẫn tiếp tục ngậm ngón tay của con trong miệng, sợ rút ra làm con rát đau. Một lúc sau cha con bị sặc, nuốt luôn máu mủ vào bụng. (Bà vừa nói vừa khóc nức nở) Mẹ nhắc lại chuyện này để con biết ngày xưa cha con thương con như thế nào. Bây giờ con có thương chìu con của con nhiều lắm thì cũng đến như thế là cùng.
Nghe thái hậu Videhi nói đến đó, vua Ajatasattu ôm đầu chạy luôn về phòng, bỏ dở bữa ăn. Thái hậu ngồi khóc thút thít một lúc rồi cũng đi về phòng mình.
Khi Jivaka đến chữa trị cho vua, nghe vua kể lại đủ thứ chuyện, từ chuyện những cơn ác mộng đến chuyện tham vấn các đạo sĩ, nhưng Jivaka vẫn làm thinh không nói gì. Vua hỏi:
– Jivaka, tại sao anh không nói gì hết?
– Tôi không dám có ý kiến về những chuyện riêng tư của bệ hạ. Tôi chỉ xin nói với bệ hạ một điều thôi. Tôi nghĩ chỉ có sa-môn Gotama mới giúp được bệ hạ dứt trừ những uẩn khúc trong tâm. Bệ hạ nên tìm tới đức Phật để được người chỉ dạy.
Im lặng một lúc, vua nói:
– Trẫm sợ sa-môn Gotama còn thù ghét trẫm.
– Bệ hạ đừng nói thế. Sa-môn Gotama không hề thù ghét ai cả. Ðức Phật là thầy của thượng hoàng, và cũng là người bạn thân thiết nhất của thượng hoàng. Bệ hạ tới viếng Phật thì cũng như tới viếng thượng hoàng vậy. Chỉ có đức Phật mới có thể đem lại sự an ổn tinh thần cho bệ hạ. Tài y khoa của tôi không làm nổi điều này. Ðức Phật là bậc y vương có thể chữa lành tất cả các tâm bệnh. Xin bệ hạ đừng ngại, đức Phật thường dạy các đệ tử nên thực hành Từ Bi Hỷ Xả để cứu độ chúng sanh ra khỏi mê lầm và đau khổ, thì không lẽ chính ngài lại không thực hành những điều đó.
Sau cuộc đàm đạo đó, vua Ajatasattu đã chấp nhận sẽ đi thăm Phật.
Phật nói kinh Sa-Môn Quả[21] (Samanna-phala-sutta)
Y sĩ Jivaka Komarabhacca sắp đặt cuộc gặp gỡ giữa vua Ajatasattu và Phật tại vườn xoài của ông ở chân núi Griddhakuta (Linh Thứu). Lần đầu vua tìm đến gặp Phật vào một đêm trăng sáng giữa mùa sen nở, khoảng tháng 10 tháng 11 dương lịch, có quân lính đi hộ tống, và y sĩ Jivaka dẫn đường. Khi gần đến vườn xoài bỗng nhiên vua phát sợ vì thấy cảnh vật yên tĩnh quá. Jivaka có cho vua biết hiện Phật đang cư trú tại vườn xoài của ông với gần một ngàn vị khất sĩ, vậy mà đến đây vua vẫn nghe im lìm không một tiếng động, cũng không thấy bóng dáng ai cả. Vua hỏi:
– Jivaka, có phải anh đang lừa ta vào hiểm địa của kẻ thù chăng?
– Thưa bệ hạ, tôi đâu dám thế. Có lẽ đức Phật và chư tăng đang ở trong giảng đường có đèn sáng đằng kia. Chúng ta hãy đi đến đó. Xin bệ hạ chớ nghi ngại điều chi hết.
Vua xuống voi, đi với Jivaka và một số cận vệ. Tới cửa giảng đường, vua thấy đức Phật đang ngồi trên một pháp tòa cao thuyết giảng, trước mặt có mấy trăm khất sĩ đang ngồi xếp bằng, im lặng, chăm chỉ lắng nghe. Cảnh tượng thật trang nghiêm và đầm ấm. Y sĩ Jivaka bước vào báo tin có vua đến. Ðức Phật bước ra cửa mời vua vào giảng đường, ngồi vào ghế thượng khách. Phật mở lời:
– Thưa Ðại vương, hôm nay Ðại vương đến viếng Như Lai có điều chi cần hỏi, xin ngài cứ tự tiện.
– Bạch Thế Tôn, trẫm chỉ được nghe Thế Tôn giảng đạo có một lần ở hoàng cung, hồi trẫm còn nhỏ. Hôm nay trẫm muốn hỏi Thế Tôn câu này: Tu hành có kết quả lợi ích gì mà trẫm thấy có hằng ngàn, hằng chục ngàn người bỏ nhà cửa, cha mẹ, vợ con đi tu như thế?
– Ðại vương đã hỏi ai câu ấy chưa?
– Trẫm đã hỏi nhiều vị giáo chủ và đạo sư nổi tiếng nhưng chưa có câu trả lời nào làm trẫm vừa lòng cả, kể cả câu trả lời của Thượng tọa Devadatta.
– Ðại vương, hôm nay Như Lai sẽ nói cho Ðại vương nghe về những hoa trái, những lợi ích của sự tu học theo Chánh Pháp. Những hoa trái có thể gặt hái được ngay trong hiện tại, và những hoa trái có thể gặt hái được trong tương lai. Ðại vương không cần phải dùng đến các phương pháp suy luận phức tạp. Ðại vương chỉ cần dùng trực tâm để nhận xét, tức khắc sẽ thấy những hoa trái của sự tu học, rõ ràng như nhìn thấy trái xoài trong lòng bàn tay.
Ðại vương, ví dụ như có một người đang làm tôi tớ cho người ta, phải thức khuya dậy sớm hầu hạ và làm theo mệnh lệnh của chủ; một hôm bỗng có tư tưởng như sau: Chủ là người, mình cũng là người, tại sao mình phải đày đọa mình như thế này? Nghĩ như thế, người ấy từ bỏ thân phận tôi đòi, xin xuất gia, tu theo Chánh Pháp, sống đời phạm hạnh, tinh cần, tỉnh thức, ăn ngày một bữa, tập thiền hành, thiền tọa, đi đứng trang nghiêm, trở nên một vị khất sĩ có uy nghi, có dung hạnh, có đạo đức. Ðại vương nghĩ sao? Biết được vị khất sĩ ấy ngày xưa vốn là thân phận tôi đòi, Ðại vương có gọi người ấy tới và nói “Này người kia, hãy lại đây làm nô bộc cho ta, hãy thức khuya dậy sớm và thi hành mọi mệnh lệnh của ta” hay không?
– Thưa Thế Tôn, trẫm sẽ không làm như vậy, sẽ không nói như vậy. Trái lại trẫm sẽ cung kính đảnh lễ người ấy, mời người ấy ngồi xuống để cúng dường, và sẽ ra lệnh bảo vệ cho người ấy đúng theo luật pháp.
– Ðại vương, đó là hoa trái đầu tiên mà người sa-môn có thể gặt hái được ngay sau khi xuất gia. Người ấy thoát được sự kỳ thị giai cấp, kỳ thị chủng tộc, kỳ thị giàu nghèo, và khôi phục được nhân phẩm của mình.
– Xin Thế Tôn chỉ dạy tiếp.
– Ðại vương, nhân phẩm chỉ là hoa trái đầu tiên của vị sa-môn. Nhờ hành trì 250 giới mà vị sa-môn được an trú trong một trạng thái vô ưu và thanh tịnh. Những người không giữ giới có thể phạm vào các tội lỗi như giết người, trộm cắp, tà dâm, dối gạt, say sưa và tự dấn thân vào những hình phạt đau đớn về thể xác lẫn tinh thần. Vị sa-môn không những giữ năm giới không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không dối gạt, không say sưa, mà còn giữ trên hai trăm giới khác. Nhờ vậy vị ấy luôn luôn sống trong tình trạng an ninh, tinh thần thoải mái; không lo sợ, không ân hận vì không làm điều gì sai quấy; không thất vọng lo buồn vì không tham cầu mong muốn. Ðó là một loại hoa trái khác mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
– Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp.
– Ðại vương, vị sa-môn không có tài sản hoặc vật sở hữu gì có giá trị ngoài ba chiếc áo cà-sa và một bình bát. Do đó không có gì để sợ mất, sợ cướp. Không gây thù oán nên không sợ bị ai ám hại. Do đó có thể ngủ một mình trong rừng, dưới một gốc cây trong sự thanh thản, vô ưu, lặng lẽ. Không lo sợ là một hạnh phúc lớn. Ðó là một loại hoa trái khác mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
– Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp.
– Ðại vương, vị sa-môn do biết thiểu dục tri túc (ít muốn, biết đủ) nên có nếp sống đơn giản tới mức tối đa. Mỗi ngày chỉ ăn một bữa, không nhà cửa ruộng vườn, không màng giàu sang danh vọng, nên được thong dong, tự tại, thảnh thơi. Sự thảnh thơi là một hạnh phúc lớn. Ðó cũng là một loại hoa trái mà vị sa-môn có thể gặt hái ngay trong đời hiện tại.
– Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp cho trẫm.
– Ðại vương, nếu Ðại vương biết quán niệm hơi thở, biết thực tập thiền quán, thì Ðại vương mới có được ý niệm về hạnh phúc của người tu. Hạnh phúc đó là sự thiền duyệt. Nhờ thiền duyệt, vị sa-môn biết cách giữ gìn sáu căn thanh tịnh, không bị sáu trần gây ra phiền não và ô nhiễm trong tâm. Nhờ thiền duyệt, vị sa-môn được tâm hỷ lạc, một niềm vui đầy an lạc, thanh tịnh, siêu thoát, từ sơ thiền đến tứ thiền. Tâm hỷ lạc này còn có một năng lực kỳ diệu trị lành các chứng bệnh suy nhược của cơ thể và tinh thần. Ðây là loại hoa trái quí báu của sự tu học mà vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.
– Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài chỉ dạy tiếp cho trẫm.
– Ðại vương, vị sa-môn nhờ an trú tinh cần trong giới luật và chánh niệm mà có định tâm. Dùng năng lực của tâm định, quán chiếu vạn pháp trên thế gian, thấy được tính cách vô thường, vô ngã của muôn vật. Nhờ thấy được tính cách vô thường và vô ngã của muôn vật nên không bị ràng buộc, vướng mắc vào bất cứ sự vật nào trên thế gian. Nhờ không bị vướng mắc nên được giải thoát, thảnh thơi, tự tại. Ðại vương, giải thoát mới là hạnh phúc chân thật, trường tồn, không bao giờ mất, là hoa trái quí báu nhất của sự tu học. Trong số những vị khất sĩ ngồi trong giảng đường này, nhiều vị đã thưởng thức được thứ hoa trái quí báu đó. Ðó cũng là loại hoa trái mà một vị sa-môn có thể gặt hái được ngay trong đời hiện tại.
– Hay lắm! Thưa Thế Tôn, xin ngài hoan hỷ chỉ dạy tiếp.
– Ðại vương, vị sa-môn nhờ giữ gìn giới luật mà tâm được định, nhờ tâm định mà phát sinh trí huệ rộng lớn. Rồi dùng trí huệ bát-nhã đó mà quán chiếu sâu vào tự tánh các pháp, thấy tự tánh của muôn sự muôn vật đều không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm, do đó mà được cái thấy biết thanh tịnh, sáng suốt, không phân biệt. Nhờ dứt trừ được mọi ý thức phân biệt, nên vị sa-môn nhìn đời bằng con mắt bình tĩnh, không lo lắng, không sợ hãi, cỡi trên sóng sinh tử mà an nhiên tự tại đi vào cuộc đời để cứu độ chúng sanh, chỉ bày cho chúng sanh con đường chánh pháp, để chúng sanh cũng được nếm hương vị giải thoát. Ðại vương, giúp đỡ cho người khác hết khổ được vui cũng là một niềm vui lớn cho chính mình. Niềm vui này cũng là một loại hoa trái xinh tươi của sự tu học, vị sa-môn có thể thực hiện được phần nào trong hiện tại và sẽ tiếp tục thực hiện trong tương lai. Ðại vương, các vị khất sĩ trong khi đi khất thực hằng ngày, có nhiệm vụ hướng dẫn dân chúng đi trên con đường đạo đức, hành động theo chánh pháp để được hạnh phúc giải thoát. Ðại vương, hoa trái của sự tu học không phải chỉ dành riêng cho vị sa-môn hưởng thụ mà là gia tài của cả quốc gia và nhân loại.
Vua Ajatasattu đứng dậy, chấp hai tay cung kính bạch:
– Vi diệu thay! Bạch Thế Tôn, bằng những lời đơn giản, Thế Tôn đã soi sáng cho trẫm, đã giúp trẫm thấy được giá trị chân thật của Chánh Pháp. Thế Tôn đã dựng lại những gì đã ngã xuống, phơi bày những gì đã bị che kín, chỉ đường cho người lạc lối, soi sáng nơi tối tăm. Xin Thế Tôn hoan hỷ nhận trẫm làm đệ tử tại gia của người, cũng như ngày xưa Thế Tôn đã nhận thượng hoàng và thái hậu làm đệ tử của Thế Tôn vậy.
Nói xong, vua Ajatasattu cung kính đảnh lễ dưới chân Phật. Phật mỉm cười chấp thuận, rồi bảo Thượng tọa Sariputta hướng dẫn vua và hoàng hậu làm lễ quy y tam bảo và thọ trì năm giới. Sau lễ quy y, vua từ tạ Phật, xin phép trở về cung. Phật bảo:
– Ðại vương hãy làm những gì Ðại vương nghĩ là phải làm.
Sau lần gặp gỡ đó, vua Ajatasattu thường đến thăm Phật mà không cần qua sự sắp đặt của y sĩ Jivaka nữa. Vua cũng không cần đem theo voi ngựa và binh sĩ hộ tống. Vua Ajatasattu cũng lại bước lên những bậc thang đá để lên núi Griddhakuta như vua Bimbisara ngày xưa. Kể từ nay vua Ajatasattu cũng trở thành người hộ pháp rất đắc lực của Phật như vua Bimbisara trước kia.
Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa[22]
Sau vài ngày nghỉ ngơi dưỡng sức, đức Phật bảo Thượng tọa Ananda và các đại đệ tử thông báo rộng rãi cho các vị khất sĩ ở các vùng lân cận tập họp về Linh Thứu để nghe một bài pháp rất quan trọng.
Hôm ấy, cả vùng núi Griddhakuta (Linh Thứu) đông như hội chợ. Có mười hai ngàn khất sĩ A-la-hán mặc áo cà-sa vàng rực rỡ, hai ngàn khất sĩ thuộc bậc hữu học và vô học, tám mươi ngàn Bồ-tát bất thối chuyển từ các cõi Phật, hai mươi ngàn thiên thần từ các cõi Trời và Long cung, vua Ajatasattu (A-Xà-Thế) cùng các đại thần, thân hào nhân sĩ và hoàng tộc đều tựu hội đến nghe pháp.
Khởi đầu đức Phật nói vắn tắt kinh “Vô-Lượng-Nghĩa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm” cho các vị Bồ-tát nghe. Rồi đức Phật ngồi kiết già, nhập chánh định “Vô lượng nghĩa xứ”, thân và tâm của Phật đều không lay động. Trời bắt đầu mưa hoa Mạn-đà-la (Mandara) và hoa Mạn-thù-sa (Manjusaka), khắp cõi Phật vang động. Ðức Phật từ giữa hai chặn lông mày trắng phóng ra một đạo hào quang chiếu khắp mười tám ngàn cõi phương đông, phía dưới đến địa ngục A-tỳ và phía trên đến cõi trời Sắc-cứu-cánh. Tất cả thính chúng đều vui mừng được thấy việc chưa từng có, chắp tay cung kính nhìn Phật, chờ nghe diệu pháp.
Ðức Phật từ trong chánh định, bảo ngài Sariputta:
– Này Sariputta, trí huệ của chư Phật[23] rất sâu xa, khó thấy, khó hiểu, khó vào. Tất cả hàng Thanh-văn cùng Duyên-giác đều không biết được. Từ khi ta thành Phật đến nay chỉ rộng dùng phương tiện giảng nói nhân duyên, bốn sự thật, tám hành động chơn chánh, 37 phẩm trợ đạo … để dìu dắt chúng sanh xa lìa mê chấp. Thật ra, để tỏ bày tri kiến thâm diệu của chư Phật, Như Lai chưa từng nói một lời. Ngoài chư Phật ra, không ai có thể hiểu nổi.
– Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta nói, xin Thế Tôn hoan hỷ chỉ bày tri kiến thâm diệu của chư Phật. Con tin rằng trong pháp hội này có rất nhiều người đã trồng căn lành từ nhiều đời nhiều kiếp sẽ hiểu được và vui mừng tin thọ.
– Thôi thôi! Này Sariputta, nếu nói việc đó ra thì tất cả trời, người, a-tu-la (asura) đều sẽ kinh sợ và nghi ngờ, tỳ-kheo tăng thượng mạn sẽ bị đọa lạc.
Ðức Phật nói đến đây thì trong thính chúng có năm nghìn người đứng lên xá Phật rồi ra về. Họ nghĩ rằng mình đã theo Phật tu học mấy chục năm nay, đã đắc thánh quả A-la-hán, hết phiền não, được niết-bàn, sao hôm nay đức Phật lại xem thường mình đến thế, mình đâu cần phải học thêm gì nữa. Ðức Phật ngồi yên không ngăn cản. Khi hội trường trở lại yên lặng, đức Phật nói tiếp:
– Này Sariputta, bây giờ thì Như Lai có thể nói được rồi, vì bọn người tăng thượng mạn, chưa chứng mà cho đã chứng, đã rời khỏi hội trường, chỉ còn lại những người đã được trí huệ thanh tịnh. Quí vị hãy chăm chỉ lắng nghe, Như Lai sẽ vì quí vị mà giảng nói.
Này Sariputta, các đức Phật Thế Tôn ra đời đều chỉ vì một đại sự nhân duyên là “khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật”. Chư Phật đều dùng vô lượng phương tiện, nhân duyên, thí dụ để dẫn dắt chúng sanh đến Phật thừa. Nhưng vì Phật thừa rất thậm thâm vi diệu khó hiểu nên mới phân biệt nói thành ba thừa[24]. Cũng như con đường dài được chia ra làm nhiều chặng để cho người đi không ngại dài lâu mỏi mệt. Nhưng đến mỗi trạm nghỉ ngơi, người đi phải biết là cần phải đi thêm nữa mới đến đích. Cũng thế, tuy đến nay đa số quý thầy đã đến quả vị A-la-hán, hết phiền não, vượt khỏi sanh tử, an hưởng niết-bàn, nhưng như thế chưa đủ, quý thầy cần phải tinh tấn thêm nữa để đạt đến mục đích tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại nữa, nếu ai thấy mình đã được thánh quả thì đúng là kẻ tăng thượng mạn, vì bậc thánh nhân đã thật sự dứt trừ ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, không còn thấy có ngã và ngã sở thì làm gì còn thấy có chứng đắc.
– Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Sariputta nói, con từ xưa đến nay theo hầu Phật, chưa từng được nghe pháp vô thượng thừa như thế này. Hôm nay được nghe Phật nói pháp vô thượng, con rất vui mừng, xin tin nghe và ghi nhớ.
– Này Sariputta, hôm nay Như Lai sẽ vì chúng Thanh văn mà nói kinh đại thừa tên là “Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ-Niệm”. Này Sariputta, đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghì kiếp, sau khi cúng dường nhiều nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát, thầy sẽ thành Phật hiệu là Hoa-Quang Như Lai.
Kế đến, đức Phật lại thọ ký cho Thượng tọa Maha-Kassapa (Ma Ha Ca Diếp) sẽ thành Phật hiệu là Quang-Minh Như Lai, Thượng tọa Subhuti (Tu Bồ Ðề) sẽ thành Phật hiệu là Danh-Tướng Như Lai, Thượng tọa Maha Kaccana (Ma Ha Ca Chiên Diên) sẽ thành Phật hiệu là Diêm-Phù-Na-Ðề-Kim-Quang Như Lai, Thượng tọa Moggallana (Mục Kiền Liên) sẽ thành Phật hiệu là Ða-Ma-La-Bạt-Chiên-Ðàn-Hương Như Lai, Thượng tọa Punna Mantaniputta (Phú-Lâu-Na Mãn Từ Tử) sẽ thành Phật hiệu là Pháp-Minh Như Lai, Thượng tọa Kondanna (Kiều Trần Như) sẽ thành Phật hiệu là Phổ-Minh Như Lai. Rồi Phật theo thứ lớp thọ ký cho cả 1200 vị đệ tử A-la-hán đều sẽ thành Phật. Tiếp đến, đức Phật lại thọ ký cho Ananda, Rahula và hai nghìn người thuộc hàng hữu học và vô học đều sẽ thành Phật.
Năm trăm vị A-la-hán vừa được Phật thọ ký xong, vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật đảnh lễ rồi thưa rằng:
– Bạch Thế Tôn, chúng con thường có ý nghĩ cho rằng mình đã được rốt ráo diệt độ. Ðến nay mới biết đó là người vô trí. Chúng con cần phải tinh tấn nhiều hơn nữa mới được trí huệ của Như Lai.
Tất cả thính chúng nghe Phật thọ ký cho trên ba ngàn người sẽ thành Phật, đều vui mừng, được điều chưa từng có. Họ tin chắc rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, và con đường tu tập Chánh Pháp tuy có dài lâu, cần nhiều kiên trì và tinh tấn, nhưng cứ tiến tu thì nhất định sẽ đến mục đích tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Lúc bấy giờ đức Phật quay sang nói với Bồ-tát Dược Vương:
– Này Dược Vương, trong đại chúng đây, từ hàng chư Thiên cho đến hàng tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đã tùy hỷ ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Như Lai đều thọ ký cho sẽ đặng vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nếu sau này có người cung kính thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, dù chỉ có một bài kệ, ông nên biết đó là người sẽ thành Phật.
Này Dược Vương, nếu có người thiện nam, tín nữ nào, sau khi Như Lai diệt độ, muốn vì bốn chúng[25] mà nói kinh Pháp Hoa này cho đúng cách, thì người đó phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này[26]. Nhà Như Lai chính là tâm từ bi rộng lớn đối với tất cả chúng sanh. Áo Như Lai chính là tánh nhu hòa, nhẫn nhục. Tòa Như Lai chính là “tất cả pháp đều không”. Khi có người nói kinh Pháp Hoa như thế thì Như Lai dù đang ở đâu cũng sẽ sai thiên thần, hộ pháp, hóa nhân đến ủng hộ người đó về mọi phương diện.
Ðức Phật vừa nói đến đây thì có tháp bằng bảy báu cao 500 do tuần (10.000 km), rộng 250 do tuần (5.000 km) từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không[27]. Tháp được trang trí toàn bằng châu báu cực kỳ lộng lẫy trang nghiêm, hương thơm ngào ngạt cùng khắp … Bảo tháp này, như một bức tranh siêu thực, hiển bày đầy đủ thể, tướng, dụng của “tri kiến Phật” một cách bình đẳng cho tất cả thính chúng trong hội đều thấy Phật tánh trang nghiêm, quí báu, thanh tịnh, diệu dụng, không thể nghĩ bàn, ở khắp cả không gian và thời gian. Nhưng chỉ những ai trụ vào “hư không”[28] mới có thể trông thấy rõ ràng được, còn những người thấp bé thì phải nhờ thần lực của đức Phật đưa lên “hư không” mới có thể nhìn thấy. Ðức Phật lớn tiếng tuyên bố:
– Ở trong cõi Ta-bà này, ai có thể rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa thì Như Lai sẽ đem kinh phó chúc cho người đó, vì không còn bao lâu nữa Như Lai sẽ nhập Niết-bàn.
Tất cả thính chúng vừa thấy được Pháp Thân của Phật Ða Bảo (thể) cùng ngồi chung một tòa với Báo Thân của Phật Thích Ca (tướng) trong tháp bảy báu[29], xung quanh có vô số ứng hóa thân Phật Thích Ca (dụng), vừa nghe Phật tuyên bố phó chúc kinh, đều phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Ðức Phật dạy muốn thọ trì kinh Pháp Hoa cho có hiệu quả nhanh chóng và tốt đẹp thì người trì kinh phải từ nơi Phật tánh của mình mà phát tâm[30] trì kinh và đồng thời phải tu các hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục[31], tinh tấn, thiền định và trí huệ[32]. Công đức của người trì kinh Pháp Hoa như thế thật rất thù thắng vô lượng vô biên, mau đến bậc nhất thiết chủng trí. Lại nữa, người trì kinh như thế sẽ sớm được sáu căn thanh tịnh, mỗi căn đều viên mãn công đức[33].
Khi thấy thính chúng đã dũng mãnh phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, đức Phật bèn kể lại gương sáng của những vị Bồ-tát đã thọ trì kinh Pháp Hoa như Bồ-tát Dược Vương, Bồ-tát Diệu Âm, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Phổ Hiền. Trong mỗi câu chuyện, đức Phật đều nêu rõ phương pháp trì kinh Pháp Hoa của những vị Bồ-tát đó, và những lợi ích thù thắng không thể nghĩ bàn của việc trì kinh Pháp Hoa.
Tất cả thính chúng từ hàng đại Bồ-tát đến hàng cư sĩ được nghe Phật thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa đều vui mừng không xiết, biết rằng mình đã sẵn có Phật tánh, đều phát tâm thọ trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa, và nguyện sẽ dõng mãnh tinh tấn tu hành cho đến mục tiêu tối hậu là Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Cuối mùa an cư năm ấy, y sĩ Jivaka xin xuất gia, ông được 55 tuổi, được Phật ban cho pháp tự là Vimala Kondanna.
Khi mùa an cư hoàn mãn, Phật tiếp tục ở lại Griddhakuta tịnh dưỡng dưới sự chăm sóc của y sĩ Jivaka. Sức khỏe của Phật được hồi phục rất nhiều. Ðến mùa xuân, Phật lại lên đường đi hoằng hóa về phương bắc, rồi lần hồi trở về Jetavana để nhập hạ thứ 43.
21- Hạ 43 tại Jetavana (năm -547)
Ni-sư Pajapati và Thượng tọa Rahula viên tịch
Mùa mưa năm nay, Phật an cư tại tinh xá Jetavana. Giáo đoàn khất sĩ được hai tin buồn: ni sư Pajapati Gotami đã viên tịch vào mùa đông năm ngoái (-548) tại Vesali, thọ 117 tuổi, vài tháng sau Thượng tọa Rahula cũng đã viên tịch tại Jetavana, thọ 48 tuổi. Thượng tọa Rahula nổi tiếng là vị khất sĩ mật hạnh[34] đệ nhất. Sự ra đi của thầy làm cho mùa an cư giảm đi phần nào sinh khí. Nhất là thầy Svastika cảm thấy bị mất mát rất nhiều. Thầy mất đi một người bạn đạo tinh cần để ý nhắc nhở và hướng dẫn thầy từng ly từng tí. Hiện nay khách hành hương còn thấy di tích tháp thờ xá lợi của Thượng tọa Rahula (tháp số 12) tại Jetavana, cạnh vòng rào phía nam.
Vua Pasenadi giết oan tướng Bandhula
Vua Pasenadi đi du hành mãi tới giữa mùa an cư mới trở về thủ đô. Vừa về tới Sravasti, vua Pasenadi liền đến tinh xá Jetavana thăm Phật. Vua nói với Phật là vì tuổi đã cao, không thích ở hoài trong cung điện, nên vua thường hay đi đây đi đó để tinh thần được thoải mái và có dịp thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên. Vua giao công việc triều chính cho các quan đại thần, chỉ đem theo một đoàn tùy tùng nhỏ để đi du ngoạn các nơi trong và ngoài nước. Trong dịp này vua được rảnh rang để thực tập thiền quán, vui thú cảnh nhàn. Vua Pasenadi nói tiếp:
– Thưa Thế Tôn, trẫm năm nay đã 77 tuổi. Thế Tôn cũng vậy. Trẫm nghe nói gần đây Thế Tôn cũng thường đi du ngoạn các nơi danh lam thắng cảnh. Nhưng đi đến đâu Thế Tôn cũng mang ánh sáng chánh pháp đến dạy dỗ và hướng dẫn cho mọi người tu học. Còn trẫm đi du ngoạn thì chỉ được an nhàn, lợi lạc phần mình.
Rồi vua tâm sự với Phật về nỗi đau buồn thầm kín của mình từ nhiều năm nay. Số là do mật tin có âm mưu đảo chính tại kinh đô 5 năm về trước, sau khi chiến thắng quân đội của Ajatasattu, vua Pasenadi đã kết tội lầm vị tổng tư lệnh quân đội hoàng gia là tướng Bandhula và đã xử tử ông. Gần một năm sau vua mới biết là mình lầm. Vua hối hận lắm. Tướng Bandhula vừa là người bạn học cũ của vua ở Taxashila, vừa là người đã có công lớn trong cuộc chiến thắng quân đội Magadha. Vua đã tìm mọi cách để phục hồi danh dự cho tướng Bandula và bồi thường thiệt hại cho gia đình ông. Ngoài ra vua cũng đã cất nhắc cháu của ông là tướng Karayana lên chức tổng tư lệnh quân đội hoàng gia.
Có Phật an cư tại thủ đô, vua Pasenadi thường đến tinh xá Jetavana hầu như mỗi ngày để nghe thuyết pháp, hoặc nghe Phật chỉ điểm thêm những chỗ khó hiểu cho các khất sĩ, hoặc để thực tập thiền tọa và thiền hành. Mãn mùa an cư, Phật lại lên đường hoằng pháp, và vua cũng lại cùng đoàn tùy tùng đi tuần du khắp nơi.
[1] Ba ác đạo là giết cha mẹ, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu.
[2] A-tăng-kỳ kiếp (asamkhya kalpa). Asamkhya là số rất lớn khó tính đếm được (10 lũy thừa 47). Kalpa (kiếp) là đơn vị thời gian rất dài. A-tăng-kỳ kiếp là khoảng thời gian rất lâu dài khó tính đếm được.
[3] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 208-209.
[4] Xem Majjhima-nikaya 45, 75.
[5] Xem Majjhima-nikaya 143: Anathapindikovada-sutta; Trung A-Hàm 28.
[6] Xem Digha-nikaya 31: Singalovada-sutta; Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 16; Trường A-Hàm, quyển 11: kinh Thiện Sinh.
[7] Quán chiếu: suy nghĩ chính chắn để biết rõ ràng.
[8] Giác ngộ: biết rõ chân lý.
[9] Giải thoát: ra khỏi mọi sự ràng buộc, đau khổ về vật chất cũng như về tinh thần.
[10] Mê lầm: hiểu biết không đúng sự thật, không đúng chân lý.
[11] Phiền não: trạng thái tâm lý xáo trộn như vui, buồn, thương, ghét, giận, tham …
[12] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 89; Trung A-Hàm 153.
[13] Phạm hạnh: giữ giới luật trong sạch.
[14] Tỉnh thức: giữ tinh thần sáng suốt, 6 căn thanh tịnh.
[15] Vọng niệm: những ý niệm hoặc tư tưởng không đúng sự thật, không đúng chân lý.
[16] Tạp niệm: những ý niệm hoặc tư tưởng lăn xăng, tán loạn, làm mất chánh định và chánh niệm.
[17] Xem Majjhima-nikaya 143.
[18] Xem Samyutta-nikaya III.14-15.
[19] Xem Buddhist Legends, quyển III, trang 73.
[20] Xem Digha-nikaya 5: Kutadanta-sutta.
[21] Xem Digha-nikaya 2: Samannaphala-sutta; Trường A-Hàm 27.
[22] Kinh Diệu Pháp Liên Hoa = Saddharma-Pundarika sutra.
[23] Trí huệ của chư Phật cũng có nghĩa là Phật tánh sẵn có của chúng ta.
[24] Ba thừa: Thinh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ-tát thừa.
[25] Bốn chúng là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc (thiện nam), Ưu-bà-di (tín nữ).
[26] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 10 “Pháp sư”.
[27] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 11 “Hiện bửu tháp”.
[28] “Trụ vào hư không” ở đây có nghĩa bóng là “có tâm rổng rang thanh tịnh như hư không”.
[29] Tháp bảy báu tượng trưng cho chơn tánh của muôn vật đều do bảy yếu tố căn bản (thất đại) là đất, nước, gió, lửa, thức, trí và hư không.
[30] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 15 “Tùng địa dõng xuất”.
[31] Bố thí thì được pháp không; trì giới thì được thanh tịnh; nhẫn nhục thì được ngã không.
[32] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 17 “Phân biệt công đức”.
[33] Xem kinh Pháp Hoa, phẩm 19 “Pháp sư công đức”.
[34] Mật hạnh là nghiêm cẩn giữ gìn tất cả các giới hạnh, gồm 3.000 oai nghi và 84.000 tế hạnh.

BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC

About Đoàn, Thoại MD

Chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn phiền não, thì Đức Phật cũng chỉ bày 8 vạn bốn ngàn pháp môn đối trị. Hãy chọn ít nhất một Pháp môn và luôn tự lỗ lực bản thân, không một ai có thể giúp bạn rũ bỏ những điều bất tịnh. Ngay cả chư Phật và Bồ tát cũng không thể giúp bạn được. Các Ngài chỉ giống như tấm bảng chỉ đường và hướng dẫn bạn mà thôi | As the living have 84,000 delusions, so the Buddha provides 84,000 methods of dealing with them. Please choose a minimum of them for practicing. Always make of yourself and that no one else can help you to rid yourself of impurity. Even the Buddhas and Bodhisattvas are of little help because they only serve as masters to guide you.

Leave a comment

Your email address will not be published.


*